Nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa các trường đại học khối kinh tê và doanh nghiệp trên địa bàn hà nội - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác. Tác giả Phạm Văn Nam
LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và các thầy, cô giáo
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Kinh tế và Quản lý Nguồn nhân lực, Viện
Sau đại học. Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS. TS.
Vũ Hoàng Ngân và TS. Phạm Thị Bích Ngọc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác
giả hoàn thành luận án.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo trường đại học Thương Mại đã cho
phép tác giả đến tìm hiểu và nghiên cứu thực tế tại trường. Xin trân trọng cảm ơn
Lãnh đạo các trường đại học khối kinh tế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt

HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ
VÀ DOANH NGHIỆP 13
1.1. Một số vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo trình độ đại học 13
1.1.1. Khái niệm về chất lượng và đào tạo 13
1.1.2. Các quan điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học 15
1.2. Một số vấn đề lý luận về hợp tác nhà trường và doanh nghiệp 18
1.2.1. Khái niệm về hợp tác 18
1.2.2. Các hình thức hợp tác 19
1.2.3. Mối liên hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp 21
1.3. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua
hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp ở một số quốc gia 22
1.3.1. Kinh nghiệm của Singapore 22
1.3.2. Kinh nghiệm của Mỹ 32
1.4. Phát triển mô hình nghiên cứu từ lý thuyết 38
1.4.1. Một số lý thuyết nền trong các nghiên cứu trước 38
1.4.2. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 50
Chương 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 51
2.1. Quy trình nghiên cứu 51
2.2. Nghiên cứu định tính 52
2.1.1. Mục tiêu phỏng vấn sâu 52
2.1.2. Phương pháp thực hiện phỏng vấn sâu 52
2.3. Nghiên cứu định lượng 54 2.3.1. Thiết kế mẫu 54
2.3.2. Thu thập số liệu 55
2.3.3. Phân tích số liệu 56
2.4. Kết quả phân tích và kiểm định mô hình 59
2.4.1. Mô tả mẫu nghiên cứu 59

3.4.3. Tác động của Chương trình đào tạo 113 3.4.4. Tác động của Chất lượng đội ngũ giảng viên 113
3.4.5. Tác động của Quản lý đào tạo 114
3.4.6. Tác động của Kiểm soát chất lượng đào tạo 114
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 117
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP. 118
4.1. Một số giải pháp 118
4.1.1. Đổi mới chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của các doanh
nghiệp 118
4.1.2. Tăng cường cơ sở vật chất 119
4.1.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 119
4.1.4. Đổi mới về quản lý đào tạo 120
4.1.5. Cải tiến kiểm tra chất lượng đào tạo 121
4.1.6. Hợp tác nhà trường và doanh nghiệp 121
4.2. Khuyến nghị 123
4.2.1. Với cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo 123
4.2.2. Với các trường đại học khối kinh tế 124
4.2.3. Với doanh nghiệp 126
PHẦN KẾT LUẬN 128
1. Tổng kết các kết quả đạt được của luận án 128
2. Những hạn chế của luận án và kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo 130
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
PHỤ LỤC 139



Bảng 2.8. Độ tin cậy của biến: Tham gia đào tạo TRA 64

Bảng 2.9. Độ tin cậy của biến: Hỗ trợ tài chính FIN 64

Bảng 2.10. Độ tin cậy của biến: Cơ sở vật chất INS 64

Bảng 2.11. Độ tin cậy của biến: Quản lý đào tạo MAN 64

Bảng 2.12. Độ tin cậy của biến: Kiểm soát chất lượng đào tạo COT 65

Bảng 2.13. KMO và Bartlett's Test với biến phụ thuộc 65

Bảng 2.14. Ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrixa) 65

Bảng 2.15. Tổng biến động các thang đo (Total Variance Explained) 67

Bảng 2.16. Ma trận hệ số tương quan (với biến phụ thuộc QUA) 68

Bảng 2.17. Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 69

Bảng 2.18. Kiểm định ANOVA phương sai trung bình giữa các nhóm 69

Bảng 2.19. Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo70

Bảng 2.20. Tóm tắt kiểm định giả thuyết 71

Bảng 2.21. Hệ số xác định sự phù hợp của mô hình 74

Bảng 3.1. Số lượng cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam 81

Hình 2.2. Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 54DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Ý kiến DN về việc thường xuyên nhận SV đến thực tập từ các trường
đại học khối kinh tế 93

