ĐỀ TÀI NHÓM:
1
1. Nguyễn Minh Châu K094040657
2. Lương Quang Hà K094040671
3. Nguyễn Thị Thu Hồng K094040684
4. Hoàng Võ Nhật Minh K094040705
5. Đỗ Hồng Nhân K094040716
6. Lâm Thoại Nhân K094040717
7. Thi Trần Thục Nhi K094040719
8. Nguyễn Thành Tài K094040741
9. Lâm Phan Bảo Thơ K094040749
10. Trần Thị Thủy K094040752
11. Võ Ngọc Thiên Tú K094040772
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths. Đặng Lan Anh
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
MỤC LỤC
Đề tài 8:
VAI TRÒ CỦA CÁC THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
TRONG CHU CHUYỂN VỐN VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN
I. Tóm tắt về chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
1. Khái niệm:
Cán cân thanh toán là một bảng tóm tắt các giao dịch của một quốc gia cụ thể giữa
người cư trú trong nước và người cư trú nước ngoài qua một thời kì nhất định. Nó biểu
thị một bảng kế toán giao dịch quốc tế của một quốc gia qua một thời kì, thường là một
quý hoặc một năm. Nó bao gồm các giao dịch được thực hiên bởi các công ty, các cá
nhân và chính phủ.
Kinh doanh quốc tế được thúc đẩy bởi các thị trường cho phép dòng vốn luân
chuyển giữa các quốc gia. Các giao dịch phát sinh từ việc kinh doanh quốc tế tạo ra các
dòng chảy tiền tệ từ quốc gia này sang quốc gia khác, đó gọi là dòng chu chuyển vốn.
Cán cân thanh toán là một thước đo của các dòng chảy tiền tệ quốc tế.
2. Các thành phần của cán cân thanh toán:
các sai số có thể xảy ra.
II. Nguyên nhân và quá trình hình thành của các thiết chế tài chính.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc với kết quả là phe trục phát xít Đức- Ý-
Nhật tất yếu bại trận và phe đồng minh chống phát xít với trụ cột là Liên Xô - Mỹ - Anh
tất yếu thắng lợi, thế giới đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại trật tự chính trị, kinh tế và
tài chính.
Việc tổ chức lập lại trật tự tài chính quốc tế đã được khởi đầu bằng việc lập ra hai
tổ chức tài chính toàn cầu: Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển
theo quyết định của Hội nghị tài chính quốc tế Bretton Woods từ 1 - 22 tháng 7 năm 1944
để soạn thảo Điều lệ Quỹ Tiền tệ quốc tế.
Sự hình thành hai tổ chức tài chính quốc tế toàn cầu này phản ánh xu thế tăng
cường ý muốn hợp tác quốc tế vì sự phồn vinh lâu dài của thế giới. Nó cũng bắt nguồn từ
tình trạng tồi tệ của hệ thống tài chính – tiền tệ thời đó đang trên bờ sụp đổ cần được cải
tổ sâu sắc.
3
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng tái thiết và phát triển lần được đi vào hoạt động
sau chiến tranh thế giới li kết thúc. Đến nay, hai định chế này vẫn là hai trụ cột của hệ
thống tài chính quốc tế.
Thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội của thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai
đòi hỏi phải hình thành các định chế tài chính quốc tế, khu vực với nhiệm vụ là giải quyết
các vấn đề tài chính – tiền tệ của khu vực. Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó, vào
những năm cuối thập niên 50 và những năm thập kỷ 60 đã lần lượt xuất hiện các ngân
hàng phát triển của các châu lục như: Ngân hàng phát triển liên Mỹ, Ngân hàng phát triển
Châu Phi và Ngân hàng phát triển Châu Á.
Ở Châu Âu, với việc hình thành thị trường chung Châu Âu lúc đầu và sau đó là
Liên minh kinh tế Châu Âu đòi hỏi sự xuất hiện các tổ chức tài chính quốc tế của khu vực
Châu Âu.
III. Phân loại các tổ chức tài chính quốc tế
1. Căn cứ vào phạm vi hoạt động:
3. Hỗ trợ các nước thành viên đang phát triển bồi dưỡng và nâng cao
kiến thức và kỹ năng quản lý kinh tế - tài chính tầm vi mô và vĩ mô.
- Giúp các nước nâng cao năng lực xây dựng và thực thi các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
- Giúp hoàn thiện công tác thống kê, kế toán, kiểm toán phục vụ tốt việc theo
dõi, phản ánh đúng đắn tình hình phát triển kinh tế-xã hội.
