TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
SINH VIÊN: VŨ XUÂN TRƯỜNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CỦA XÃ THANH TÂN – HUYỆN THANH LIÊM –
TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã ngành: D850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN :TS. PHẠM ANH TUẤN
Hà Nội- Năm 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
1
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
SINH VIÊN: VŨ XUÂN TRƯỜNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CỦA XÃ THANH TÂN – HUYỆN THANH LIÊM –
TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã ngành: D850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TS. PHẠM ANH TUẤN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của sự sống, là địa bàn phân bố dân cư, phát triển dân
sinh và xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng. Nhưng đất
đai là tài nguyên không thể tái tạo được, nó cố định về vị trí và giới hạn về không gian.
Với vai trò đặc biệt quan trọng đó thì việc sử dụng và bảo vệ đất hiệu quả là điều
rất cần thiết và cấp bách. Nhưng hiện nay, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế,
đời sống con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu của con người về đất đai ngày càng
lớn. Điều này đẫn đến tình trạng đất đai bị khai thác và sử dụng một cách bừa bãi, môi
trường đất bị hủy hoại. Trước thực trạng này, việc quy hoạch sử dụng đất là cần thiết hơn
bao giờ hết. Nó không những tổ chức lại việc sử dụng đất, mà còn hạn chế sự chồng chéo
gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện, ngăn chặn các hiện tượng
tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, hủy hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm
môi trường dẫn đến nhưỡng tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và
các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng của từng địa phương, đặc
biệt là trong thời kì phát triển kinh tế thị trường.
Thanh Tân là xã có nền kinh tế khá trong huyện Thanh Liêm. Cơ cấu nền kinh tế
đang có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ. Trong những năm qua, bộ mặt của xã đã có sự thay đổi nhưng vẫn còn hạn chế như
mức độ phát triển chưa cao, chưa đồng bộ, hài hòa giữa các mặt kinh tế, văn hóa và môi
trường. Điều này cho thấy xã chưa thực hiện tốt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội cũng như quy hoạch sử dụng đất.
Từ thực tế này, được sự phân công của khoa Quản lý đất đai – Trường Đại học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội cũng như sự đồng ý cả UBND xã Thanh Tân, tôi thực hiện
đề tài “Đánh giá các điều kiện cơ bản của xã Thanh Tân phục vụ định hướng quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020”
thái định cư của con người trong quá khứ và hiện tại để lại.
1.1.1.2. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt.
Đất đai cũng là một tư liệu sản xuất nhưng nó có những đặc tính khiến nó khác
hẳn với các tư liệu sản xuất khác. Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm sau đây:
- Đặc tính quan trọng nhất của đất đai là độ phì nhiêu. Đây là tính chất khiến nó
khác hẳn với các tư liệu sản xuất khác. Đọ phì của đất có thể cung cấp thức ăn, nước và
các điều kiện khác cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Độ phì bao
gồm: độ phì tự nhiên và độ phì kinh tế.
- Mọi tư liệu sản xuất khác đều là sản phẩm của lao động, còn riêng đất đai là sản
phẩm của tự nhiên. Đất có trước lao động và là điều kiện thiên nhiên của lao động. Chỉ
khi tham gia vào quá trình lao động, đất mới trở thành tư liệu sản xuất.
- Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư liệu sản xuất khác tăng lên về số
lượng, riêng đất chỉ có số lượng giới hạn trong phạm vi ranh giới các lục địa.
- Đất là tư liệu sản xuất có vị trí không thể thay đổi trong không gian. Đây là một
tính chất rất đặc thù của đất, làm cho những mảnh đất nằm ở vị trí khác nhau có giá trị rất
khác nhau.
6
- Trong quá trình sản xuất, người ta có thể thay thế tư liệu sản xuất này bằng tư
liệu sản xuất khác, nhưng đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế, đặc biệt là trong nông
nghiệp.
- Trong quá trình sản xuất, mọi tư liệu sảnh xuất khác đều bị hao mòn, hư hỏng và
dần dần bị đào thải, riêng đất, nếu xét về mặt không gian(diện tích) thì đất là tư liệu sản
xuất vĩnh cửu, không chịu sự phá hủy của thời gian. Hơn nữa, nếu dược sử dụng đúng và
hợp lý, chất lượng đất ngày càng tốt lên.
