QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH - Pdf 23

Bài giảng Quản trị tài chính
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
Chương này giúp sinh viên nắm bắt được vai trò và mục tiêu của quản trị tài chính,
các vấn đề liên quan đến thị trường tài chính của nhà quản trị tài chính.
1. VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH
1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị
trường, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa-
tiền tệ, tính chất và mức độ phát triển của tài chính doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào tính
chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bằng những nội
dung chủ yếu sau đây:
Một là, tài chính doanh nghiệp phản ánh những luồng chuyển dịch giá trị trong nền
kinh tế. Luồng chuyển dịch đó chính là sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là sự vận động của các nguồn tài chính được
diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh và được diễn ra
giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế cho Nhà nước hoặc tài trợ
tài chính; giữa doanh nghiệp với thị trường: thị trường hàng hoá-dịch vụ, thị trường sức lao
động, thị trường tài chính trong việc cung ứng các yếu tố sản xuất (đầu vào) cũng như bán
hàng hoá, dịch vụ (đầu ra) của quá trình sản xuất kinh doanh.
Hai là, sự vận động của các nguồn tài chính doanh nghiệp không phải diễn ra một
cách hỗn loạn mà nó được hoà nhập vào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường. Đó là sự
vận động chuyển hoá từ các nguồn tài chính hình thành nên các quỹ, hoặc vốn kinh doanh của
doanh nghiệp và ngược lại. Sự chuyển hoá qua lại đó được điều chỉnh bằng các quan hệ phân
phối dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho các mục tiêu
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ những đặc trưng trên của tài chính doanh nghiệp, chúng ta có thể rút ra kết luận về
khái niệm tài chính doanh nghiệp như sau:

khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp.
1.2.2. Quyết định tài trợ
Để tài trợ cho tài sản, các nhà quản trị tài chính phải tìm kiếm các nguồn vốn thích
hợp thông qua các quyết định tài trợ. Các nguồn vốn để tài trợ cho tài sản bao gồm các khoản
nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, vốn chủ Họ có thể nghiên cứu xem còn hình thức tài trợ
nào khác không? Một tổ hợp tài trợ nào được xem là tối ưu?
1.2.3. Quyết định quản trị tài sản
Quyết định thứ ba đối với nhà quản trị tài chính là quyết định quản trị tài sản. Các tài
sản khác nhau sẽ yêu cầu cách thức vận hành khác nhau. Do vậy, nhà quản trị tài chính sẽ
quan tâm nhiều hơn đến việc quản trị các tài sản lưu động so với tài sản cố định trong khi
phần lớn trách nhiệm quản lý tài sản cố định thuộc về các nhà quản trị sản xuất, những người
vận hành trực tiếp tài sản cố định.
1.3. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản trị đến các hoạt động tài chính trong
doanh nghiệp. Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần được nhà quản trị tài chính
quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản lý mà còn cả lợi ích của
nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ. Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng
về các dòng tiền của doanh nghiệp. Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù có trách nhiệm
nặng nề về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của
người ngoài doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, Nhà nước…
Quản trị tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của
doanh nghiệp. Quản trị tài chính tốt có thể khắc phục những khiếm khuyết trong các lĩnh vực
khác. Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kĩ lưỡng có thể gây nên
những tổn thất lớn cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế. Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động
trong một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Bởi vậy, quản trị tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quan trọng
đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia.
Quản trị tài chính luôn giữ một vai trò trọng yếu trong hoạt động quản lý doanh
nghiệp. Quản trị tài chính quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá
trình kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quản trị tài chính doanh nghiệp giữ

