Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ định hướng quy hoạch nông nghiệp bền vững ở huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình - Pdf 23


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu và đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên nhằm xác định tiềm năng
sinh thái làm tiền đề phục vụ quy hoạch, sử dụng hợp lý lãnh thổ, giúp cho các nhà
quản lý và hoạnh định chính sách đưa ra những định hướng khai thác tài nguyên
theo hướng bền vững là một vấn đề đang được quan tâm hiện nay.
Quảng Trạch là một huyện của tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích là 612
km
2
, trong đó đất cho sản xuất nông nghiệp là 10.000 ha. Là một vùng đất màu
mở vừa có đồng bằng đất đai phì nhiêu có thể thâm canh sản xuất cây lương
thực, hoa màu, cây công nghiệp; vừa có vùng gò đồi, núi thấp, nhiều bãi cỏ rộng
lớn thuận lợi cho chăn nuôi gia súc quy mô lớn.
Đây là vùng có nhiều tiềm năng cho phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên điều
kiện tự nhiên của lãnh thổ có sự phân hóa đa dạng và phức tạp. Việc đánh giá
tiềm năng sinh thái tự nhiên theo lãnh thổ phục vụ quy hoạch nông nghiệp hợp
lý, đảm bảo sự phát triển lâu bền mang tính cấp thiết. Bên cạnh đó, Quảng Trạch
là một huyện tương đối nghèo, đời sống của bà con còn gặp nhiều khó khăn, phụ
thuộc chủ yếu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp với đất đai là tư liệu chủ yếu;
do sự thiếu hiểu biết cũng như việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất
nông nghiệp còn thấp nên hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà con còn mang
tính thu hẹp về quy mô, nghèo nàn về đối tượng sản xuất, chưa giám mạnh dạn
đầu tư phát triển để thực sự tương xứng với tiềm năng sẳn có của vùng.
Do đó, đòi hỏi cần có một hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp
nhằm tạo việc làm ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho người dân. Vì
vậy việc đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ cho định hướng quy
hoạch nông nghiệp là rất cần thiết và mang tính cấp bách.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá tổng hợp điều
kiện tự nhiên phục vụ định hướng quy hoạch nông nghiệp bền vững ở huyện

tồn tại và phát triển của nó. Hay nói cách khác, việc nghiên cứu quá khứ và hiện

tại là cơ sở khoa học vững chắc cho việc xây dựng và đề xuất những mô hình sản
xuất trong nền kinh tế, đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
4.2. Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp đòi hỏi nghiên cứu các thành phần tự nhiên trong mối
quan hệ tương hỗ, tác động lẫn nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau như một địa tổng
thể. Tuy nhiên, theo quan điểm này không yêu cầu nhất thiết phải đánh giá tổng
hợp tất cả các chỉ tiêu thuộc các thành phần mà tùy thuộc vào mục tiêu đánh giá
để lựa chọn chỉ tiêu phù hợp. Trong đề tài quan điểm này thể hiện qua việc lựa
chọn và xử lí chỉ tiêu đại diện cho các thành phần: Địa hình (độ dốc), khí hậu,
thủy văn (điều kiện tưới, khả năng thấm nước), nham thạch và thổ nhưỡng (loại
đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới ), sinh vật (lớp phủ thực vật).
Việc đề xuất các loại hình sử dụng trên từng loại sinh thái cảnh quan huyện
Quảng Trạch được sử dụng trên quan điểm tổng hợp, kết quả đánh giá mức độ
thích nghi của các loại cây trồng được xem xét hiệu quả kinh tế và tác động đến
môi trường của từng loại hình cụ thể.
4.3. Quan điểm lãnh thổ
Do lãnh thổ huyện Quảng Trạch có sự phân hóa đa dạng về kiểu địa hình,
độ dốc, độ dày tầng đất, … nên việc phân cấp lãnh thổ những đơn vị có sự đồng
nhất tương đối về các yếu tố tự nhiên phục vụ cho mục tiêu đánh giá là cần thiết .
Dựa trên cơ sở chỉ tiêu đánh giá, đề tài đã phân cấp lãnh thổ về độ cao địa
hình, độ dốc, tầng dày đất, điều kiện tưới, thành phần cơ giới, vị trí và tổng hợp
lại theo các đơn vị lãnh thổ cơ sở. Trong đề tài, đơn vị cơ sở là các loại cảnh
quan. Mỗi loại cảnh quan có sự đồng nhất tương đối về các điều kiện tự nhiên và
việc đánh giá được dựa trên cơ sở so sánh chỉ tiêu sinh thái nông nghiệp với đặc
điểm của các đơn vị cảnh quan để xây dựng loại hình nông nghiệp thích hợp.
4.4. Quan điểm sinh thái - kinh tế
Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên của một lãnh thổ cần
phân tích được mối quan hệ tác động qua lại giữa các quần thể sinh vật với môi


Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu Địa lí học hiện đại
nhằm thẩm định và điều chỉnh những giá trị đã nghiên cứu, thu thập trước đó.
Các bước khảo sát thực địa chính gồm:
- Khảo sát và thu thập số liệu theo đề cương đã vạt ra.
- Mô tả đặc điểm, sự thay đổi và chuyển tiếp các hiện tượng tự nhiên.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau và giữa tự
nhiên với con người. Cụ thể là đã nghiên cứu thực địa tự nhiên ở Lăng Cô và
thực địa kinh tế - xã hội ở Đà Lạt, Nha Trang, TP. HCM.
5.4. Phương pháp so sánh địa lí
Vận dụng trong đánh giá và phân hạng thích nghi của các loại STCQ phục vụ
quy hoạch một số loại hình sản xuất nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện.
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài
6.1. Trên thế giới
Việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch,
sử dụng hợp lí lãnh thổ trong sản xuất nông nghiệp đã có từ lâu, được thể hiện
trong nhiều công trình với các hướng nghiên cứu khác nhau .
Nghiên cứu theo hướng cảnh quan học đã xây dựng từ cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX trong các công trình nghiên cứu phân chia bề mặt Trái đất của các nhà
địa lí Nga như V.V.Đocutraep, L.X.Begre, G.N.Vưtxotski,…
Từ thế kỉ thứ XIX, trường phái này phát triển mạnh ở Liên Xô (cũ) và các
nước Đông Âu, đã tiến hành đo vẽ cảnh quan cho việc đánh giá, quy hoạch sử
dụng đất nông nghiệp và cải tạo đất, điển hình có một số tác giả như K.V.Pascan,
G.Iu.Pritula (1980) , K.B.Zvokukin (1984). Cùng trường phái này còn có các
công trình nghiên cứu của các tác giả ở Hunggari như Marasiro, Szilard (1964),
ở Rumani như Grumazescu (1966), ở Balan như Rozycka (1965) …
Quan điểm đánh giá là lấy học thuyết về cảnh quan làm cơ sở cho việc đánh
giá đất đai nông nghiệp, quy hoạch lãnh thổ nhằm sử dụng tối ưu các đặc điểm
sinh thái của cảnh quan và thiết lập nên mối quan hệ hài hòa giữa lãnh thổ, con
người và môi trường . Đơn vị đánh giá là các địa tổng thể (hệ địa - sinh thái)