Có thể nói đất đai là tư liệu sản cuất cực kỳ quan trọng đối với con người. Sự quan
tâm chú ý đúng mức trong việc quản lý và sử dụng đất đai sẽ làm cho sản lượng thu được
từ mỗi mảnh đất không ngừng tăng lên.
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất và phát triển kinh tế xã hội
xuất nông nghiệp. Khi xã hội phát triển ở mức cao hơn, công năng của đất từng bước
được mở rộng, sử dụng đất cũng phức tạp hơn. Đất đai không chỉ cung cấp cho con người
các tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển mà còn cung cấp các điều kiện cần thiết để
hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại.
Kinh tế - xã hội phát triển càng mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối
quan hệ giữa con người và đất đai càng trở nên căng thẳng. Những sai lầm của con người
trong quá trình sử dụng đất cùng với sự tác động của thiên nhiên đã và đang hủy hoại môi
trường đất, một số công năng của đất bị suy yếu đi. Vấn đề tổ chúc sử dụng đất theo quan
điểm sinh thái và phát triển bền vững càng trở nên quan trọng, bức xúc và mang tính toàn
cầu. Cùng với sự phát triển không ngừng của sức sản xuất, công năng của đất được nâng
cao theo hướng đa dạng, nhiều tấc nấc để truyền lại lâu dài cho các thế hệ mai sau.
1.1.3. Định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất.
Khi nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất có rất nhiều cách nhận thức khác nhau.
Có quan điểm cho rằng quy hoạch sử dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm
thực hiện việc đo đạc, vẽ bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành...
8
Bên cạnh đó, có quan điểm lại cho rằng quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trên các
quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh tính pháp chế của quy hoạch sử dụng đất đai.
Tuy nhiên, đối với cả hai cách nhận thức trên, bản chất của quy hoạch sử dụng đất
không được thể hiện đúng và đầy đủ vì bản thân của quy hoạch sử dụng đất không nằm
trong kỹ thuật đo đạc và cũng không thuộc về hình thức pháp lý mà nó nằm bên trong
việc tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt, coi đất như đối tượng của các
mối quan hệ xã hội trong sản xuất. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hoạt động
vừa mang tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính pháp lý.
Từ đó, có thể rút ra khái niệm quy hoạch sử dụng đất như sau: Quy hoạch sử dụng
đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức
và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân
phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng
Dự báo cơ cấu đất đai (cho lâu dài) liên quan chặt chẽ với chiến lược sử dụng tài
nguyên đất đai. Chính vì vậy, việc dự báo sử dụng đất với mục tiêu cơ bản là xác định
tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông – lâm nghiệp, xác định định hướng sử
dụng đất cho các nhu cầu chuyên dùng.
Trong khi đó, nội dung của chiến lược sử dụng đất đai bao gồm: Phân tích hiện
trạng phân bố và sử dụng quỹ đất cho các ngành, xác định tiềm năng đất để khai hoang đưa
vào sản xuất nông nghiệp, xác định nhu cầu đất đai cho các ngành kinh tế quốc dân, thiết
lập các biện pháp cải tạo, phục hồi và bảo vệ quỹ đất cũng như hoàn thiện việc sử dụng đất,
xây dựng dự báo phân bổ quỹ đất cho các ngành kinh tế quốc dân theo các đối tượng và
mục đích sử dụng
1.2.3. Mối quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch phát triển nông nghiệp
Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế - xã
hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biện pháp, bước đi về nhân
10
lực, vật lực đảm bảo cho các ngành trong nông nghiệp phát triển đạt tới quy mô các chỉ
tiêu về đất đai, lao động, sản phẩm hàng hoá, giá trị sản phẩm, ... trong một thời gian dài
với tốc độ và tỷ lệ nhất định.Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ
sử dụng đất đai, song quy hoạch phát triển nông nghiệp lại phải tuân thủ theo quy hoạch
sử dụng đất, đặc biệt là việc xác định cơ cấu sử dụng đất phải đảm bảo được việc chống
suy thoái, ô nhiễm đất và bảo vệ môi trường.
Quy hoạch sử dụng đất đai tuy dựa trên quy hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng của
ngành nông nghiệp, nhưng chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ mô,khống chế và điều hoà quy
hoạch phát triển nông nghiệp. Hai loại quy hoạch này có mối quan hệ qua lại vô cùng mật
thiết và không thể thay thế lẫn nhau.
1.2.4. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị.
Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế xã hội và phát triển của
đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương châm xây dựng đô thị, các
bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý, toàn diện, bảo đảm cho sự phát
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước chỉ đạo việc xây dựng quy hoạch cấp tỉnh. Quy hoạch
cấp huyện xây dựng trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.Mặt khác, quy hoạch sử
dụng đất đai của cấp dướilà căn cứ dể chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện quy hoạch sử
dụng đất đai của cấp trên.
1.3. Cơ sở pháp lý của quy hoạch sử dụng đất đai
1.3.1. Những căn cứ pháp lý chung của quy hoạch sử dụng đất.
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
- Luật Đất đai năm 2013 ngày 29/11/2013 và các văn bản luật của Nhà nước có
liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính Phủ về thi
hành một số điều của Luật đất đai, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
12
Phủ quy định bổ về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái
định cư;
- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ tài Nguyên &Môi
trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất;
- Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc thi hành
luật đất đai;
- Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT, ngày 30/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên & Môi trường về ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất;
- Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 24/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên & Môi trường về việc ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Các nghị định: số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2007 và số 21/2008/NĐ-CP ngày
28/02/2008 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
- Các nghị định: số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2007 và số 21/2008/NĐ-CP ngày
28/02/2008 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
+ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về việc quy định
bổ sung quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tái định cư;
+ Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Căn cứ văn bản số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ của bộ Tài nguyên và Môi trường
về việc “Giao Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn UBND cấp huyện lập quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2010 – 2015)”.
- Hướng dẫn số 40/HD-STN&MT ngày 18 tháng 01 năm 2010 của sở Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn việc lập và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu
trên địa bàn tỉnh Hà Nam;
- Hướng dẫn số 189/HD-STN&MT của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà
Nam ngày 26 tháng 4 năm 2012 về hướng dẫn bổ sung việc lập quy hoạch sử dụng đất,
kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu trên địa bàn tỉnh Hà Nam;
- Quyết định số 722/QĐ-UBND ngày 05 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh
14
Hà Nam về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5
năm kỳ đầu (2011-2015) của huyện Thanh Liêm.
- Quy hoạch sử dụng đất đai xã Thanh Tân giai đoạn 2001 - 2010.
- Căn cứ vào nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ xã Thanh Tân nhiệm kỳ 2010 2015.
- Báo cáo chính trị của Đảng bộ xã Thanh Tân.
- Báo cáo của UBND xã Thanh Tân về các vấn đề phát triển kinh tế xã hội.
1.4. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai
1.4.1. Quy hoạch sử dụng đất toàn quốc
Là chỗ dựa của quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, được xây dựng căn cứ vào nhu
cầu của nền kinh tế quốc dân, kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế xã hội, trong đó xác
định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ sử dụng đất cả nước nhằm điều hoà quan hệ
hoạch.
1.4.3. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là cơ sở để quyết định lựa chọn cho việc đầu tư. Như
vậy, đất đai thực sự sẽ được khai thác sử dụng vào mục đích cụ thể theo hướng ổn định, vững
chắc của quy hoạch phân bổ sử dụng đất cấp tỉnh.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện dưới sự chỉ đạo của UBND huyện căn cứ vào đặc tính
của nguồn tài nguyên đất và mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế xã hội để giải quyết các
vấn đề như:
- Xác định phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản sử dụng đất của
huyện.
- Xác định quy mô, cơ cấu và phân bổ sử dụng đất của các ngành.
- Xác định cơ cấu, phạm vi và phân bố đất cho các công trình hạ tầng chủ yếu: xí
nghiệp công nghiệp, du lịch và nhu cầuđất đai cho các nhiệm vụ đặc biệt như bảo vệ bảo tồn, khu vực an ninh quốc phòng. Đề xuất chỉ tiêu khống chế sử dụng các loại đất
theo từng khu vực các xã trong huyện.
- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện ở nước ta là một cấp cơ bản trong hệ thống
16
quy hoạch sử dụng đất, là cơ sở để cụ thể hoá quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước.
Có tác dụng chỉ đạo và khống chể quy hoạch sử dụng đất của nội bộ các ngành, xí
nghiệp, kế thừa quy hoạch cấp trên và gợi ý cho quy hoạch cấp dưới. Do đó, phải được tổ
chức dưới sự lãnh đạo chủ chốt của cấp huyện, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều
nhà khoa học, thực hiện một cách thiết thực, làm cho quy hoạch có tính khoa học, tính
tiên tiến, tính thực tiễn và tính khả thi cao.