- Giúp bồi dưỡng và nâng cao trình độ kiến thức, năng lực quản lý kế toán tài
chính đối với cán bộ.
V. Các thiết chế tài chính tại Việt Nam và tác động của nó đối với cán cân thanh
toán và quá trình chu chuyển vốn
1. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là một tổ chức quốc tế về tài chính và tiền tệ mà thành
viên là chính phủ các nước.
Buổi đầu thành lập, IMF chỉ là một tổ chức hợp tác để giám sát hoạt động của hệ
thống tiền tệ quốc tế, tuy nhiên nó cũng đồng thời hỗ trợ hệ thống này bằng những khoản
tiền đôi khi với số lượng lớn dưới hình thức cho các nước thành viên vay.
a. Các mục tiêu của IMF:
- Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có trách
nhiệm cung cấp một bộ máy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấn đề
tiền tệ quốc tế.
5
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
- Tạo điều kiện mở rộng và tăng trưởng cân đối hoạt động mậu dịch quốc tế
và nhờ đó góp phần vào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm, thu
nhập thực tế và việc phát triển nguồn lực sản xuất của tất cả các thành viên,
coi đó là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế.
- Tăng cường ổn định ngoại hối nhằm duy trì một cách có trật tự hoạt động
giao dịch ngoại hối giữa các thành viên và tránh việc phá giá tiền tệ để cạnh
tranh.
- Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nước
lần vào đầu năm 1986, một lần vào đầu năm 1991.
Tuy nhiên sau hơn hai thập kỷ, hệ thống này đã bộc lộ nhiều yếu kém. Hệ thống
Bretton Woods sụp đổ hoàn toàn vào năm 1973 khi Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố
ngừng chuyển đổi USD ra vàng.
Lý do: Mỹ không còn đủ khả năng về dự trữ vàng để tiếp tục quy đổi với USD
theo tỷ giá 35 USD/ounce vàng. Ðể đáp ứng được yêu cầu dự trữ ổn định quỹ tiền tệ quốc
tế trong hoàn cảnh mới của nền kinh tế quốc dân, IMF yêu cầu các nước thành viên thực
hiện 7 nghĩa vụ cũ là:
- Thi hành chính sách tự do mua bán vàng trên thị trường.
- Tạo điều kiện cho đồng tiền của các nước được chuyển đổi tự do.
- Loại bỏ dần các hành chế về hối đoái.
- Tôn trọng quy định của các thành viên khác về hối đoái phù hợp với quy
định của IMF.
- Cung cấp thông tin tài chính cho IMF
- Hợp tác với các nước khác việc ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế
về tiền tệ .
- Duy trì 1 tỷ giá hối đoái cố định .
Hệ thống tiền tệ mà IMF quản lý từ 1978 đến nay được gọi là hệ thống tỷ giá thả
nổi có quản lý (hệ thống Jamaica). Nhiều cường quốc ấn định tỷ giá của mình theo cơ chế
thả nổi có quản lý. Theo cơ chế này IMF có vai trò lớn và thường kiến nghị, tác động đến
chính sách quản lý tỷ giá của các nước thông qua các điều kiện tín dụng. Tuy tác động,
quản lý hệ thống tiền tệ quốc tế theo nhiều cách gián tiếp nhưng IMF đã thực hiện chức
năng duy trì ổn định hệ thống tỷ giá hối đoái cố định tương đối l cách có hiệu quả. Bên
cạnh đó, việc thực hiện chức năng này còn được hỗ trợ bởi các hoạt động thực hiện các
chức năng khác.
Cấp tín dụng cho các nước thành viên có khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán
Ðể thực hiện mục tiêu trọng tâm là duy trì sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc tế
IMF đã cung cấp cho các nước thành viên các khoản tín dụng cho các nước có khó khăn
tạm thời về cán cân thanh toán. Khi một nước rơi vào tình trạng này thì buộc họ phải
giảm dự trữ ngoại hối hoặc đi vay để tài trợ cho các hoạt động này. Hậu quả là các nước
hạn, nếu một nước muốn vay Bảng Anh thì khi đó IMF mới yêu cầu Anh phải đóng. Số
tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
- Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành
viên vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính.
- Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được
vay và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho
các nước thành viên. Dĩ nhiên, nước thành viên nào càng đóng góp nhiều
thì khi cần nó càng được vay nhiều.
8
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
- Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của
nước thành viên.
Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ
sau khi phân tích đánh giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó. Nước càng
giàu, lệ phí càng cao. Khoản tiền đóng góp của các nước thành viên tạo nên nguồn tài
chính cho IMF sử dụng. Tổng số tiền đóng góp các nước thành viên cho đến nay khoảng
210 tỷ USD, mặc dù trên thực tế số tiền sử dụng được không thể coi là lớn bởi vì các
nước thành viên nộp 75% số lệ phí của họ bằng tiền nội địa và bởi vì hầu hết đồng tiền
quốc gia của nhiều nước không phổ biến trong thanh toán quốc tế.
Rút vốn dự trữ: Các nước thành viên có quyền tự động rút vốn đối với 25% số vốn góp
bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi của mình để bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán. Rút vốn
dự trữ không mang tính chất vay mượn nên không phải chịu lãi suất mà chỉ thu lệ phí.
Tín dụng thông thường theo đợt
Hình thức này giúp các nước hội viên có nhu cầu bù đắp thiếu hụt trên cán cân
thanh toán có thêm nguồn tài chính, nhưng không tài tr ợ ngay một lần mà phân làm bốn
lần với những điều kiện giải ngân khác nhau.
Tài trợ bù đắp bất ngờ
Hình thức này giúp các nước hội viên khắc phục sự thiếu hụt trên cán cân thanh
toán do sự giảm mức xuất khẩu có tính chất tạm thời và mang tính khách quan.
Dự trữ điều hoà
Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) là tổ chức trực thuộc nhóm WB, được thành lập
năm 1960. IDA chuyên cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính cho các quốc gia nghèo nhất
thế giới với mục tiêu nhằm xóa đói giảm nghèo thông qua việc cung cấp các khoản cho
vay không có lãi suất (còn gọi là khoản tín dụng) cũng như các khoản viện trợ không
hoàn lại cho các chương trình/dự án để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa bỏ bất bình
đẳng cũng như cải thiện đời sống.
IDA được tài trợ từ nguồn đóng góp của các quốc gia giàu có trên thế giới và
nguồn IBRD và IFC. Ba năm một lần, WB, các nhà tài trợ và một số các quốc gia đi vay
sẽ nhóm họp để quyết định bổ sung nguồn vốn cho IDA. Kể từ khi thành lập tới nay, IDA
đã tổ chức 16 phiên họp để kêu gọi các nhà tài trợ góp vốn bổ sung cho hoạt động của
IDA.
Tiêu chuẩn để được vay IDA tùy thuộc vào mức độ đói nghèo tương đối của quốc
gia đó, được xác định theo tỷ lệ Tổng thu nhập Quốc dân (GNI) theo đầu người dưới
ngưỡng quy định của WB và được cập nhật hàng năm (hiện nay ngưỡng này là 1.135
USD).
10
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
b. Hoạt động của WB tác động lên cán cân thanh toán và chu chyển
vốn tại Việt Nam
Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia (CPS)
Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia (CPS) giai đoạn 2012 – 2016 là Chiến lược hỗ trợ đầu
tiên của WB dành cho Việt Nam kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành quốc gia có thu
nhập trung bình thấp. Đây là Chiến lược được WB xây dựng để hỗ trợ Chính phủ Việt
Nam thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2015. Nội dung CPS
lần này của WB tập trung chủ yếu vào hỗ trợ Chính phủ thực hiện các nội dung bao
gồm: (i) tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam; (ii) tăng tính bền vững của quá trình
phát triển; và (iii) mở rộng điều kiện tiếp cận các cơ hội kinh tế và xã hội. Đây là những
nội dung mà Chính phủ Việt Nam cho rằng là phù hợp với các nội dung đột phá của Kế
hoạch Phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2015 của Việt Nam (Tăng cường nền tảng thể chế,
phát triển cơ sở hạ tầng và con người).
Ngoài ra, vừa qua, WB đã cam kết sẽ phối phối hợp với IMF để hỗ trợ Việt Nam
thực hiện Chương trình Đánh giá Khu vực Tài chính (FSAP) để giúp Việt Nam đánh giá
tổng thể khu vực tài chính, từ đó có kế hoạch tăng cường năng lực nhằm đáp ứng với nhu
cầu của sự phát triển kinh tế. Trong thời gian tới, WB/IMF sẽ phối hợp với Việt Nam tiến
hành các công việc cần thiết để xây dựng Chương trình và chuẩn bị cho quá trình thực
hiện (dự kiến triển khai vào cuối năm 2012).