Theo hướng sinh thái cảnh quan có các công trình như: “Nghiên cứu, cải
tạo, sử dụng hợp lí hệ sinh thái vùng gò đồi Bình Trị Thiên ’’ (Lê Văn Thăng,
1990), “Đánh giá phân hạng điều kiện sinh thái tự nhiên lãnh thổ trung du và
miền núi Quảng Trị và Thừa Thiên Huế cho nhóm cây công nghiệp dài ngày ”
(Lê Văn Thăng, 1995),…Trong những công trình này, các chỉ tiêu sinh thái (tầng
dày đất , loại đất, độ dốc, thành phần cơ giới, khả năng tưới tiêu, vị trí địa lí,…)
cho một số loại cây trồng được lựa chọn để đánh giá cho điều kiện thích nghi .
Dưới góc độ phân vùng địa lí tự nhiên, các nhà địa lí tiến hành phân vùng
lãnh thổ nghiên cứu, từ đó xác định một cách khái quát nhất phương hướng sử
dụng lãnh thổ. Trong các công trình này, các đơn vị lãnh thổ tương đối đồng nhất
về một chỉ tiêu nào đó, với những đặc điểm nhất định về tài nguyên được sử
dụng làm đơn vị cơ sở cho quy hoạch và sử dụng hợp lí lãnh thổ. Kiểu đánh giá
phổ biến hiện nay là đánh giá mức độ thuận lợi của các điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên cho các dạng sử dụng khác nhau.
Nhìn chung, cho đến nay vẩn chưa có mô hình thống nhất tối ưu về phương
pháp, chỉ tiêu cũng như đơn vị cơ sở đánh giá. Tuy nhiên, những công trình này
đã đóng góp rất lớn vào việc hình thành các quan điểm nghiên cứu, xác định
cách tiếp cận của đề tài trên nguyên tắc và quan điểm địa lí ứng dụng trong đánh
giá tổng hợp điều kiện tự nhiện.
6.3. Tại Quảng Bình
Liên quan đến đề tài này đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm tự
nhiên và đánh giá đất đai cho các loại hình sử dụng như:
“Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
thời kì 2011- 2020”
“ Báo cáo thống kê, kiểm kê diện tích đất theo đơn vị hành chính ngày
31\12\2009”.
Mai Văn Hoan (2011), Đánh giá tài nguyên đất đai phục vụ quy hoạch phát
triển nông - lâm nghiệp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Khóa luận tốt nghiệp
ĐHSP Huế - ngành Địa lí.


1.1. Một số khái niệm sử dụng trong đề tài
1.1.1. Đánh giá và đánh giá điều kiện tự nhiên
Đánh giá là xem xét một đối tượng nào đó dưới hình thức so sánh, đối
chiếu với những tiêu chuẩn hay yêu cầu nhất định.
Đánh giá điều kiện tự nhiên là sự phản ánh giá trị của tự nhiên với một yêu
cầu KT – XH cụ thể. “Bản chất của việc đánh giá ĐKTN và TNTN là so sánh,
đối chiếu các tính chất của môi trường tự nhiên và các nhân tố hợp phần của
chúng với những đòi hỏi, những yêu cầu về các mặt khác nhau của đời sống đối
với các hoạt động KT – XH của con người”.[ 5]
1.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên:
Điều kiện tự nhiên là nhân tố của môi trường tự nhiên không sử dụng trực
tiếp làm các nguồn năng lượng để tạo ra lương thực, thực phẩm và các nguyên
liệu cho công nghiệp, nhưng nếu không có sự tham gia của chúng thì không thể
tiến hành sản xuất được, như: Địa hình, đất, nguồn nước,…
Tài nguyên thiên nhiên:
Theo D.L.Armand: “Tài nguyên thiên thiên là các nhân tố tự nhiên được sử
dụng vào phát triển kinh tế làm phương tiện để tồn tại của xã hội loài người”.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “Tài nguyên thiên nhiên là
toàn bộ giá trị vật chất có trong tự nhiên mà ở một trình độ nhất định của sự phát
triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể sử dụng làm phương
tiện sản xuất và đối tượng tiêu dùng ’’. (Nguồn: Từ điển bách khoa toàn thư Việt
Nam, tập 4, Hà Nội, 2005).
1.1.3. Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên

Hoạt động đánh giá tổng hợp ĐKTN là dựa vào sự hiểu biết đặc điểm của
các hệ thống tự nhiên và hệ thống KT- XH để xác định mối quan hệ giữa chúng.
Vì thế, nhiệm vụ chính của đánh giá là điều khiển mối quan hệ sao cho hiệu quả
cao nhất mà vẫn đảm bảo cân bằng sinh thái. Xác định đối tượng đánh giá tổng

của cảnh quan, giữa tất cả chúng có mối quan hệ chặt chẽ và chịu sự tác động qua
lại lẫn nhau trong phạm vi lãnh thổ của cảnh quan” [9].
Như vậy, STCQ vừa có cấu trúc của CQ vừa có chức năng sinh thái của hệ
sinh thái đang tồn tại và phát triển trên cảnh quan, nó chứa đựng hai khía cạnh cơ
bản là cảnh quan và hệ sinh thái. Hai khía cạnh này độc lập nhưng thống nhất với
nhau trong một hệ địa - sinh thái (Geo- ecosystem).
Hình 1.1 Sơ đồ hệ địa – sinh thái