Biểu đồ 3.2. Ý kiến DN về việc tuyển dụng SV kinh tế đã thực tập tại DN 94

Biểu đồ 3.3. Ý kiến CBQL, GV về thực trạng tham gia của DN vào quá trình đào
tạo của nhà trường 108

Biểu đồ 3.4. Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 116
DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1. Ý kiến của DN chất lượng đào tạo 89

Hộp 3.2. Hiệu quả khóa thực tập của sinh viên 93

Hộp 3.3. Hợp tác, liên kết giữa nhà trường và DN 95

Hộp 3.4. Xây dựng chương trình đào tạo 100

Hộp 3.5. NT cần có sự hỗ trợ của DN về tài chính 100

Hộp 3.6. Đào tạo theo đơn đặt hàng 101

Hộp 3.7. Tăng cường thực tập tại DN 101

GD-ĐT : Giáo dục-Đào tạo
GDĐH : Giáo dục đại học
GV : Giảng viên
KH : Khách hàng
KH-TC : Kế hoạch - tài chính
LLLĐ : Lực lượng lao động
NCKH : Nghiên cứu khoa học
NCL : Ngoài công lập
NCXH : Nhu cầu xã hội
NL : Nhân lực
NT : Nhà trường
NSX : Nhà sản xuất
SP : Sản phẩm
SX-KD : Sản xuất-Kinh doanh
SV : Sinh viên
TGĐ : Tổng Giám Đốc
HĐQT : Hội đồng quản trị
VCCI : Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam 1
PHẦN MỞ ĐẦU VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1. Giới thiệu đề tài
Sự hình thành ý tưởng nghiên cứu: Vấn đề chất lượng đào tạo của sinh viên
sau khi ra trường là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý và toàn xã hội.
Trước thực tế, các sinh viên tốt nghiệp tìm được việc phù hợp là không dễ dàng,
sinh viên tốt nghiệp phải có năng lực chuyên môn có thể đáp ứng được yêu cầu của
cơ quan tuyển dụng. Các trường đại học nói chung và trường đại học khối kinh tế

