S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
Đại học thái nguyên
tr-ờng đại học s- phạm
============
nguyễn thị thu h-ờng
Quản lý hoạt động học thực hành nghề
ở tr-ờng trung cấp nghề hà giang
chuyên ngành: Quản lý giáo dục
mã số : 60 14 05 Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS. TS: Phạm Hồng Quang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục sơ đồ, bảng biểu
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
1
Mục đích nghiên cứu
3
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3
Giả thuyết khoa học
3
Nhiệm vụ nghiên cứu
3
Phạm vi nghiên cứu
3
* Biện pháp 1: Giáo dục động cơ học THN cho học sinh gắn liền với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
nội quy, quy chế thực hành nghề
62
* Biện pháp 2: Phát triển nội dung chương trình đào tạo thực hành
nghề phù hợp với thực tiễn
65
* Biện pháp 3: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy thực
hành nghề của giáo viên
67
* Biện pháp 4: Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và liên kết
với các cơ sở sản xuất .
71
* Biện pháp 5: Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá hoạt động học
thực hành nghề .
76
* Mối quan hệ giữa các biện pháp
79
3.3. Khảo nghiệm các biện pháp quản lý
81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Nhà xuất bản giáo dục
QLGD
Quản lý giáo dục
QLHS
Quản lý học sinh
SL
Số lượng
TB
Trung bình
TBXH
Thương binh xã hội
TH
Thực hành
THN
Thực hành nghề
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
Bảng 2.16. Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động học thực hành
nghề của học sinh
Bảng 2.17. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, đảm bảo trang thiết bị, vật tư thực
hành phục vụ cho hoạt động học thực hành nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Bảng 2.18. Các biện pháp tổ chức quản lý hoạt động học thực hành nghề hiện nay.
Bảng 2.19. Các biện pháp chỉ đạo quản lý hoạt động học thực hành nghề.
Bảng 2.20. Các biện pháp cán bộ quản lý, giáo viên đã tiến hành quản lý hoạt động
học thực hành nghề
Bảng 2.21. Đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên về thực trạng hoạt động học thực
hành nghề.
Bảng 2.22. Kết quả học tập của học sinh
Bảng 3. Mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước những đòi hỏi bức bách của thời đại và thực tiễn của nước ta trong
tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta chủ trương và
nhấn mạnh việc phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nguồn
lực con người hay nguồn nhân lực với ý nghĩa như một yếu tố cơ bản của nội lực
kinh tế, xã hội sẽ đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu phát triển
đó. Nguồn nhân lực đó chỉ có thể phát triển đầy đủ, có hệ thống và bền vững thông
qua các tác động của hoạt động giáo dục - đào tạo, trong đó dạy nghề là một bộ
phận rất quan trọng.
Hiện nay nguồn nhân lực của nước ta tập trung chủ yếu ở lĩnh vực lao động
động học THN của HS chiếm khoảng 65 - 70% thời lượng trong chương trình đào
tạo nghề. Vì vậy thực hiện theo phương châm “Học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội”, năng lực THN của học sinh
vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo. Học THN là hoạt
động học tập không thể thiếu được của mọi học sinh đang học tập tại trường đào tạo
nghề. Tổ chức hoạt động học THN một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu
quả là trách nhiệm của giáo viên, học sinh và toàn bộ lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của học THN, trong những năm qua nhà trường
luôn quan tâm đến quản lý hoạt động học THN. Tuy nhiên công tác quản lý đào tạo
nghề nói chung đặc biệt là quản lý hoạt động THN nói riêng ở trường Trung cấp
nghề Hà Giang còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng tuyển đầu vào
thấp, học sinh chưa có kỹ năng và phương pháp học khoa học, hợp lý. Trong khi đó,
việc đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy THN của giáo viên còn
chậm. Công tác quản lý hoạt động học THN chủ yếu vẫn là quản lý hành chính,
chưa thực sự có hình thức tổ chức và biện pháp quản lý phù hợp.
Từ những tồn tại trên, việc tìm ra các biện pháp quản lý để nâng cao chất
lượng học THN là nhiệm vụ hết sức cấp thiết đối với trường Trung cấp nghề Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Giang trong giai đoạn hiện nay. Do đó chúng tôi chọn đề tài: "Quản lý hoạt động
học thực hành nghề ở trường Trung cấp nghề Hà Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về học THN, đề xuất một số biện
pháp quản lý hoạt động học THN nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở
trường Trung cấp nghề Hà Giang.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy THN ở trường Trung cấp nghề
Hà Giang.