Tư vấn chính sách:
Trong thời gian qua WB còn hỗ trợ Việt Nam trong việc đưa ra tư vấn về chính
sách giúp Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ thể chế trên mọi lĩnh vực và giúp Việt Nam ổn
định kinh tế vĩ mô, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Điều phối các nhà tài trợ:
Hàng năm, Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) do WB đồng chủ
tọa được tổ chức nhằm vận động các nhà tài trợ cung cấp hỗ trợ tài chính, kỹ thuật và
điều phối viện trợ giữa các nhà tài trợ cho Việt Nam. Đây là một diễn đàn giữa Chính phủ
Việt Nam và đại diện của khoảng 50 các nhà tài trợ song phương và đa phương cho Việt
nam. Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và quốc tế, các đại diện của Diễn đàn doanh
nghiệp Việt Nam tham gia Hội nghị với tư cách quan sát viên. Hội nghị CG được tổ chức
2 lần/năm: Hội nghị chính thức thường được tổ chức vào tháng 12 hàng năm tại Hà nội.
Hội nghị không chính thức giữa kỳ được tổ chức vào tháng 5 hoặc tháng 6 hàng năm.
Hài hoà hoá thủ tục:
WB là một trong những nhà tài trợ đi tiên phong trong việc thực hiện Cam kết Hà
Nội bằng cách tăng cường tài trợ thông qua các phương thức tiếp cận chương trình,
ngành, quốc gia. Cách tiếp cận chương trình có những đặc tính sau: (i) Vai trò lãnh đạo
của nước tiếp nhận, (ii) Chương trình tổng hợp và khung ngân sách duy nhất, (iii) Quá
trình phối hợp tài trợ và hài hoà thủ tục và (iv) Nỗ lực sử dụng nhiều hơn quy trình và
12
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
quy định của Chính phủ trong toàn bộ chu trình. Các phương thức cung cấp hỗ trợ của
WB ở Việt Nam trong tương lai sẽ bao gồm dự án, chương trình, hỗ trợ ngân sách chung
và hỗ trợ ngân sách có mục tiêu nhằm khuyến khích nâng cao hiệu quả và hiệu lực của
Nam đối phó với khủng hoảng và chống suy giảm kinh tế. Đến nay, Chính phủ đã
13
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
hoàn thành các điều kiện của Chương trình và rút toàn bộ số vốn trị giá 850 triệu
USD.
Ngoài các chương trình lớn nói trên, WB còn hỗ trợ Việt Nam nhiều chương trình
hỗ trợ ngân sách trực tiếp khác nhằm hỗ trợ Việt Nam thực hiện các Chương trình Mục
tiêu Quốc gia như: Chương trình 135 giai đoạn 2, Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giáo
dục cho mọi người, Chương trình cải cách ngành điện
Nhìn chung, các khoản vay này đã hỗ trợ việc thực hiện cải kinh tế Việt Nam;
đồng thời góp phần giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ của ngân sách nhà nước cũng
như tăng dự trữ ngoại hối của nhà nước.
Chương trình Đánh giá Khu vực Tài chính (FSAP)
Nhằm hỗ trợ các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia hội viên của Ngân
hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tăng cường sự ổn định và phát triển
của khu vực tài chính của mình, từ đó góp phần vào sự ổn định và phát triển của khu vực
tài chính trên toàn cầu, từ năm 1999, WB và IMF đã khởi xướng và phối hợp với các
nước hội viên thực hiện Chương trình Đánh giá Khu vực Tài chính (FSAP). Đây là dịp để
các quốc gia tiến hành rà soát tổng thể khu vực tài chính của mình nhằm tìm ra những
điểm mạnh, điểm yếu để đưa ra định hướng điều chỉnh chính sách phù hợp; đồng thời
đưa trên những đánh giá này, xây dựng nhu cầu tăng cường năng lực nhằm đảm bảo xây
dựng được một hệ thống tài chính đủ mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Các nước tham gia Chương trình FSAP trên cơ sở tự nguyện. Các nước không
phải là hội viên của WB và IMF cũng có thể được hỗ trợ thực hiện Chương trình khi có
đề nghị chính thức từ phía Chính phủ. Đến nay đã có 148 nước hoàn thành đợt đánh giá
đầu tiên của Chương trình FSAP.
Mục tiêu của các đánh giá trong FSAP là nhằm đưa ra phân tích tổng hợp về sự
phát triển và tính ổn định về tài chính. Trong đó, đánh giá tính ổn định về tài chính có
nghĩa là xem xét về: (i) một môi trường kinh doanh mà có thể ngăn ngừa một số lượng
lớn các định chế tài chính khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và đổ vỡ; (ii) các điều
triển và làm tưvấn.