Thị trường tài chính có thể được xem như là nhân tố khởi đầu của nền kinh tế thị
trường. Các hoạt động của thị trường tài chính tác động trực tiếp và gián tiếp đến lợi ích của
mỗi cá nhân, tốc độ phát triển của doanh nghiệp và đến hiệu quả của nền kinh tế. Các thành
viên của thị trường tài chính là các cá nhân, các doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ. Các
đối tượng này tham gia rộng khắp trên tất cả các thị trường tài chính:
- Đối với các cá nhân, thị trường tài chính tạo ra nơi để tiết kiệm, cho vay, cầm cố, thế
chấp tài sản và là nơi để đầu tư các loại chứng khoán.
- Đối với các doanh nghiệp, thị trường tài chính là nơi mà doanh nghiệp có thể huy
động nguồn ngân quỹ mới hay đầu tư những khoản tài chính nhàn rỗi tạm thời và là nơi để
xác lập giá trị của công ty.
- Đối với chính phủ, thị trường tài chính là nơi mà chính phủ có thể vay mượn ngân
sách hay tác động để thúc đẩy và điều chỉnh nền kinh tế phát triển
Thị trường tài chính là thị trường trong đó vốn được chuyển từ những người hiện có
vốn dư thừa muốn sinh lợi sang người cần vốn theo những nguyên tắc nhất định của thị
trường. Tính đặc biệt của thị trường tài chính còn thể hiện ở chỗ phần lớn hàng hóa trên thị
trường này được thể hiện thông qua các công cụ gọi chung là các giấy tờ có giá (hay chứng
khoán) như: tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có
giá khác. Các công cụ đó không phải là tiền thật (tiền mặt) nhưng có giá trị như tiền mặt.
Như vậy, thị trường tài chính là nơi diễn ra các giao dịch mua, bán các loại tích sản
tài chính hay các công cụ vốn hoặc vốn.
- Tích sản tài chính là tiền mặt (chưa đưa vào kinh doanh) và tất cả những gì gần với
tiền mặt như vận đơn gửi hàng, cổ phiếu, trái phiếu…
- Công cụ vốn là tiền mặt và những gì gần với tiền hiện là vốn trong kinh doanh, sản
xuất.
- Vốn là phần tài sản của chủ sỡ hữu doanh nghiệp đưa vào kinh doanh, sản xuất như
tiền mặt, kim loại quý, đá quý, bằng phát minh-sáng chế.
2.2. Cấu trúc thị trường tài chính
Trang 3
Bài giảng Quản trị tài chính
Cơ sở để phân loại các thị trường tài chính rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, căn

cung cấp tín dụng của ngân hàng thương mại làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nền
kinh tế.
b. Thị trường vốn
Thị trường vốn là thị trường trong đó bao gồm các giao dịch mua bán các công cụ tài
chính có thời hạn thanh toán trên một năm. Thị trường vốn hoạt động với các công cụ thuộc
về vốn chủ và vốn vay dài hạn có thời gian đáo hạn trên một năm: trái phiếu, cổ phiếu.
Thị trường vốn có 4 thị trường bộ phận là: thị trường chứng khoán; thị trường tín dụng
trung và dài hạn, thị trường cho thuê tài chính và thị trường cầm cố bất động sản.
- Thị trường cầm cố bất động sản là một cơ chế chuyên cung cấp những khoản tài trợ
dài hạn được đảm bảo bằng việc cầm cố, thế chấp, các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu hay
các loại bất động sản.
- Thị trường chứng khoán là một cơ chế chuyên giao dịch các loại chứng khoán, đó là
thị trường sử dụng các loại thông tin dữ liệu có liên quan đến mức sinh lời tiềm năng và coi
đó như một chuẩn mực đầu tư. Các loại công cụ vốn, trái khoán, được sử dụng giao dịch trên
thị trường chứng khoán bao gồm cổ phiểu, trái phiếu công ty, công trái quốc gia và nhiều loại
giấy tờ có giá khác.
Trang 4
Bài giảng Quản trị tài chính
- Thị trường tín dụng trung và dài hạn: là thị trường diễn ra các giao dịch tín dụng
nhằm tài trợ cho các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh khác thuê dài hạn hay thuê mua trả
góp các loại máy móc thiết bị hay các loại bất động sản.
- Thị trường cho thuê tài chính: là thị trường diễn ra các hoạt động tín dụng trung hạn
và dài hạn thông qua việc cho thuê các máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các bất
động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên thuê và bên cho thuê.
2.2.2. Căn cứ trên phương diện cơ chế giao dịch
Trong khi đó, trên phương diện cơ chế giao dịch, thị trường tài chính được cấu trúc
bởi thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường cấp một và thị trường thứ cấp hay còn gọi là thị
trường cấp hai.
a. Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mới phát hành, trong đó những công cụ tài chính chỉ