- Phương pháp quan sát, điều tra bằng ankét về thực trạng hoạt động tự học và
quá trình quản lý hoạt động học THN ở trường Trung cấp nghề Hà Giang.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều tra, các
biện pháp quản lý.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong quản lý hoạt động học THN.
7.3. Nhóm phƣơng pháp xử lý số liệu
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỌC THỰC HÀNH NGHỀ VÀ QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG HỌC THỰC HÀNH NGHỀ
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, học tập là vấn đề luôn được quan tâm
nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích cực của
Đối với học nghề ở nước ta hiện đang thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng
lần thứ X về phát triển mạnh hệ thống giáo dục, Nghị quyết số 03/2007/ NQ-CP
ngày 19/01/2007 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực
hiện kế hoạch KT-XH và ngân sách nhà nước năm 2007 đã nêu rõ: “Rà soát, sắp
xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo, dạy nghề hiện nay theo hướng nâng cao chất
lượng và mở rộng qui mô các trường dạy nghề để tăng qui mô đào tạo nghề theo
hướng tốc độ tăng qui mô đào tạo nghề nhanh hơn tốc độ tăng qui mô đào tạo đại
học, cao đẳng; nâng tỉ lệ HS tốt nghiệp phổ thông được học nghề, nhất là nghề có
trình độ cao, đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật trong quá trình phát triển của đất nước.
Công tác đào tạo nghề chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong xã hội, giúp
mỗi cá nhân phát huy hết năng lực, tiềm năng của mình để “Vừa ích nước, vừa lợi
nhà”. Nghề gắn liền với một tương lai, tiền đồ sáng lạn của cá nhân, của toàn xã
hội, đặc biệt giúp người lao động có thu nhập cao, ổn định đảm bảo cho cuộc sống
ấm no, hạnh phúc.
Điều 4. Chương 1 Luật dạy nghề năm 2006. Mục tiêu dạy nghề: Mục tiêu
dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực
thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo [22].
Nhà giáo dục người Nga TraKhôan V.E.khẳng định: “Trình độ đào tạo công
nhân lành nghề ở các nước Xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp
đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất trong xí nghiệp” và nhấn
mạnh “Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy
nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được”.
UNESCO: Jacques Delors, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho
thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết “Học
tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột mà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
ủy ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục”.Theo tác giả vấn đề
học nghề của học sinh là một căn bản không thể thiếu được, đồng thời đã tổ chức
sĩ: “Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo hướng tiếp cận năng lực
thực hiện cho sinh viên sư phạm kỹ thuật” của tác giả Nguyễn Ngọc Hùng.
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu trên đã có những tác động tích cực đối với
công tác quản lý đào tạo nghề, quản lý các hoạt động thực tiễn trong đào tạo nghề.
Tuy nhiên các đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề quản lý giảng dạy, đào tạo là
chủ yếu hoặc triển khai ứng dụng trong một lĩnh vực quá rộng. Hoạt động học thực
hành nghề là một phần của yêu cầu trong đào tạo nghề nhưng đóng vai trò then chốt
trong quá trình đào tạo. Những công trình nghiên cứu về quản lý học thực hành nghề
ở các trường đào tạo nghề ít được đề cập.
Vì vậy “Quản lí hoạt động học thực hành nghề ở trường Trung cấp nghề Hà
Giang” là vấn đề quan trọng, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong
giai đoạn hiện nay.
1.2. Những vấn đề lý luận về hoạt động học thực hành nghề
1.2.1. Khái niệm hoạt động học thực hành nghề
* Hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục
đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành
vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị. Hoạt động này chỉ có thể thực
hiện ở một trình độ khi mà con người có được khả năng điều chỉnh những hoạt động
của mình bởi một mục đích đã được ý thức. [96]
Hoạt động học là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dưới sự
dạy bảo, hướng dẫn của nhà giáo. Hoạt động học luôn luôn đi đôi và gắn liền với
hoạt động dạy của nhà giáo và hợp thành hoạt động dạy học trong lĩnh vực sư
phạm. [23; 201]
Hoạt động học là quá trình hoạt động của HS trong đó HS dựa vào nội dung
dạy học, vào sự chỉ đạo của GV mà tự chỉ đạo toàn bộ hoạt động lĩnh hội tự giác,
tích cực của bản thân nhằm đạt tới mục tiêu dạy học. Nó là một hoạt động nhận thức
độc đáo, thông qua hoạt động học mà người học chủ yếu thay đổi chính bản thân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
4. Mức độ tự động hóa: Kỹ năng tự động hóa, trên cơ sở đó hình thành kỹ
năng khác cao hơn;
5. Mức độ biến hóa: Là khả năng di chuyển kỹ năng sang các tình huống mới
hoặc hình thành các kỹ năng phức tạp.
