KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH, KHI DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THUỶ, CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI LỚP 10 THPT - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VŨ THỊ ÁNH
KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH,
KHI DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THUỶ,
CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI LỚP 10 THPT
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học lịch sử

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Nguyễn Quốc Pháp
SƠN LA, NĂM 2014
LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành khoá luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới
thầy giáo ThS. Nguyễn Quốc Pháp đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình

Phương pháp dạy học lịch sử
CNTT
Công nghệ thong tin
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
M. PowerPoint
Microsoft PowerPoint
THPT
Trung học phổ thông
BGĐT
Bài giảng điện tử
NXB
Nhà xuất bản MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1

đại, lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) 23
2.4. Những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử 25
CHƢƠNG 3. KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA
THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI NGUYÊN THUỶ, CỔ ĐẠI VÀ TRUNG
ĐẠI LỚP 10 THPT 28
3.1. Những yêu cầu đối với việc khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử 28
3.2. Sử dụng kênh hình kết hợp miêu tả, phân tích nhằm phát triển năng lực tri
giác, ghi nhớ, tái hiện và trí tưởng tượng của học sinh. 29
3.3. Sử dụng kênh hình kết hợp với câu hỏi nhằm phát triển năng lực tư duy cho
học sinh 33
3.4. Sử dụng kênh hình kết hợp với câu hỏi, bài tập nhằm củng cố, khắc sâu kiến
thức cho học sinh 37
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Nhà văn Nga Tecnưsiepxki đã từng viết: “có thể không biết, không cảm
thấy say mê học môn Toán, tiếng Hi Lạp hoặc La Tinh, Hoá Học; có thể không
biết hàng nghìn khoa học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không
yêu thích Lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí
tuệ ”. Vai trò của bộ môn lịch sử từ lâu đã được khẳng định góp phần quan trọng
vào thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ.
Khác với nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức lịch sử mang tính quá khứ,
tính không lặp lại,… chúng ta không thể tri giác trực tiếp các sự kiện, hiện tượng
lịch sử, vì thế bên cạnh kênh chữ thì kênh hình cũng giữ vai trò to lớn:

việc sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa, nắm vững nội dung, phương pháp
khai thác kênh hình trong sách giáo khoa theo hướng phát triển năng lực học
sinh; góp phần đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Trên đây là những lí do chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khai thác kênh hình
trong sách giáo khoa theo hướng phát triển năng lực học sinh, khi dạy học phần
lịch sử thế giới nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại lớp 10 THPT”, làm khoá luận
tốt nghiệp đại học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
I.A.Ilinna trong cuốn “ Giáo dục học ” tập 2, NXBGD, Hà Nội,1973 đã
đưa ra một số biện pháp như: phương pháp làm việc với sách giáo khoa,
phương pháp luyện tập, ôn tập, đặc biệt chú trọng phương pháp phát huy tính
tích cực của học sinh.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập I, II do Giáo sư Phan
Ngọc Liên chủ biên, NXB ĐHSP, 2010, đã nêu lên những lí luận cơ bản về khái
niệm, vị trí, vai trò cũng như phương pháp khai thác kênh hình trong sách giáo
khoa theo hướng phát triển năng lực học sinh.
Cuốn “Kênh hình trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông” tập I, GS.
TS. Nguyễn Thị Côi đã đề cập khá chi tiết về vai trò của các loại kênh hình, nó
giúp học sinh “làm việc” với sách giáo khoa trên cơ sở phát huy tính tích cực,
thông minh, sáng tạo, chứ không phải là phần minh hoạ để các em “giải khuây”

3
hay trang bị “nhồi nhét”, “chất đống” trong sách giáo khoa. Trong công trình
này cũng đã đề cập đến cách khai thác kênh hình trong sách giáo khoa ở trường
phổ thông và tiến hành khai thác một số kênh hình trong sách giáo khoa thuộc
phần Lịch sử thế giới nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại.
GS.TS Nguyễn Thị Côi trong bài viết “Tầm quan trọng của phương pháp
dạy học nêu vấn đề trong dạy học của việc sử dụng sơ đồ, tranh ảnh” đã khẳng
định việc khai thác kênh hình là biện pháp hữu hiệu để tạo ra tình huống có vấn
đề nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.