hưởng của các yếu tố hợp tác trên cơ sở kết quả kiểm định thực nghiệm trên 176
doanh nghiệp (thành viên của VCCI ) trên địa bàn Hà Nội từ đó các bên liên quan
thấy rõ sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua
hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Luận án cho rằng, mối quan hệ hợp tác
giữa nhà trường và doanh nghiệp là điều có ý nghĩa rất quan trọng, được coi là động
lực cốt yếu để nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học khối kinh tế đáp ứng
nhu cầu xã hội. Luận án xác định và chỉ ra mức độ tác động cụ thể của từng yếu tố
ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, từ đó giúp nhà trường và doanh nghiệp kiểm
soát các yếu tố này theo tỷ lệ tác động để nâng cao chất lượng đào tạo. Nhà nước
cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, gắn chặt giữa nhà trường với doanh
nghiệp từ việc xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, tham gia đào tạo, hướng
dẫn thực hành, thực tập đến việc hỗ trợ cơ sở vật chất thông qua các hợp đồng. Nhà
trường coi doanh nghiệp như là những khách hàng đặc biệt, vừa tham gia tiêu dùng,
vừa tham gia sản xuất. Các trường đại học cần chủ động hơn nữa trong việc xây
dựng các mối quan hệ với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp cùng với nhà trường tổ
chức các diễn dàn nghề nghiệp, tuyển dụng, quảng bá thông tin tuyển dụng, đặt
hàng trường đại học trong việc đào tạo.
2. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây ngành giáo dục và các trường ĐH, CĐ đã triển
khai một số biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo. Năm 2004 Bộ GD-ĐT đã
thành lập Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục, hướng dẫn các trường tự
đánh giá chất lượng đào tạo. Triển khai chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội bằng
các hội thảo quốc gia đào tạo nhân lực cho các ngành kinh tế chủ lực như công nghệ
thông tin, đóng tàu, tài chính - ngân hàng, du lịch, chế biến nông sản, y tế, qua đó có
hơn 600 hợp đồng, thỏa thuận đào tạo đã được ký kết giữa các trường ĐH, CĐ và
các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước. Mặc dù các giải pháp nói trên là đúng 3
đắn, song thực tế chưa tạo được chuyển biến đáng kể trên diện rộng trong việc nâng
4
Công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta được tiến hành năm 1986 từ Đại hội
Đảng lần thứ VI. Đi cùng với sự nghiệp đổi mới, nền giáo dục nước ta cũng đã có
sự thay đổi đáng kể, trong đó có hệ thống đào tạo khối các trường kinh tế. Từ cơ
chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
việc đào tạo đại học khối các trường kinh tế gần như đã được thay đổi cơ bản về nội
dung, chương trình, giáo trình, cơ cấu ngành nghề và chuyên ngành đào tạo [4].
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu của bước ngoặt lịch sử, khi nước ta đã chính
thức gia nhập WTO, việc đào tạo trình độ đại học khối các trường kinh tế đang
đứng trước những thách thức lớn. Chúng ta cần tiếp tục đổi mới đào tạo trình độ đại
học khối các trường kinh tế để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của nền kinh tế thị
trường khu vực và thế giới [16]. Yêu cầu hội nhập kinh tế của nước ta với WTO,
AFTA là phải cạnh tranh với các nước có nền giáo dục chất lượng cao, hiện đại
nhưng các cơ sở giáo dục đại học khối kinh tế lại chưa theo kịp về nội dung chương
trình, trang thiết bị. Hơn nữa, yêu cầu của thị trường lao động cạnh tranh lớn cả thị
trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế nhưng đào tạo chưa đáp ứng yêu
cầu xã hội về chất lượng [10].
Trong quá trình đổi mới, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, các trường đại học khối kinh tế đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp
đào tạo nguồn nhân lực. Nhưng trong giai đoạn mới khi nước ta gia nhập WTO,
việc đào tạo trình độ đại học lại đứng trước những thử thách lớn, đòi hỏi các trường
đại học khối kinh tế phải đối mặt để vượt qua [20].
Nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế. Nguồn nhân lực con người với tiềm năng là tri
thức là lợi thế cạnh tranh của các công ty, ngành và nền kinh tế [15]. Cùng với việc
trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới, Việt Nam như một
con rồng châu Á đang vươn mình với nhiều lợi thế như tốc độ kinh tế cao, nguồn
nhân lực dồi dào trong đó có đến 50% lao động trẻ đưới 30 tuổi [18]. Tuy nhiên,