1.Hướng tác động qua lại các thành phần cảnh quan:
2. Hướng tác động qua lại của hệ sinh thái trong hệ địa sinh thái:
SV: Sinh vật ĐH: Địa hình TV: Thủy văn
KH: Khí hậu TN: Thổ nhưỡng Đ : Đá
KH
TN
TV
SV
Đ
ĐH

Qua bảng 1.1. cho thấy:
Các hợp phần cấu tạo nên các đơn vị CQ vừa là nơi diễn ra các hoạt động KT
- XH, vừa là TNTN, là đối tượng để khai thác sử dụng. Ngược lại, TNTN là nhân
tố, chất liệu để tạo nên tiềm năng sản xuất của cảnh quan. Tính tương đồng ở đây
bắt nguồn từ quy luật hình thành nên các đơn vị lãnh thổ địa lí.
Ở các nhóm tổ hợp những yếu tố tự nhiên (1, 2 và 3 ) thì hầu như những
loại tài nguyên và yếu tố tự nhiên cấu tạo nên các đơn vị cảnh quan có độ tương
đồng lớn.
Yếu tố con người, một phần cấu trúc của CQ thì tài nguyên lao động là sản
phẩm của quá trình vận động, phát triển của dân cư, đồng thời yếu tố nhân tác
trong cấu trúc CQ lại là sản phẩm của chính tài nguyên lao động trên chính lãnh
thổ đó.
1.1.6. Mối liên hệ giữa cảnh quan và hoạt động sản xuất nông nghiệp
Hoạt động sản xuất nông nghiệp được hình thành và phát triển dựa trên cơ
sở hợp phần của cấu trúc cảnh quan. Thông qua hoạt động này, con người đã tác
động lên CQ làm thay đổi cấu trúc và thành phần của nó theo hướng tích cực
hoặc tiêu cực.

Trong nền sản xuất nông nghiệp, con người biết khai thác và sử dụng yếu tố
tự nhiên và TNTN một cách hợp lí thì tác động tích cực lên CQ, cụ thể là hình
thành nên các loại CQ nhân sinh với các loại cây trồng trong hệ sinh thái nông
nghiệp, thảm thực vật trong hệ sinh thái nông nghiệp … làm tăng tính nhịp điệu
của CQ. Ngược lại, những hoạt động khai thác tài nguyên một cách bất hợp lí và
thiếu quy hoạch sẽ dẫn tới phá vỡ cân bằng sinh học, tuần hoàn vật chất trong
CQ và cuối cùng làm suy thoái CQ hiện có để hình thành nên CQ mới. Có thể
nói, giữa CQ và hoạt động tương hỗ lẫn nhau, được thể hiện qua bảng 1.2.
Bảng 1.2. Quan hệ giữa CQ với hoạt động sản xuất nông nghiệp
Cấu trúc CQ
Các yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất
nông nghiệp

nghi của các loại CQ thông qua bài toán trung bình nhân, với công thức tính sau:
M
0
=
n
n
aaaa
321

Trong đó: M
0
: Điểm đánh giá của đơn vị cảnh quan.
a
1
, a
2
, a
3
…a
n
: Điểm của chỉ tiêu 1 đến chỉ tiêu n.
n: Số lượng chỉ tiêu dùng để đánh giá.
1.2.2. Phương pháp phân hạng thích nghi
Về phân hạng mức độ thích nghi, hiện nay trên thế giới có nhiều cách khác
nhau. Theo tổng kết và hướng dẩn của FAO, có 4 phương pháp phân hạng phổ
biến có thể sử dụng là:
Phân hạng chủ quan: Phương pháp này thường được sử dụng bởi các
chuyên gia có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết rõ ràng về lãnh thổ nghiên cứu. Ưu
điểm của phương pháp này là nhanh và sát thực tế, nhưng có hạn chế là mang
tính chủ quan nên khó thuyết phục.