Các mức độ trên được biểu hiện qua các phẩm chất: Tính chính xác; Tốc độ
thực hiện hành động; Khả năng độc lập để thực hiện công việc; Tính linh hoạt: thể
hiện khả năng hành động hợp lý trong các hoàn cảnh khác nhau (Quan niệm về chất
lượng đào tạo nghề được nhiều người thừa nhận là phải nhấn mạnh vào khả năng
thích ứng của sức lao động); Sự lựa chọn các phương tiện và điều kiện làm việc.
Nắm được sự hình thành kỹ năng để quản lý hoạt động học THN của HS là điều cần
thiết và quan trọng đối với nhà quản lý và đặc biệt là các trường đào tạo nghề.
Theo tác giả N.Đ.Lêvitôv, để hình thành kỹ năng con người không chỉ nắm lý
thuyết về hành động mà phải biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Việc vận dụng
lý thuyết vào thực tiễn chia thành hai bước tương ứng với hai trình độ kỹ năng khác
nhau: Kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng phát triển (phức tạp). Kỹ năng sơ đẳng được
biểu hiện ở những thể nghiệm đầu tiên trong việc thực hiện có kết quả các động tác
cần thiết; kỹ năng phức tạp là kỹ năng phát triển ở giai đoạn cao hơn, nó được hình
thành trong quá trình vận dụng những tri thức, hiểu biết vào thực tiễn và được tập
luyện dần dần trở thành kỹ xảo ngày càng hoàn thiện. [33; 36]. Theo chúng tôi, kỹ
năng nghề của học sinh trong đào tạo là mức độ kỹ năng nghề đạt được trong quá
trình học THN. Trong quá trình này, lúc đầu kỹ năng nghề của học sinh chỉ đạt ở
mức sơ đẳng, làm theo mẫu, thực hiện các kỹ năng chưa thành thạo và chỉ thực hiện
kỹ năng trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định với những đối tượng nhất định.
Sau đó, qua nhiều lần luyện tập, việc thực hiện các kỹ năng sẽ đạt ở mức thành thạo,
học sinh đã có thể thực hiện một cách chủ động các kỹ năng nghề trong những điều
kiện và hoàn cảnh khác nhau. Đặc biệt một số hành động được củng cố và tự động
hóa thành kỹ xảo trong quá trình luyện tập và hoạt động nghề nghiệp sau này.
* Học thực hành nghề: Là khái niệm đi liền, xuyên suốt quá trình đào tạo
năm, hệ tốt nghiệp THCS học 03 năm (01 năm học văn hóa), độ tuổi từ 15 đến 21.
Đây là lứa tuổi có sức khỏe, nhạy bén, năng động, tiếp thu nhanh, nhận thức phát
triển, biết kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc và nhân loại; Có xu hướng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
tích cực hóa xã hội, có tính tự lập, độc lập và tự giác cao, có nhu cầu tự khẳng định,
tự đánh giá toàn diện về bản thân mình.
- Về mặt sinh lý: Sự phát triển cơ thể tương đối hoàn chỉnh và ổn định, hệ
thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trưởng thành. Nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền
được phát triển cao dưới những điều kiện môi trường sống và môi trường giáo dục.
- Về mặt tâm lý: Một đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi này là sự phát
triển tự ý thức. Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức có chức năng điều chỉnh
nhận thức và thái độ đối với bản thân. Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự
kiểm tra, tự đánh gia về hoạt động và kết quả tác động của bản thân về tư tưởng,
tình cảm, đạo đức, hứng thú .v.v. Là sự tự đánh giá tương đối toàn diện về chính
bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống. Tự ý thức chính là điều kiện để hoàn
thiện và phát triển nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu xã hội.