trường đại học khối kinh tế và doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội” ngoài việc
đóng góp thực tiễn còn đóng góp về lý luận nhằm hoàn thiện hơn nữa các khái
niệm chất lượng, chất lượng đào tạo, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và hợp
tác đào tạo.
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Các nghiên cứu nước ngoài:
Trong nghiên cứu của mình Harvey & Green (1993) cho rằng chất lượng đào
tạo trình độ đại học được thể hiện ở các khía cạnh: (1) Sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu 6
tú, xuất sắc; (2) Sự hoàn hảo; (3) Sự phù hợp, thích hợp; (4) Sự thể hiện giá trị; (5)
Sự biến đổi về chất [45]. Còn Philip, B. (1980) cho rằng chất lượng là sự phù hợp
với yếu cầu [57].
Astin (1991) đã đề xuất mô hình Đầu vào – Ngoại cảnh – Đầu ra (I-E-O) và
được nhiều nhà nghiên cứu dùng để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào,
yếu tố ngoại cảnh và chất lượng đầu ra của sinh viên [33]. Nghiên cứu tiếp theo,
Kerr, C (1987) đánh giá sự phát triển, chất lượng đào tạo và xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến các biến phụ thuộc này [47]. Ngoài ra còn có Clark, NR. (1983), Harman,
G. (1998), Ellis, R. (1993), Soutar, G. and McNeil, M (1996). Tất cả các biến được
phân thành 3 khối: Đầu vào, Ngoại cảnh và Đầu ra. Giả thuyết đưa ra là các đặc
điểm đầu vào của sinh viên đồng thời ảnh hưỏng đến quá trình và chất lượng đào
tạo [37], [44], [65]. Theo Astin (1993), các yếu tố đầu vào có thể là nhân thân, nền
tảng giáo dục, định hướng chính trị, kiểu hành vi, khát vọng học tập, động cơ chọn
trường, tình trạng tài chính, tình trạng thể chất, lựa chọn nghề nghiệp, lĩnh vực
chuyên ngành, mục tiêu cuộc đời Các yếu tố ngoại cảnh có thể là chương trình,
giảng viên, cán bộ, môi trường học thuật, thiết bị, môn học, phương pháp giảng dạy,
bạn bè và các hoạt động ngoại khoá Và đầu ra là chất lượng giáo dục được thể hiện
qua kết quả kiểm tra sau khoá học, kết quả tốt nghiệp [33].
Wong, Poh-Kam, Yuen-Ping Ho (2006) đưa ra các mô hình mô tả mối quan

[20]. Cụ thể hơn, chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh
ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực
hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo
các ngành cụ thể [27]. Một cách khái quát có thể hiểu chất lượng đào tạo trình độ
đại học được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với chương
trình đào tạo [14]. Qua các quan điểm trên ta có thể thấy, chất lượng đào tạo trình
độ đại học thể hiện cả hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là đạt được mục tiêu (phù
hợp với tiêu chuẩn) do nhà trường đề ra, ở khía cạnh này chất lượng đào tạo được
xem là chất lượng bên trong [33]. Ở khía cạnh thứ hai, chất lượng được xem là sự
thoả mãn nhu cầu của người sử dụng lao động, ở khía cạnh này chất lượng được
xem là chất lượng bên ngoài. Như vậy, mỗi cơ sở đào tạo luôn có một nhiệm vụ
được uỷ thác, nhiệm vụ này thường được do các chủ sở hữu quy định, điều này chi
phối mọi hoạt động của nhà trường. Vấn đề đặt ra là, nhà trường làm thế nào để xác
định các mục tiêu của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp
- đạt chất lượng bên ngoài. Về chất lượng, nhu cầu về chất lượng đối với sản phẩm
đào tạo là những kiến thức, các kỹ năng và phẩm chất con người mà người học đòi 8
hỏi phải có được sau khi kết thúc quá trình đào tạo hoặc sử dụng lao động mong
muốn ở những người lao động mà họ sẽ tuyển dụng [27]. Trong thực tế, bấy lâu nay
chúng ta vẫn đào tạo theo chỉ tiêu được Bộ GDĐT giao và theo yêu cầu của nhà
trường. Còn nó có phù hợp với yêu cầu cụ thể của xã hội hay không thì thực ra
chúng ta cũng không biết rõ. Bao nhiêu phần trăm sinh viên ra trường có việc làm,
có phù hợp với nghề đào tạo hay không, chất lượng đào tạo có đáp ứng yêu cầu thực
tế không là những câu hỏi mà các cơ sở đào tạo khó có câu trả lời chính xác [25].
Để đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học đáp ứng
NCXH thì phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa CLĐT và NCXH về đào tạo. Cần có
sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp để giải quyết một loạt các vấn đề cả hai
phía đều quan tâm [24]. Như vậy, các nghiên cứu trong và ngoài nước thường đề