1.4.4. Quy hoạch cấp xã
Quy hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sử dụng đất. Luật đất đai
quy định tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai ở 4 cấp: cả nước, tỉnh, huyện, xã. Lập quy
hoạch tiến hành theo trình tự từ trên xuống dưới và sau đó bổ sung hoàn chỉnh từ dưới
lên. Đây là quá trình có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ giữa tổng thể và cụ thể, giữa vĩ
mô và vi mô, giữa trung ương và địa phương trong hệ thống chỉnh thể.
lập và thực hiện quy hoạch. Cơ chế tiến hành ở đây là tất cả các cấp lập quy hoạch đều
tiến hành đồng thời bao gồm cả các tổ chức cũng như thành viên xã hội thông qua hội
nghị quy hoạch quốc gia. Hội nghị này đưa ra các quan điểm và mục tiêu cho cả nước.
Những ý kiến của hội nghị được đưa lên cấp trung ương và đưa xuống cấp vùng địa
phương (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010).
- Quy hoạch sử dụng đất ở Canada:Canada là một nước liên bang nên quy hoạch
sử dụng đất có những điểm riêng biệt. Theo đó, chính quyền trung ương không có vai trò
trong việc lập quy hoạch sử dụng đất. Thẩm quyền này thuộc về các bang. Mỗi bang có
quyền tự trị riêng về đất đai và tài nguyên, do đó đều có hệ thống quy hoạch riêng. Tại
mỗi bang, chính quyền địa phương lập quy hoạch theo 2 cấp gồm kế hoạch phát triển
(như quy hoạch tổng thể) và quy hoạch vùng. Chính quyền cấp bang xây dựng khuôn khổ
pháp lý cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quyết định trực tiếp một số vấn đề
18
quan trọng liên quan đến đất đai; hoạch định chính sách, giám sát và kiểm soát trực tiếp
việc phân chia đất đai.
Công tác quy hoạch sử dụng đất được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật của
cơ quan lập pháp của bang, với một đạo luật đặc biệt cho thành phố thủ đô và một Luật
quy hoạch cho 200 thành phố còn lại. Theo Luật quy hoạch chính quyền bang, mỗi thành
phố lập kế hoạch phát triển và bản quy hoạch vùng. Kế hoạch phát triển phải tuân thủ các
quy định, chính sách của bang; các cơ quan khác phải được tham vấn trong quá trình
chuẩn bị kế hoạch (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012)..
Trước năm 2005, kỳ quy hoạch ở Canada là 05 năm nhưng thực tế chứng minh là
không hợp lý, nên hiện nay, Luật quy hoạch của Canada không quy định khoảng thời
gian này. Do đó, kỳ quy hoạch có thể rất linh hoạt, có thể thay đổi nhưng phải thực hiện
các thủ tục phê duyệt theo quy định của Luật.
- Cộng hòa Liên bang Đức:Đức là nước lập quy hoạch quốc thổ sớm nhất từ đầu thế
kỷ XX, năm 1950 ban hành Luật Quy hoạch quốc thổ Cộng hòa Liên bang Đức.
cấp có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đó (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012).
- Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc:Ở Trung Quốc, quy hoạch sử dụng đất
được lập theo 4 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương, thành phố
thuộc tỉnh), cấp huyện và cấp xã.Việc lập quy hoạch sử dụng đất phải bảo đảm tuân thủ
triệt để nhiều nguyên tắc, như: sử dụng đất phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả sử dụng cao
nhất; bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích sử dụng đất của các ngành kinh tế, xã
hội và các địa phương; tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên nhằm
duy trì và nâng cao chất lượng sống cho người dân của cả nước…
Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng nhất là bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh
tác. Điều này được thể hiện rõ và xuyên suốt trong hệ thống pháp luật về đất đai của
Trung Quốc. Theo đó, trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải xác định được diện
tích đất canh tác cần bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ
20
rõ diện tích đất canh tác cơ bản có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không
được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì.