Đề xuất các biện pháp khai thác kênh hình trong dạy học phần Lịch sử thế
giới nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại, lớp 10 THPT.
Thực nghiệm về việc khai thác kênh hình trong dạy học Lịch sử thế giới
nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quá trình khai thác kênh hình trong sách giáo
khoa theo hướng phát triển năng lực học sinh khi dạy học phần Lịch sử thế giới
nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại, lớp 10 THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do trình độ và điều kiện thời gian có hạn khoá luận giới hạn ở việc đề
xuất các biện pháp khai thác kênh hình theo hướng phát triển năng lực học sinh
khi dạy học phần Lịch sử thế giới nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại, lớp 10
THPT.
Tác giả tiến hành khảo sát, điều tra thực tiễn và thực nghiệm ở một số
trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Sơn La, tỉnh Lai Châu.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục và giáo dục
lịch sử; Các quan điểm của các nhà giáo dục tiến bộ.

5
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung: nghiên cứu
tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… Đề tài còn sử dụng hai phương
pháp chủ đạo là phương pháp điều tra và phương pháp thực nghiệm.
Phương pháp điều tra: các hoạt động dự giờ, phiếu điều tra… để nắm
được thực tiễn của công tác khai thác kênh hình trong sách giáo khoa theo
hướng phát triển năng lực học sinh ở trường phổ thông hiện nay.

Phân loại kênh hình trong sách giáo khoa:
Theo chức năng kênh hình chia thành 4 loại chính:
+ Loại minh hoạ, để cụ thể hoá nội dung sự kiện quan trọng. Loại này
thường được ghi kèm những yêu cầu và hướng dẫn thực hiện
+ Loại cung cấp thông tin, thường không có chú thích tuy nhiên có thể
chú thích ngắn gọn để HS tìm hiểu nội dung của sự kiện mà không diễn tả thành
văn.
+ Loại vừa cung cấp thông tin vừa minh hoạ cho kênh chữ có lời hướng
dẫn khai thác, sử dụng thông tin.
+ Loại dùng để rèn luyện kĩ năng thực hành, kiểm tra kiến thức. Loại này
thường kèm theo câu hỏi và hướng dẫn sử dụng.
Theo hình thức kênh hình gồm các loại sau:
+ Sơ đồ, đồ thị: phản ánh tiến trình phát triển của một sự kiện, hiện tượng.
+ Lược đồ Lịch sử: Thường là diễn tả không gian, diễn biến của một sự
kiện, hiện tượng Lịch sử nào đó.
+ Tranh ảnh Lịch sử gồm:
Tranh, ảnh lịch sử phản ánh các hiện tượng lịch sử và hiện tượng xã hội.

7
Tranh, ảnh ịch sử về chân dung các nhân vật lịch sử.
Tranh, ảnh lịch sử về các di tích lịch sử và không gian lịch sử.
+ Sơ đồ Lịch sử.
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc khai thác kênh hình trong SGK đối với
việc phát triển năng lực HS
1.1.2.1. Vai trò
Nguyên tắc trực quan là một nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học hiện
nay nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng hình ảnh và hình thành khái niệm
trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh hoạ
sự vật, đồng thời phát triển tư duy, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm.
Đồ dùng trực quan gồm nhiều loại: hiện vật, tranh ảnh, sơ đồ, đồ thị, niên

động, tự tin, linh hoạt trước tập thể và ngày càng làm chủ kiến thức của mình.
Như vậy việc sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa là một biện pháp
hữu hiệu nằm trong tổng thể các biện pháp nhằm phát triển các năng lực học
sinh, nâng cao chất lượng, hoàn thành mục tiêu dạy học bộ môn.
1.1.2.2. Ý nghĩa
Việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa theo hướng phát triển năng
lực học sinh có ý nghĩa quan trọng trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ.
Kiến thức: Kênh hình trong SGK góp phần quan trọng trong việc tái hiện
sự kiện, tạo biểu tượng, củng cố, khắc sâu kiến thức.
Ví dụ: Khi dạy học Bài 3: Các quốc gia cổ đại phương Đông, mục 3: Xã
hội cổ đại phương Đông, giáo viên hướng dẫn HS quan sát hình 2 “Tranh khắc
trên tường hầm mộ ở Tebơ ( Ai Cập )thế kỉ XV TCN ”, kết hợp với việc miêu tả
và tường thuật: Tebơ là thành phố cổ ở Ai Cập nằm ở hai bên bờ sông Nin cách
Cairô khoảng 750 km về phía Nam. Bức tranh phản ánh cuộc sống thịnh vượng
hạnh phúc của tầng lớp quý tộc Ai Cập thời kì này. Những người Ai Cập giàu có
đang ngồi ăn uống tiệc tùng được các nữ nô lệ phục vụ thức ăn, đồ uống, múa
hát. Qua bức tranh còn cho thấy sự phân hoá sâu sắc trong xã hội Ai Cập cổ đại,
xã hội có giai cấp đầu tiên của loài người. Như vậy, qua việc khai thác và sử
dụng hình ảnh trên đã giúp học sinh có biểu tượng chính xác về hình ảnh xã hội
Ai Cập cổ đại.
Kênh hình trong sách giáo khoa giúp học sinh nắm vững bản chất lịch sử