- Về mặt tình cảm: Đây là thời kỳ có nhiều cảm xúc, nhiều tình huống mới
nảy sinh đòi hỏi học sinh phải có những suy nghĩ, quyết định đúng đắn.
- Về mặt xã hội: Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu mở rộng mối quan hệ xã
hội, quan tâm đến sự phát triển kỹ năng mới, cách ứng xử mới để đối diện với môi
trường xã hội ngày càng mở rộng. Đặc biệt các em đã quan tâm đến kế hoạch đường
đời, tự xác định và lựa chọn nghề nghiệp cho mình. Đây là giai đoạn chuyển từ sự
chín muồi về thể lực sang trưởng thành về phương diện xã hội, là giai đoạn hình
thành và ổn định tính cách. Các em bắt đầu có kế hoạch riêng cho hoạt động của
bản thân và độc lập trong phán đoán cũng như hành vi. Các em xác định con đường
sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong
mọi lĩnh vực của cuộc sống. Điều đó cho thấy các em bắt đầu có tính độc lập, tính
tự lập và tự quản cao.
- Đặc điểm nhận thức: Nhìn chung, các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan
sát, trí nhớ, tính kiên trì .v.v. của học sinh chưa được chuẩn bị chu đáo. Quá trình
chuyển hoá nhiệm vụ, yêu cầu học tập cũng như cơ chế hình thành ở bản thân học
sinh diễn ra chậm. Tuy nhiên, bên cạnh đó nhận thức cảm tính của học sinh phát
triển khá tốt: cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo, tuy còn thiếu tính
hoàn thiện, cảm tính, mơ hồ, không thấy được bản chất của sự vật hiện tượng. Quá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
trình tri giác thường gắn với hành động trực tiếp, đối tượng tri giác chủ yếu là sự vật
gần gũi.
Khả năng tư duy kinh nghiệm của học sinh đạt mức cao so với trình độ chung
của lứa tuổi, song khả năng tư duy lý luận còn thấp so với yêu cầu; trình độ các thao
tác tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát nhiều khi thiếu toàn diện, hệ
thống. Tri thức, thói quen được hình thành bằng con đường kinh nghiệm ảnh hưởng
đến quá trình tiến hành các thao tác trí tuệ của các em. Tuy nhiên, trong thao tác tư
duy thì khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát ở các em còn phát triển chậm, khả
năng tư duy nói chung và khả năng tiến hành các thao tác trí óc nói riêng hình thành
khó khăn.
Quá trình tư duy đối với các khái niệm khoa học và khái niệm thông thường
thì sự hiểu biết thuộc tính bản chất khái niệm và sự vận dụng các khái niệm đó vào
thực tế chỉ đạt mức gần trung bình. Các em hay lầm lẫn giữa thuộc tính bản chất với
thuộc tính không bản chất của khái niệm.
Những đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh chi phối mạnh mẽ các thuộc
tính tâm lý khác như: khả năng ghi nhớ có chủ định chậm được hình thành, khả
năng tự điều chỉnh ghi nhớ có ý thức của học sinh còn yếu. Đặc biệt, về mặt ngôn
ngữ các em còn gặp khó khăn vì trước khi đi học các em thường dùng tiếng mẹ đẻ.
Trong khi đó quá trình nhận thức, tiếp thu tri thức ở trường lại diễn ra bằng ngôn
ngữ tiếng Việt. Như vậy, ở góc độ nhất định, sự giao thoa ngôn ngữ gây khó khăn
trong hoạt động nhận thức khi mà công cụ tư duy bị hạn chế. Trong học tập các em
thời lượng đào tạo. Ngay từ những môn cơ sở rồi đến các môn chuyên ngành học
thực hành nghề kết hợp với học lý thuyết tại các xưởng thực hành của trường. Sau
đó hoạt động học THN được củng cố, bổ sung, mở rộng qua phần thực hành ở cơ sở
sản xuất. Qua đó giúp HS ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, phát triển hứng
thú học tập, rèn luyện kỹ năng THN. Như vậy, môi trường học THN hoàn toàn
thuận lợi dưới sự quản lý, tổ chức điều khiển thống nhất về mục tiêu, kế hoạch, nội
dung, phương thức, thời gian.