Hàng năm, căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất được duyệt, Chính phủ giao chỉ tiêu
chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích khác cho từng tỉnh. Trên cơ sở
đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ cụ thể cho từng đơn vị hành chính cấp huyện và
Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ kế hoạch sử dụng đất đến từng đơn vị xã để thực
hiện. Việc chuyển mục đích sử dụng đất canh tác sang sử dụng vào các mục đích khác
phi nông nghiệp phải được phê duyệt tại cấp tỉnh và Chính phủ. Trường hợp quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất bị vi phạm thì tùy mức độ vi phạm mà người đứng đầu địa phương
sẽ bị xử lý hành chính hoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đất bị vi phạm sẽ bị thu
hồi (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012).
Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia và Cơ quan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh đều có trách nhiệm chung là tổ chức lập và thực hiện quy hoạch đất quốc
1.5.2.1. Giai đoạn trước năm 1980
Quy hoạch sử dụng đất chưa được coi là công tác của ngành quản lý đất đai mà chỉ
được đề cập đến như là một phần của quy hoạch phát triển nông nghiệp. Mặc dù công tác
quy hoạch sử dụng đất đai lồng vào công tác phân vùng quy hoạch nông, lâm nghiệp đã
được xúc tiến vào năm 1962 nhưng chủ yếu là do các ngành chủ quản tiến hành cùng với
một số tỉnh, ngành có liên quan và chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ.
Công tác quy hoạch trong giai đoạn này lấy hợp tác xã làm đối tượng chính,
phương châm chủ yếu là: phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống nhân dân lao
động, phong trào hợp tác hóa. Trong quá trình xây dựng lựa chọn những xã có phong trào
hợp tác xã mạnh để thiết kế quy hoạch, sau đó tiến hành mở rộng quy hoạch. Nội dung
của quy hoạch thời kỳ này được thể hiện:
- Thiết kế xây dựng mọi cơ sở kinh tế kỹ thuật phục vụ cho hợp tác hóa.
- Khai khẩn mở rộng diện tích đất sản xuất.
- Quy hoạch cải tạo làng, xã, di chuyển một số xóm nhỏ lẻ giải phóng đồng ruộng
đưa cơ giới vào canh tác, xây dựng các công trình công cộng cho trung tâm xã.
22
- Cải thiện điều kiện sống, xây dựng nhà ở, sắp xếp các lô đất ngăn nắp, trật tự, cải
tạo đường làng ngõ xóm.
1.5.2.2 Giai đoạn 1981 – 1986
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 đã chỉ rõ: "Xúc tiến công tác điều tra
cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến
lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm sau".
Thực hiện nghị quyết này, các tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập
tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất tại Việt Nam đến năm 2000.
Trong các tài liệu sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của tỉnh đều đề cập đến vấn đề
sử dụng đất đai và được tính toán tương đối có hệ thống để khớp với cả nước, các vùng
kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh với sự tham gia phối hợp của các ngành. Các tài liệu này
đã bước đầu đánh giá được hiện trạng, tiềm năng đất đai và đưa ra các dự kiến sử dụng
Giai đoạn này, đã có nhiều tỉnh soạn thảo và triển khai quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất, ở cấp huyện và xã cũng đang được tổ chức triển khai lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các phương án quy hoạch
này ngày càng được đảm bảo tốt hơn các yêu cầu về nội dung khoa học và pháp lý nhằm
đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010).
1.5.2.5. Thời kỳ từ năm 2003 đến nay
* Về căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Căn cứ theo quy định của Hiến pháp 1992, pháp luật về đất đai trong giai đoạn này
đã không ngừng hoàn thiện các quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
nhằm khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất.
Ngoài Luật đất đai, các nghị định dưới luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành
các văn bản hướng dẫn về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong phạm vi cả
nước.
Nhìn chung, các quy định của pháp luật hiện hành đã tạo ra hành lang pháp lý
tương đối hoàn chỉnh cho việc triển khai công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao
24
gồm về loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về nguyên tắc, căn cứ, trách nhiệm để
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về
thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy định về việc triển khai
thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
* Về tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã;
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của khu công nghệ cao, khu kinh tế và quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh các giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 2010 đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.
Qua hai kỳ thực hiện kế hoạch sử dụng đất cho thấy diện tích đất lúa đã được bảo
vệ khá tốt. Tuy nhiên, việc chuyển diện tích trồng lúa nước, nhất là đối với đất lúa có khả
năng nông nghiệp cao chưa được cân nhắc một cách đầy đủ. Đáng lưu ý là ở một số địa
phương có thể sử dụng đất khác để xây dựng khu công nghiệp và phát triển khu dân cư