9
thông qua việc hình thành khái niệm, rút ra quy luật.
Ví dụ, khi dạy học Bài 1, mục 1: Sự xuất hiện loài người và đời sống bầy
người nguyên thuỷ, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 1“người tối cổ ”
trong sách giáo khoa và định hướng nội dung bức tranh cho học sinh: Người tối
cổ trán còn thấp, hẹp và lật ra sau, u mày nồi cao, hàm răng trên và cằm nhô ra
phía trước. Hộp sọ còn dẹt nhưng dung tích sọ đã lớn, đã hình thành trung tâm
phát tiếng nói trong não, đã biết chế tạo công cụ lao động. Hai chi trước dùng để

Ví dụ: Khi dạy học Bài 11, mục 1: “Những cuộc phát kiến địa lí”, giáo
viên hướng dẫn học sinh quan sát hình 27 “lược đồ những cuộc phát kiến địa
lí”, xác định những kí hiệu trên lược đồ. Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh lên
bảng chỉ hướng đi của các cuộc phát kiến địa lí. Qua đó rèn luyện cho học sinh
kĩ năng làm việc với lược đồ.
Thái độ: Khai thác kênh hình trong sách giáo khoa góp phần bồi dưỡng
cho học sinh quan điểm cuả chủ nghĩa duy vật lịch sử và cảm xúc thẩm mĩ. Hình
thành cho HS thế giới quan khoa học.Phát huy thái độ học tập tích cực của học
sinh.
Như vậy, sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa là một biện pháp hữu
hiệu nằm trong tổng thể các biện pháp nhằm phát triển các năng lực học sinh,
nâng cao chất lượng, hoàn thành mục tiêu dạy học bộ môn.
1.1.3. Vấn đề phát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử
1.1.3.1.Vai trò bộ môn
Khi nói về tầm quan trọng của giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định:
“Vì hạnh phúc mười năm trồng cây
Vì hạnh phúc trăm năm trồng người”
Câu nói bất hủ của chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò to lớn của
sự nghiệp giáo dục trong sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu giáo dục là xây dựng nên những con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu trên mỗi môn học có vị
trí và vai trò nhất định. Trong đó môn Lịch sử có ưu thế quan trọng trong việc
giáo dục tư tưởng, đạo đức, hình thành thế giới quan cho thế hệ trẻ. Cũng như
những môn khoa học khác môn lịch sử có ba nhiệm vụ cơ bản: giáo dưỡng, giáo

11
dục và phát triển.
Vai trò giáo dƣỡng:
Môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa học

