cá nhân luật hành chính 2 phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm - Pdf 23

A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tiễn, ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó xác
định. Vì vậy, nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề phân biệt vi phạm hành chính với
tội phạm thì sẽ rất dễ để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm hay xử lí oan cho người vi
phạm chưa đến mức bị xử lý hình sự.
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm chung:
Trước khi đưa ra những dấu hiệu để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm hình
sự, ta cần hiểu rõ khái niệm vi phạm hành chính cũng như khái niệm tội phạm.
1. Khái niệm vi phạm hành chính:
Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm hành
chính được định nghĩa một cách gián tiếp: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng
đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý
hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải là tội
phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Trên cơ sở đó, có thể
đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi do cá
nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về
quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt
hành chính.
2. Khái niệm tội phạm:
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy
định khái niệm về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ
quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Từ định nghĩa đầy đủ trên, có thể định nghĩa tội phạm một cách khái quát như sau: Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình
phạt.

phạm hành chính với tội phạm hình sự. Về tổng quát, vi phạm hành chính có mức độ
nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm hình sự. Mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố này thường
được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chế tài
của Luật hành chính chủ yếu là phạt tiền không có hình phạt tù, còn chế tài của luật hình
sự chủ yếu là phạt tù có thời hạn. Cụ thể như quy định về môi trường: Khoản 1, Điều 182
Bộ Luật hình sự quy định: “Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây
ô nhiễm môi trường…thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng,
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Còn ở Luật
hành chính, tại khoản 1, Điều 10 Nghị định 81/2006/NĐ-CP: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt
tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt quá tiêu chuẩn
cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50m
3
/ngày (24
giờ) ”.
Trong BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, các nhà làm luật đã quy định
tương đối cụ thể những dấu hiệu xác định các loại tội phạm cụ thể và những dấu hiệu này
có thể giúp chúng ta xác định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính. Căn cứ vào
các quy định hiện hành, việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm
thường dựa vào những căn cứ sau đây:


Mức độ gây thiệt hại cho xã hội:
Đối với nhiều loại tội phạm, nhà làm luật thường mô tả một cách cụ thể mức độ gây
thiệt hại cho xã hội của tội phạm trong BLHS. Dựa vào dấu hiệu này, ta có thể phân biệt
ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự. Mức độ gây thiệt hại có thể biểu
hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mức độ gây thương tật, giá trị tài sản bị xâm
hại, giá trị hàng hóa phạm pháp
Với biểu hiện mức độ gây thương tật, ta có thể lấy ví dụ như sau: A và B cùng là sinh
viên trường Đại học Luật Hà Nội, do mâu thuẫn nên A đã đánh B. Trong trường hợp này

năm. Ở Luật hình sự mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn nên hình phạt cũng nghiêm
khắc hơn và các tình tiết đòi hỏi đầy đủ, thể hiện đúng sự nguy hiểm của hành vi buộc
người phạm tội chịu chế tài đúng với mức độ họ gây thiệt hại cho xã hội.
c. Về mặt chủ quan :
Trong BLHS, các nhà làm luật quy định 4 hình thức lỗi được quy định cụ thể tại điều
9,10 BLHS bao gồm: lỗi cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp; lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu
thả. Vi phạm hành chính chỉ quy định 2 hình thức lỗi là lỗi cố ý và vô ý. Các trường hợp
vi phạm mà lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp hoặc vô ý vì quá tự tin hay do cẩu thả đều xử
lý như nhau.
d. Hậu quả pháp lý:
Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật nặng nhất và phải chịu hình phạt. Còn vi phạm
hành chính có mức độ nhẹ hơn, cũng phải chịu cưỡng chế của nhà nước nhưng ở mức độ
ít nghiêm khắc hơn. Người vi phạm hành chính có thể bị xử phạt hành chính.
C. KẾT LUẬN
Ngoài những đặc điểm chung là vi phạm pháp luật cả tội phạm và vi phạm hành
chính đều có những dấu hiệu riêng biệt. Vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó
phân biệt bởi ranh giới giữa chúng khá gần nhau và dễ gây nhầm lẫn trong xét xử. Tuy
3
nhiên, việc phân tách cụ thể, riêng rẽ hai phạm trù này là cần thiết và có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc xử lý vi phạm.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
1. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb CAND, Hà
Nội – 2008.
2. Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình luật hành chính và tài phán hành chính, Nxb
Giáo dục, Hà Nội – 2005;
3. Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 ;
4. Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008);
5. Nghị định của Chính phủ số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 về quy định xử phạt
hành chính trong lĩnh vực an ninh và an toàn trật tự xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status