H: Số lượng loại cảnh quan được đưa vào tính toán để đánh giá và phân hạng.
1.3. Quy trình đánh giá tổng hợp đktn phục vụ định hướng quy hoạch nông
nghiệp bền vững ở huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình.
Việc đánh giá tổng hợp ĐKTN lãnh thổ huyện Quảng Trạch được thực hiện
theo phương pháp đánh giá STCQ , với quy trình gồm 5 bước (hình 1.2).
Hình 1.2. Quy trình đánh giá tổng hợp ĐKTN huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng
Bình 1.3.1.Công tác chuẩn bị
Đây là bước khởi đầu quan trọng trong quy trình đánh giá, vì nó xác định
trước mục tiêu đánh giá, đối tượng, nội dung, quan điểm và phương pháp nghiên
cứu, đảm bảo cho việc nghiên cứu đi đúng hướng và đánh giá đúng đối tượng.
Các công việc chủ yếu của giai đoạn này là:
Khảo sát sơ bộ để xây dựng các loại hình sản xuất ở địa bàn nghiên cứu.
Lựa chọn hình thức đánh giá và xây dựng kế hoạch thực hiện.
1.3.2. Thu thập số liệu
Việc thu thập số liệu được thực hiện theo quy trình sau:
Tập trung thu thập các số liệu thực sự cần thiết cho công việc đánh giá
tự nhiên.
Phân loại sử dụng tối đa các số liệu đã sẵn có.
Xuất phát từ mục tiêu và nội dung nghiên cứu, đề tài đã thu thập các số liệu
về địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật…cũng như các số liệu về
kinh tế - xã hội khác. Ngoài ra, các loại bản đồ như: Bản đồ địa hình, thổ
nhưỡng, tầng dày đất, thành phần cơ giới, độ dốc,… là những bản đồ quan trọng
cho việc thành lập bản đồ STCQ.
1.3.3. Nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ, phân loại và phân vùng cảnh quan
Trên cơ sở các loại bản đồ nêu trên, kết hợp với công tác nghiên cứu thực
địa để xây dựng bản đồ sự phân hóa lãnh thổ. Trong phân vùng lãnh thổ nghiên
cứu, sự phân hóa các ĐKTN và CQ bị chi phối đồng thời bởi quy luật địa đới và

quan trọng và cần thiết cho công tác đánh, và là cơ sở ban đầu để tiến tới quy
hoạch lãnh thổ. Tuy nhiên, công tác quy hoạch nếu bỏ qua các điều kiện kinh tế -
xã hội như: dân cư, thị trường, phong tục, tập quán, văn hóa địa phương thì vấn
đề quy hoạch sẽ không có tính thiết thực.
Ngoài ra, việc quy hoạch lãnh thổ có thể thành công khi chúng được điều
chỉnh, sửa đổi cho phù hợp điều kiện cụ thể và phải dựa trên định hướng phát
triển KT - XH, cũng như chính sách của nhà nước đối với địa phương đó.

Tóm lại: Quá trình tổng quan các tài liệu, các công trình nghiên cứu điển
hình về đánh giá tổng hợp ĐKTN phục vụ quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên
thế giới và Việt Nam cho thấy các công trình này đã tiếp cận từ những góc độ và
phương pháp khác nhau, do sự chi phối bởi nội dung, mục tiêu nghiên cứu của
mỗi công trình. Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn các quan điểm và phương pháp
đánh giá này làm cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu của đề tài:
Về quan điểm: Đề tài đã chọn và vận dụng các quan điểm trong đánh giá:
Quan điểm lịch sử, quan điểm tổng hợp, quan điểm phát triển bền vững, quan
điểm sinh thái – kinh tế.
Về phương pháp: Đề tài đã chọn phương pháp đánh giá tổng hợp ĐKTN
theo hướng cảnh quan. Việc đánh giá được tiến hành trên cơ sở chọn chỉ tiêu,
các chỉ tiêu được chọn đánh giá thông qua các phương pháp phân tích, so sánh
và liên kết bản đồ dựa trên cơ sở sử dụng phần mềm Mapinfo và công nghệ GIS
để đưa ra kết quả đánh giá thích hợp.