luật của xã hội loài người và dân tộc, dù trong tiến trình lịch sử có những bước
quanh co khúc khuỷu, tạm thời thụt lùi hay dừng lại.
Như vậy, tác dụng giáo dục của môn Lịch sử ở trường THPT là giáo dục
trí tuệ, tư tưởng, chính trị, tình cảm, đạo đức. Môn Lịch sử còn góp phần quan
trọng vào việc giáo dục lí tưởng cho thế hệ trẻ.
Vai trò phát triển:
Bộ môn Lịch sử rèn cho học sinh năng lực tư duy và thực hành trên cơ sở
hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường THCS. Cụ
thể là:
Thứ nhất: Bồi dưỡng học sinh tư duy biện chứng trong nhận thức và hành
động, biết đánh giá, phân tích, liên hệ.
Thứ hai: Bồi dưỡng kĩ năng học tập, thực hành bộ môn như sử dụng sách
giáo khoa, tài liệu tham khảo, khả năng trình bày nói và viết, làm và sử dụng
một số đồ dùng trực quan nhất là loại đồ dùng trực quan quy ước, những hoạt
động ngoại khoá của môn học.
Thứ ba: Vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay.
Tóm lại, các mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT đã nêu trên có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Trước tiên là cung cấp những kiến thức cơ bản, có
hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người; trên
cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; rèn luyện năng lực tư duy và thực hành; thực hiện một cách hoàn
chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đạt được mục tiêu dạy học một cách nhanh
hơn hiệu quả hơn? Góp phần thực hiện các mục tiêu nêu trên có nhiều yếu tố chi
phối, tác động: sự quan tâm của xã hội với môn Lịch sử, sự đầu tư trang thiết bị
dạy học lịch sử. Song yếu tố quyết định là vấn đề phương pháp dạy học của thầy
và trò.Thực tế, gần đây liên tục có những hội thảo về đổi mới phương pháp dạy
học lịch sử, trong đó các nhà giáo dục lịch sử khá quan tâm đến phương pháp sử
dụng đồ dùng trực quan bao gồm cả việc khai thác kênh hình trong sách giáo


đời sống của vua quan quý tộc.

14
Các nhà vua đầu đời Bắc Tống rất tôn sùng phật giáo, cho xây chùa, tạc
tượng, in kinh và tiếp tục cử các nhà sư đi tìm hiểu đạo phật ở Ấn Độ.
Khai thác kênh hình kết hợp với câu hỏi nêu vấn đề gợi mở nhằm phát
triển năng lực tư duy cho học sinh. Cùng với các biện pháp miêu tả, phân tích,
khi khai thác kênh hình trong sách giáo khoa giáo viên cần đưa ra các câu hỏi
gợi mở để kích thích suy nghĩ của các em và câu hỏi đó phải hướng vào nội
dung kênh hình chứa đựng. Đó sẽ là biện pháp hữu hiệu trên con đường hình
thành kiến thức, phát triển năng lực tư duy cho học sinh.
Ví dụ: Khi dạy học Bài 10, mục 2: “Xã hội phong kiến Tây Âu”, giáo viên
cho học sinh quan sát và tổ chức khai thác nội dung hình ảnh “Lâu đài và thành
quách kiên cố của lãnh chúa” . Giáo viên cho học sinh quan sát kĩ kênh hình,
sau đó giáo viên gợi ý câu hỏi để học sinh trao đổi: Quy mô lãnh địa phong kiến
như thế nào? Theo em những ai được sống trong lãnh địa này? Lãnh địa thường
được xây dựng ở địa hình như thế nào? Những bức tường thành và tháp canh
được xây dựng để làm gì? Thông qua các câu hỏi gợi mở trên giúp học sinh có
những biểu tượng chính xác về lãnh địa phong kiến, phát triển các năng lực tư
duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá …
Tổ chức cho học sinh tự xây dựng kênh hình nhằm phát triển năng lực
thực hành bộ môn.
Như vậy, một số biện pháp khai thác kênh hình trong sách giáo khoa theo
hướng phát triển năng lực học sinh là những biện pháp hữu hiệu. Nếu sử dụng
một cách hợp lí khoa học sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử.
2.1. Thực tiễn dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông.
2.1.1. Kết quả dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông
Việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là
mục tiêu phấn đấu của giáo viên trong nhà trường hiện nay. Nó là kết quả của sự
suy nghĩ, tìm tòi lớn về sư phạm, là kết quả của những nguyên lí khoa học và

đổi mới nền giáo dục để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhiều nước
Châu Âu, Châu Mĩ, Châu Á trong đó có Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa
việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử: Đó là cách thức dạy học theo hướng
phát triển năng lực học sinh.
Tuy nhiên, quá trình dạy – học lịch sử ở nước ta hiện nay vẫn còn đang