giữa nhà trường và doanh nghiệp.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Thông qua nghiên cứu của mình tác giả đã có một số đóng góp tri thức mới
cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Cụ thể:
- Về mặt lý luận: Luận án có những đóng góp mới về mặt lý luận về chất
lượng đào tạo trình độ đại học: (1) Đưa ra 6 yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo
trình độ đại học đáp ứng yêu cầu của xã hội. Trong đó yếu tố hợp tác với doanh
nghiệp được cụ thể hóa thành các yếu tố: Trao đổi thông tin, tham gia đào tạo và hỗ
trợ tài chính (2) Nghiên cứu chỉ ra được việc hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và
doanh nghiệp là nhân tố then chốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo trình độ
đại học. Đồng thời, luận án cũng đưa ra các nhân tố hợp tác và xác định mức độ tác
động cụ thể của những nhân tố này đến chất lượng đào tạo trình độ đại học.
- Về mặt thực tiễn: Việc thực hiện hợp tác giữa trường đại học khối kinh tế
và doanh nghiệp nhằm tận dụng nguồn nội lực và ngoại lực để nâng cao hiệu quả
hoạt động của từng tổ chức trong đào tạo nguồn nhân lực. Từ kết quả nghiên cứu
luận án đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua
hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp thông qua các hình thức: (1) Tham gia đào
tạo, (2) Hỗ trợ tài chính, (3) Trao đổi thông tin.
7. Câu hỏi và phương pháp nghiên cứu
7.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Các yếu tố nào tác động đến chất lượng đào tạo trình độ đại học?
- Bên cạnh những yếu tố đã được xác định là có ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo, mức độ ảnh hưởng của yếu tố hợp tác đến chất lượng đào tạo trình độ đại
học như thế nào? 10
- Hợp tác giữa các trường đại học với doanh nghiệp như thế nào thì sẽ nâng
cao chất lượng đào tạo trình độ đại học?
- Thực trạng chất lượng đào tạo trình độ đại học của các trường đại học khối

11
+ Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được tiến hành nhằm kiểm định lại các giả thuyết
trong mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua phương pháp
khảo sát. Phiếu điều tra dựa trên cách đo lường các biến được thực hiện ở các
nghiên cứu trước đây. Tác giả có bổ sung các biến được rút ra từ nghiên cứu định
tính. Thử nghiệm phiếu điều tra được tiến hành trên một bộ phiếu hỏi gồm 300
phiếu hỏi sẽ được phát ra cho các DN thành viên của VCCI đang hoạt động trên địa
bàn Hà Nội. Các dữ liệu thu thập dùng để kiểm định mô hình, đánh giá thang đo
cũng như là kiểm định giả thuyết.
Xử lý số liệu: Tác giả dùng phần mềm SPSS để phân tích tương quan nhằm
đánh giá sự tác động của các nhân tố hợp tác và các nhân tố chất lượng đào tạo.
Trước tiên, dùng phương pháp đo độ tin cậy của các biến (reliability) thông qua hệ
số Cronbach Alpha và các hệ số tương quan biến - tổng (item-to-total correlation)
và giá trị tương quan bội bình phương (squared multiple correlation). Do mỗi biến
trong mô hình được đo lường bằng một thước đo có nhiều tiêu chí nên phân tích
nhân tố khám phá (exploratory factor analysis – EFA) được thực hiện để kiểm tra
tính đơn hướng (udinimentionality) của thước đo nhằm loại bỏ một số tiêu chí đo
lường không phù hợp. Sau khi phân tích EFA cho từng biến, trước khi sử dụng cho
các phân tích tiếp theo, thước đo của các biến được kiểm tra lại cùng một lúc, thực
hiện thao tác varimax rotation với tiêu chí egenvalue > 1.0 cho toàn bộ các tiêu chí
đo lường. Sau khi thực hiện phân tích độ tin cậy EFA cho các thước đo đo lường
cho các biến độc lập và phụ thuộc sẽ phân tích tương quan theo cặp, cuối cùng là
phân tích hồi quy đa biến (regression) để kiệm định lại giả thuyết và mối tương
quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc. Ngoài ra, phương pháp phân tích thống
kê mô tả sẽ được dùng để phân tích các đánh giá của các nhà quản lý, giảng viên và
sinh viên.
8. Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm 3 phần chính, có bố cục như sau:
- Phần mở đầu gồm 8 mục:

1.1. Một số vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo trình độ đại học
1.1.1. Khái niệm về chất lượng và đào tạo
- Khái niệm về chất lượng:
Trong các nghiên cứu chất lượng là một khái niệm được xem xét từ các
tiếp cận khác nhau:
Với cách tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng thì chất lượng là sự xuất sắc
bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất). Điều này chỉ có thể hiểu được, cảm nhận được nếu
so sánh với những sự vật có cùng đặc tính với sự vật đang được xem xét [14]. Nếu
với cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét chất lượng thì chất lượng được
xem xét trên cơ sở thuộc tính đo được. Điều đó có nghĩa là chất lượng được đo
lường khách quan và chính xác. Một sự vật có thuộc tính nào đó “cao hơn” cũng có
nghĩa là nó “tốt hơn” và do đó cũng “đắt hơn”. Còn tiếp cận dựa trên sản xuất thì
chất lượng được xem là sự phù hợp với nhu cầu. Các sản phẩm và dịch vụ được
“sản xuất” một cách chính xác với những “đặc tính kĩ thuật” đã định; mọi sự lệch
lạc đều dẫn đến giảm chất lượng [14]. Nguyễn Hữu Châu (2008) cho rằng chất
lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu); là đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
Chất lượng được xem xét đơn giản chỉ trong con mắt của người chiêm ngưỡng sự
vật hoặc sử dụng chúng [14, trang 6]
Theo tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109, chất lượng là tiềm năng của một sản
phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng. Trong khi đó tiêu
chuẩn Việt Nam (TCVN – ISO 8402) thì đưa ra khái niệm chất lượng là tập hợp các
đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa
mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Ở cách tiếp cận đa dạng hơn
Harvey & Green (1993) cho rằng chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh sau: Sự 14
xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú, xuất sắc; Sự hoàn hảo; Sự phù hợp, thích hợp; Sự thể
hiện giá trị; Sự biến đổi về chất [45].
- Khái niệm về đào tạo:

quản lý, chỉ đạo một chuyên môn nghiệp vụ nào đó. Căn cứ vào trình độ đào tạo cán
bộ chuyên môn có thể chia thành các loại sau: cán bộ trung cấp; cán bộ chuyên môn
có trình độ cao đẳng; cán bộ chuyên môn có trình độ đại học; cán bộ chuyên môn có
trình độ trên đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) [29, trang 122].
Như vậy, đào tạo trình độ đại học là quá trình chuẩn bị cho sinh viên kiến
thức làm việc trong một thế giới nối kết, liên thông toàn cầu hóa. Các trường đại
học đóng một vai trò to lớn trong việc truyền bá và phát triển kiến thức. Bên cạnh
chức năng truyền thụ kiến thức, một trong những đặc trưng quan trọng nhất của
trường đại học là kết hợp được việc giảng dạy và nghiên cứu [14]. Tuy nhiên,
trường đại học không phải là trung tâm nghiên cứu, cũng như không phải trường
dạy nghề đơn giản. Tính tự chủ của các cơ sở đào tạo trình độ đại học rất cao.
Trường đại học vừa là nơi giảng viên chia sẻ các kết quả nghiên cứu của mình với
sinh viên, tổ chức cho sinh viên làm nghiên cứu mới. Trường đại học cũng vừa là
nơi kết nối với doanh nghiệp, với thị trường lao động trong quá trình đào tạo,
nghiên cứu và cung ứng nguồn nhân lực.
1.1.2. Các quan điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học
Hiện nay, chất lượng không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo
dục và đào tạo mà là mối quan tâm hàng đầu của mọi hệ thống. Chất lượng là yếu tố
quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức [1]. Chất lượng là một vấn đề rất
trừu tượng, không ai nhìn thấy được và cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan của
mình, không thể đo lường bằng những công cụ đo thông thường [13]. Về bản chất,
khái niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học là một khái niệm mang tính tương đối.
Với mỗi người quan niệm về chất lượng khác nhau và vì thế chúng ta thường dặt
câu hỏi “chất lượng của ai”. Ở mỗi vị trí, người ta nhìn nhận về chất lượng đào tạo
trình độ đại học ở những khía cạnh khác nhau. Các sinh viên, nhà tuyển dụng, giảng
viên, chính phủ, các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ cho
khái niệm chất lượng [13]. Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được 16