vĩ bắc. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh (bởi dãy núi Hoàng Sơn ), phía Nam
giáp huyện Bố Trạch, phía Đông giáp biển Đông ( với 32,25 km đường biển ),
phía Tây giáp huyện Tuyên Hóa.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên 612 km
2
với 34 đơn vị hành chính, bao
gồm một thị trấn và 33 xã. Thị trấn Ba Đồn là trung tâm huyện lị.
Nằm trên địa bàn huyện có các trục giao thông huyết mạch xuyên Việt chạy
qua (quốc lộ 1A, quốc lộ 12C, đường sắt Bắc – Nam), có khu kinh tế Hòn La,
tiếp giáp biển….đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trạch mở rộng giao lưu
văn hóa, chính trị và phát triển kinh tế.
2.2. Các nhân tố sinh thái tự nhiên
2.2.1. Địa chất
- Đá mẹ và mẫu chất: Đá mẹ, mẫu chất hình thành đất ở Quảng Trạch phân
bố thành vùng tương đối sỏ. Vùng phía Bắc – Tây Bắc đồi núi cao thuộc xã
Quảng Hợp, Quảng Đông, Quảng Kim chủ yếu là đá macma axit, vùng đồi núi
thấp phía Tây thuộc các xã Quảng Thạch, Quảng Liên, Quảng Trường, Quảng
Phương, Quảng Lưu, Quảng Châu, chủ yếu là các đá trầm tích. Núi đá vôi có
diện tích nhỏ chủ yếu ở các xã Quảng Tiến , Cảnh Hoá.
- Sản phẩm bồi tụ phù sa: Sản phẩm bồi tụ phù sa cổ và phù sa mới được
hình thành và phân bố chủ yếu ở ven và hạ lưu các con sông lớn trong huyện.
Vật liệu của phù sa cổ có màu nâu vàng ở các tầng dưới, lên tầng mặt vì có sản
phẩm hữu cơ nên đất có màu xám. Ở đất phù sa củ, sản phẩm phù sa biến đổi
hình thành tầng loang lỗ đỏ vàng, tầng glây, không còn đặc tính phân lớp của
phù sa mới.

- Trầm tích biển: Cát biển ở Quảng Trạch có tuổi Halocen và được chia
thành các đơn vị sau:
+ Cồn cát: Đây là đơn vị có vật liệu thô hơn hết do sóng biển và sóng đưa

dốc nhiều khi đạt 30
0
với dạng lưỡi liềm, dải quạt. Địa hình này có tiềm năng
phát triển kinh tế biển và dịch vụ du lịch nghỉ mát.
2.2.3. Khí hậu
Quảng Trạch nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao, chế độ ánh
sáng và mưa, ẩm dồi dào,… là những thuận lợi cơ bản cho phát triển đa dạng các
loại cây trồng. Tuy nhiên Quảng Trạch được coi là vùng có khí hậu khá khắc nhiệt:
Từ tháng 4 đến tháng 7 chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh
thường gây nên hạn hán; từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc kèm theo mưa lớn nên thường xảy ra lũ lụt.
2.2.3.1. Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ trung bình năm từ 24 - 25
0
C. Mùa lạnh có 3 tháng (tháng 12 và 1, 2
năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng thấp nhất khoảng 18
0
C (tháng 12 và tháng 1),
có khi xuống tới 8 - 9
0
C. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao (trung bình
28- 30
0
C), tháng nóng nhất là tháng 6,7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 40 – 42
0
C.
Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm chênh lệch 7 -9
0
C.
2.2.3.2. Độ ẩm không khí