- Tăng cường đầu tư vốn cho các nước tư nhân vì mục tiêu phát triển
- Đáp ứng yêu cầu trợ giúp bằng cách phối hợp chính sách và kế hoạch phát
triển của các nước hội viên
b. Tác động của ADB lên cán cân thanh toán và chu chuyển tiền tệ
Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, tầm quan trọng của hoạt động hỗ trợ của ADB
được xác định qua quá trình chuyển đổi kinh tế của đất nước và sự tăng nhanh chóng của
đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước vào khu vực sản xuất chế tạo. Đặc biệt, các hoạt
động kinh tế phát triển doc theo các hành lang giao thông chủ chốt sau khi nâng cấp
tuyến quốc tế Hà Nội – Lạng Sơn, Hành lang Kinh tế Đông – Tây thuộc GMS, tuyến
quốc lộ thành phố Hồ Chí Minh – Phnôm Pênh đã giúp tạo ra công ăn việc làm và giảm
đáng kể tỷ lệ nghèo tại khu vực này, ADB cũng đang hỗ trợ giải quyết vấn đề thiếu điện
15
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
cung cấp, một trở ngại quan trọng đối với nỗ lực tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao, thông qua các khoản đầu tư vào các nhà máy nhiệt điện, thủy điện và hệ thống
truyền tải điện.
Hoạt động hỗ trợ ADB cho khu vực tư nhân thông qua các khoản cho vay chính
sách và phát triển các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã trợ giúp cho những nỗ lực của
chính phủvà khiến các công ty tư nhân phát triển mạnh cả về số lượng cũng như vốn đăng
ký.
Hỗ trợ của ADB đối với phát triển nông thôn và thủy lợi đã giúp tăng năng suất
nông nghiệp và thu nhập của người nông dân thông qua việc nâng cao khả năng tiếp cận
thị trường và các đầu vào sản xuất, đa dạng hóa các loại cây trồng có giá trị cao và cải
tiến các thông lệ quản lý nguồn nước.
Kể từ những năm 1990, hỗ trợ của ADB cũng đã có tác động đối với các lĩnh vực
xã hội, chẳng hạn như trong lĩnh vực y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh xuyên biên giới,
giáo dục trung học và giáo dục chuyên nghiệp. ADB đã trợ giúp Chính phủ nâng cao chất
lượng của cán bộ nhà nước thông qua chương trình đào tạo và hiện đại hóa quản lý nhà
nước và hỗ trợ những nỗ lực đấu tranh của Chính phủ chống lại nạn tham nhũng và
Phi chính phủ
Hỗ trợ kỹ
thuật
Viện trợ không hoàn
lại
Tổng cộng
764.7 25.0 26.9 5.2 821.8
- Tổng cộng các khoản cho vay lũy kế (tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008):
6.294,1 triệu USD.
- Tổng số giải ngân lũy kế (tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008): 2.633,7 triệu
USD
Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những đối tác nhận được nguồn hỗ trợ ưu đãi
lớn nhất từ Quỹ Phát triển Châu Á (ADF), với khoản phân bổ dự kiến khoảng 713,8 triệu
USD cho giai đoạn 2009-2010. Hoạt động vay vốn thông thường (OCR) cũng đem lại
nguồn vốn bổ sung cho các dự án có tỷ suất thu hồi vốn cao hơn, chẳng hạn như các dự
án cơ sở hạ tầng, với mức phân bổ khoảng 1 tỷ USD trong năm 2009. Tuy nhiên, nhu cầu
vay vốn thông thường còn lớn hơn mức phân bổ đó nhiều và dự kiến sẽ còn tiếp tục ở
mức cao trong trung hạn.
Do Việt nam nằm trong số những quốc gia rất dễ chịu ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu, cùng với các đối tác phát triển khác, ADB đang chuẩn bị hỗ trợ việc thực thi chương
trình quốc gia của Chính phhur để giải quyết những tác động của biến đổi khí hậu.
Bảng Tổng số các khoản cho vay lũy kế của ADB tính đến ngày 31 tháng 12 năm
2008
Lĩnh vực Số lượng
Tổng giá trị (triệu
USD)
Tỷ lệ (%)a
17
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
Nông nghiệp và tài nguyên thiên
thanh toán quốc tế (IMF Institute 1 Biên dịch: Tú Anh Hiệu đính: Xuân
Thành_Viện Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Lập trình và chính sách tài chính, 1999.)
18
Nhóm 1_K09404B_Vai trò của các thiết chế tài chính quốc tế trong chu chuyển vốn và cán cân thanh toán
-
FICEXT/VIETNAMINVIETNAMESEEXTN/0,,contentMDK:22278843~pagePK
:1497618~piPK:217854~theSitePK:486752,00.html
19