Phương pháp học THN chủ yếu theo truyền thống giáo viên hướng dẫn, làm
mẫu sau đó HS thao tác, luyện tập để hình thành hệ thống kỹ năng thực hành. Hình
thức học THN trong nhà trường thường áp dụng theo 3 hình thức đó là tổ chức học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
theo toàn lớp, theo nhóm và từng cá nhân. Ngoài ra HS được thăm quan, THN ở
một số cơ sở sản xuất. Với hình thức đa dạng, phong phú, học sinh có thể tự học
một mình, học trao đổi nhóm với bạn, với giáo viên hay những công nhân có tay
nghề, học có giáo viên hướng dẫn chung, riêng hay làm cố vấn.
Thời gian dành cho học THN là 8 giờ/ngày nhưng do còn bị chi phối bởi cách
học, kế hoạch học, động cơ học tập nên mức độ thực hiện nội dung công việc còn
hạn chế. Phần lớn học sinh chỉ chú ý đến những bài tập, những nội dung TH mà
giáo viên sẽ kiểm tra.
Hoạt động học THN có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động tập thể, hoạt động
thực tiễn, hoạt động tự luyện tập của HS trong đó yếu tố quyết định kết quả học
THN chính là động cơ học THN. Song sự nỗ lực của bản thân học sinh trong học
THN chưa cao, thiếu tính kiên trì, ý chí rèn luyện, khi gặp khó khăn trong quá trình
luyện tập hầu hết các em bỏ qua, chỉ một số ít hỏi thầy, hỏi bạn hoặc tự mày mò,
tiếp tục suy nghĩ, luyện tập để hoàn thành tốt nhiệm vụ học THN.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động học THN ở trƣờng Trung cấp nghề
Hoạt động học THN ở trường Trung cấp nghề ảnh hưởng bởi các yếu tố tác
động, bao gồm hai yếu tố chính là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
- Yếu tố sức khoẻ cá nhân: Hoạt động học THN đòi hỏi tính kiên nhẫn, kiên
trì, tìm tòi, học hỏi trong suốt quá trình luyện tập. Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có
sức khoẻ tốt thì mới đảm bảo cho hoạt động học THN đạt hiệu quả.
Tóm lại: Có nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động học THN của học sinh, trong
đó các yếu tố chủ quan đóng vai trò cốt lõi, các yếu tố khách quan đóng vai trò chi
phối. Nắm được các yếu tố chi phối quá trình THN sẽ giúp quản lý tốt hoạt động
học THN. Rèn luyện, bồi dưỡng các kỹ năng luyện tập cùng với việc xác định mục
đích, động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức luyện tập là cần thiết; điều quan
trọng là học sinh phải có các kỹ năng tự luyện tập như tự giác, tích cực thực hành
tại xưởng của nhà trường, tìm tòi học hỏi tại các cơ sở sản xuất, tự kiểm tra đánh giá
tay nghề .v.v. để từ đó bồi dưỡng và nâng cao trình độ tay nghề trong quá trình học
THN ở nhà trường.
1.2.5. Vai trò của hoạt động học thực hành nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Nghị quyết của Bộ Chính trị đã nêu rõ tầm quan trọng của thực hành, thực
tập trong công tác đào tạo của các trường Đại học, Cao Đẳng và Dạy nghề “Người
cán bộ được đào tạo ở cấp độ không chỉ có lý thuyết mà cần nắm vững thực tiễn và
coi trọng việc rèn luyện tay nghề”. Việc rèn luyện tay nghề phải thường xuyên diễn
ra trong suốt khoá học, những đợt thực tập tốt nghiệp. Do đó hoạt động học thực
hành nghề, thực tập tốt nghiệp là khâu quan trọng trong chương trình đào tạo của tất
cả các trường đào tạo nghề. Trên con đường thực hiện nguyên lý : Học đi đôi với
hành, nhà trường gắn liền với xã hội, vị trí của học thực hành và thực tập tốt nghiệp
trở nên quan trọng. Trong các giai đoạn thực tập nội dung chương trình đào tạo mới
thể hiện toàn diện và đầy đủ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa học với
hành, mối quan hệ giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất gắn kết mật thiết hơn.
Thông qua quá trình thực hành nghề và thực tập tốt nghiệp giúp học sinh định
hình và ổn định xu hướng nghề nghiệp mà mình đã lực chọn. Từ đó học sinh có thái
độ tích cực với nghề, phát triển hứng thú, năng lực và lòng say mê rèn luyện kỹ