Quảng Thanh, Quảng Trường, Quảng Hải, Quảng Trung), sông Ròon (chảy qua
xã Quảng Minh, Quảng Văn) và các sông, suối nhỏ với diện tích lưu vực 3.067
ha. Các sông, suối ở Quảng Trạch có đặc điểm là chiều dài ngắn, dốc nên tốc độ
dòng chảy lớn, sự phân bố dòng chảy theo mùa sỏ rệt thường gây ra lũ lụt trong
mùa mưa. Các con sông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ mưa lũ ở thượng nguồn và
chế độ thủy triều ở hạ lưu. Vì vậy các vùng đất thấp ở hạ lưu các con sông đều bị
nhiễm mặn ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên có thể vận dụng
đặc điểm này để quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản mặn, lợ.
2.2.5. Thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra, điều chỉnh bổ sung bản đồ đất (tỷ lệ 1/25.000) cho
thấy huyện có 8 nhóm đất. Cụ thể như sau:

- Nhóm đất cát (C - Arenosols): Nhóm đất cát có diện tích 7.035 ha chiếm
11,49% diện tích tự nhiên toàn huyện.
- Nhóm đất mặn (M - Fluvisols): Đất mặn được hình thành từ những sản
phẩm phù sa sông, phù sa biển lắng đọng trong môi trường nước mặn, có tổng diện
tích 2.529 ha chiếm 4,13% diện tích tự nhiên, phân bố theo các cửa sông của huyện
và được chia thành 2 loại như sau: Đất mặn nhiều, đất mặn trung bình và ít.
- Nhóm đất phèn (S - Thionic Fluvisols): Diện tích đất phèn ở Quảng Trạch
có 152 ha chiếm 0,25% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở xã Quảng Long và
chỉ có 1 loại là đất phèn hoạt động: Sj (Orthi Thionic Fluvisols).
- Nhóm đất phù sa (P - Fluvisols): Nhóm đất phù sa có diện tích 5.735 ha
chiếm 9,37% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở vùng đồng bằng ven biển là
sản phẩm phù sa của sông Gianh, sông Roòn và các sông suối khác trong huyện.
- Nhóm đất glây (GL - Gleysols): Nhóm đất glây có diện tích 106 ha chiếm
0,17% diện tích tự nhiên, phân bố ở xã Quảng Phú, Quảng Đông.
-Nhóm đất mới biến đổi (CM - Cambisols): Đất mới biến đổi có diện tích
1.797 ha chiếm 2,94% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Quảng Kim, Quảng
Phú, Quảng Hoà, Quảng Tiến, Quảng Lưu. Loại đất này thích hợp với lúa và các
loại cây ngắn ngày.

tấn nhựa thông cung cấp nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến Côlôphan và
sản phẩm sau Côlôphan (mực in, vecsni, sơn bóng…) phục vụ cho tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu.
2.3. Các nhân tố sinh thái nhân văn
2.3.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế- xã hội huyện Quảng Trạch
Trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện đạt
mức ổn định, chất lượng tăng trưởng của một số ngành công nghiệp – xây dựng,
thương mại – dịch vụ đạt ở mức khá cao. Giá trị sản xuất và thu nhập bình quân
đầu người hàng năm tiếp tục được cải thiện (năm sau luôn cao hơn năm trước ).
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Giai đoạn
1996 - 2000
Giai đoạn
2000 - 2005
Giai đoạn
2006 - 2010
Tốc độ tăng trưởng
kinh tế GDP
%
9,50
15,52
11,02
Nông, lâm nghiệp và thủy
sản
%
5,88
4,76

35,10
33,9
30,1
30,5
27,2
24,9
Công nghiệp, xây
dựng
36,30
36,8
38,5
36,4
37,5
37,7
Dịch vụ
28,60
29,3
31,4
33,1
35,3
37,4 Hình 2.1. Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2005 - 2010
2.3.2. Dân cư và nguồn lao động
2.3.2.1. Dân cư
Năm 1995 dân số trung bình của huyện Quảng Trạch là 178.024 người, với
tỷ lệ gia tăng tự nhiên dân số là 2,09%. Năm 2010 dân số là 206.139 người, với
tỷ lệ gia tăng tự nhiên dân số là 1,12%. Như vậy, hơn 10 năm qua huyện Quảng
Trạch đã giảm tỷ lệ phát triển tự nhiên dân số xuống gần một nửa, do tập trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status