16
tồn tại những bất cập và hạn chế lớn chưa thể khắc phục.
Thực tế, lối dạy học truyền thụ tại các trường phổ thông vẫn hết sức phổ
biến. Giáo viên là người có vai trò chính trong việc cung cấp kiến thức cho học
sinh. Khi giảng bài môn Sử cứ đều đều mà nói, không bộc lộ một chút cảm xúc
làm cho học sinh thụ động tiếp nhận những con số, ngày tháng, sự kiện chồng
chất… khiến cho bài học trở nên nhàm chán, khô khan học sinh sợ học sử là
điều khó tránh khỏi.
Hơn thế nữa cách thức giảng dạy “giáo điều”, “nhồi sọ” trở thành một căn
bệnh trong các giờ học lịch sử ở các trường phổ thông. Các giáo viên dạy học
lịch sử đã có sử dụng các loại đồ dùng trực quan nhưng hầu hết chưa khai thác
có hiệu quả, đặc biệt các kênh hình trong sách giáo khoa chưa được đặt đúng vị
trí của nó, các kênh hình chủ yếu vẫn để minh hoạ, mô phỏng… không kích
thích được suy nghĩ độc lập, sáng tạo của học sinh.
Chính vì thực trạng trên mà việc dạy – học lịch sử ở trường phổ thông
hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra, luôn khiến dư luận xã hội
và cả những người trong cuộc phải “giật mình” bởi hàng năm số thí sinh tham
các kì thi có môn Lịch sử có điểm dưới trung bình rất lớn. Hầu hết các trường tỉ
lệ thí sinh đạt điểm thi môn sử từ trung bình trở lên chỉ chiếm từ 0.3 – 5%.
Một hiện trạng rất đáng buồn nữa là trong những năm gần đây có hiện
tượng “dân ta không biết sử ta”, hiện tượng nhầm lẫn lịch sử, xuyên tạc lịch sử
càng khiến ai đó mỗi khi bắt gặp xót xa, đau lòng hơn. Rất nhiều học sinh đã
nhầm lẫn lãnh đạo khởi nghĩa Hai Bà Trưng là Bà Trưng và Bà Triệu. Trong giờ
học lịch sử nhiều học sinh đã xuyên tạc “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn:

Bên cạnh các phương pháp giảng dạy truyền thống, việc sử dụng đồ dùng
trực quan trong dạy học lịch sử đặc biệt việc khai thác kênh hình trong sách giáo
khoa đã và đang được các giáo viên ở trường phổ thông quan tâm. Nhưng thực
tề việc khai thác còn nhiều hạn chế, bất cập không mang lại hiệu quả, hơn thế
nữa chưa phát huy dược tính tích cực, chủ động của học sinh trong lĩnh hội kiến
thức.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng dạy và học bộ môn Lịch sử ở trường phổ
thông cũng như việc áp dụng biện pháp khai thác kênh hình trong sách giáo
khoa theo hướng phát triển năng lực học sinh học sinh. Bản thân tôi đã tiến hành

18
phát phiếu điều tra, trao đổi với giáo viên dự giờ tại một số trường THPT trên
địa bàn tỉnh Sơn La là:
THPT Cò Nòi
THPT Yên Châu
Và trường THPT Bình Lư tỉnh Lai Châu thu được kết quả như sau:
Đối với giáo viên gồm 16 giáo viên.

STT
Nội dung điều tra, khảo sát
Số giáo viên
trả lời
Tỉ lệ %
1
Theo thầy(cô)chất lượng dạy học
lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
như thế nào?
A: rất tốt
B: bình thường
C: rất thấp


62.5
12.5
25
3
Các thầy cô có thường xuyên tiến
hành các biện pháp khai thác kênh hình
trong sách giáo khoa khi dạy học lịch
sử không?
A: thường xuyên
B: đôi khi
C: không bao giờ

9
6
1

56.26
37.7
6.25 19
Qua kết quả trên chúng ta thấy giáo viên đã nhận thức được chất lượng
63.25
25.64
11.11
2
Trong các tiết học phương pháp thầy
cô tiến hành phương pháp gì?
A: đọc – chép
B: tóm tắt nội dung
C: kết hợp nhiều phương pháp 64
29
24 47
24.7
20.51
20
Qua kết quả điều tra trên chúng ta có thể thấy khi được hỏi “Em có hứng
thú vơí việc khai thác kênh hình trong học tập lịch sử không?” thì đa phần các
em đều trả lời là rất hứng thú chiếm (63.25%). Tuy nhiên, đa phần các giáo viên
lại sử dụng phương pháp đọc – chép là chính chiếm (47%) nên không tạo hứng
thú học tập cho học sinh . Vấn đề đặt ra là phải tiến hành khai thác kênh hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status