17
của khách hàng. Chất lượng đào tạo trình độ đại học theo nghĩa phù hợp mục tiêu
được đánh giá bằng đầu ra chứ không phải bằng quá trình .
- Trường phái thứ tư cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là giá trị
chuyển đổi. Quan niệm này dựa trên hiện tượng thực tế: Băng tan ra thành nước và
cuối cùng bốc hơi nếu trài qua một sự tăng nhiệt độ. Trong khi sự tăng nhiệt độ có
thể đo đếm được, sự chuyển đổi đòi hỏi một thay đổi về chất. Đào tạo có chất lượng
nghĩa là đào tạo gây ảnh hưởng tới thay đổi ở những người tham gia (Astin, 1985,
1991; Kwek, Lau, Tan, 2010).
- Tiếp cận chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua khách hàng
Cách tiếp cận khái niệm chất lượng thông qua khách hàng làm thay đổi quan
điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học (Ellis, 1993). Trước đây, theo cách tiếp
cận truyền thống, khái niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học được thiết lập bởi
các trường ĐH hay bởi các chuyên gia, các nhà nghiên cứu giáo dục. Nhiệm vụ các
trường ĐH là quản lý theo kế hoạch nhằm đảm bảo sản phẩm đào tạo đáp ứng được
chuẩn chất lượng đã thiết kế mà không lưu tâm đến nhu cầu của khách hàng, không
tiến hành đánh giá, lấy ý kiến phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm đào
tạo [40]. Đây là cách tiếp cận chưa toàn diện bởi lẽ khách hàng hiện nay không chỉ
đơn thuần mong chờ họ được cung ứng cái gì, mà được cung ứng như thế nào, bao
giờ và ở đâu với những kỹ năng và con người cung ứng như thế nào. Vì vậy, khái
niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học cần được đề cập với cách tiếp cận mới toàn
diện và phù hợp với bối cảnh, xu thế phát triển đào tạo trình độ đại học hiện nay đó
là tiếp cận thông qua khách hàng (Olsen, 2004).
Cách tiếp cận chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua khách hàng thể
hiện khái niệm chất lượng đào tạo trong đó vấn đề đáp ứng nhu cầu, kì vọng của
khách hàng được ưu tiên hàng đầu. Chất lượng sản phẩm được thể hiện qua các tính
năng của sản phẩm và phải thỏa mãn nhu cầu sử dụng của khách hàng. Trong sản
xuất, nếu thiết kế không đúng ngay từ đầu, không xuất phát từ yêu cầu của khách
hàng và người tiêu dùng để thiết kế sản phẩm thì sẽ dẫn đến việc sản xuất ra những
sản phẩm không phù hợp, những sản phẩm sẽ tồn đọng hoặc phải bỏ đi. Trong giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status