Thị trường tài chính trong nền kinh tế là nơi phân bổ vốn tiết kiệm một cách hiệu quả
cho người sử dụng cuối cùng. Tính hiệu quả là yếu tố đưa người đầu tư cuối cùng và người
tiết kiệm cuối cùng gặp nhau với chi phí thấp nhất và sự thuận lợi nhất có thể.
Thị trường tài chính không phải là một không gian vật lý mà đó là một cơ chế đưa tiền
tiết kiệm đến với người đầu tư cuối cùng. Chúng ta có thể thấy được vị trí thống trị của các tổ
chức tài chính trong việc dịch chuyển dòng vốn trong nền kinh tế. Thị trường thứ cấp, trung
gian tài chính và môi giới tài chính là những tổ chức thúc đẩy sự lưu thông của các dòng vốn.
Do đó, thị trường tài chính có vai trò quan trọng đối với tất cả các chủ thể tham gia thị trường
tài chính:
Trang 5
Bài giảng Quản trị tài chính
- Đối với cá nhân: giúp các cá nhân có những cơ hội đầu tư những khoản tiền nhàn
rỗi; tạo điều kiện cho các cá nhân có thể luân chuyển vốn đầu tư dễ dàng vì thị trường tài
chính sẽ tạo ra tính thanh khoản cho cả các công cụ vốn và các công cụ nợ; cho phép các cá
nhân đa dạng hóa đầu tư, phân tán rủi ro.
- Đối với các doanh nghiệp: tạo điều kiện cho doanh nghiệp tạo vốn và tăng vốn; cho
phéo doanh nghiệp xác định giá trị liên tục các tài sản của nó qua sự đánh giá của thị trường.
Từ đó thúc đẩy công ty không ngừng hoàn thiện các phương thức kinh doanh để đạt hiệu quả
cao hơn.
- Đối với Nhà nước: giúp Nhà nước huy động vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư của
Nhà nước trong thời kì thiếu vốn đầu tư; tạo điều kiện cho Nhà nước thực hiện chính sách tài
chính-tiền tệ thông qua việc phát hành trái phiếu hay các công cụ nợ khác để điều chỉnh khối
lượng tiền trong lưu thông.
- Đối với nền kinh tế: thị trường tài chính đa dạng hóa phương thức thu hút vốn đầu tư
nước ngoài cho nền kinh tế, qua đó sẽ thu hút những công nghệ mới cho nền kinh tế; điều hòa
lãi suất tài trợ cho nền kinh tế thông qua cơ chế cạnh tranh giữa các phương thức huy động
vốn; giữ vai trò như một loại cơ sở hạ tầng về mặt tài chính của nền kinh tế, có tác dụng hỗ
trợ sự phát triển thông qua cơ chế thu hút vốn, định hướng, điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi
thiếu hay từ nơi sử dụng vốn có hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả sử dụng cao.
CÂU HỎI ÔN TẬP

I: Tiền lãi
P: Vốn gốc
t: số thời kỳ
Như vậy, với lãi suất đã thoả thuận, ta có thể tính ra tiền lãi I trả cho vốn gốc trong
thời gian t: I = P x i x t
1.1.1. Lãi đơn
Lãi đơn là số tiền lãi chỉ tính trên số vốn gốc mà không tính trên số tiền lãi sinh ra
trong các thời kỳ trước.
Ví dụ: Bạn gởi 10 triệu đồng vào tài khoản tính lãi đơn với lãi suất 8%/năm. Sau 10
năm, số tiền gốc và tiền lãi bạn thu về là bao nhiêu?
Sau năm thứ nhất, số tiền tích luỹ là:
P
1
= 10 + 10 x 0,08 = 10 (1 +0,08) = 10,8 triệu đồng
Sau năm thứ hai, số tiền tích luỹ là:
P
2
= 10 (1+0,08) + 10 x 0,08 = 10 (1 + 0,08 + 0,08) = 10 (1 + 2 x 0,08) = 11,6 triệu
Sau năm thứ ba, số tiền tích luỹ là:
P
3
= 10 (1 + 2 x 0,08) + 10 x 0,08 = 10 (1 + 2 x 0,08 + 0,08) = 10 (1 + 3 x 0,08) = 12,4
triệu đồng

Sau năm thứ 10, số tiền tích luỹ sẽ là:
P
10
= 10 (1 + 10 x 0,08) = 18 triệu đồng
Một cách tổng quát: P
n

= 10 (1+0,08) + 10(1 + 0,08) x 0,08 = 10 (1 + 0,08)(1 + 0,08) = 10 (1 + 0,08)
2
=
11,664 triệu đồng
Sau năm thứ ba, số tiền tích luỹ là:
P
3
= 10 (1 + 0,08)
2
+ 10 (1 + 0,08)
2
x 0,08 = 10 (1 + 0,08)
2
(1 + 0,08) =
10 (1 + 0,08)
3
= 12,597 triệu đồng

Sau năm thứ 10, số tiền tích luỹ sẽ là:
P
10
= 10 (1 + 0,08)
10
= 21,59 triệu đồng
Một cách tổng quát: P
n
= P
o
(1 + i)
n

1
= 10 (1 + 10%/4)
4
= 11,038 triệu đồng.
Như vậy, lãi suất thực là lãi suất sau khi đã điều chỉnh thời hạn ghép lãi đồng nhất với
thời hạn phát biểu lãi suất.
Giả sử trong thời hạn phát biểu lãi suất có m lần ghép lãi, gọi r là lãi suất thực, khi đó:
Hay
Trang 8
1 + r = (1 + )
m
i
m
r = ( 1 + )
m
- 1
i
m
Bài giảng Quản trị tài chính
1.3. Lãi suất và phí tổn cơ hội vốn
Tiền lãi là phí tổn cơ hội của việc gởi tiền hoặc cho vay. Trở lại với người cho vay, để
nhận được tiền lãi khi cho vay tiền, họ đã chấp nhận bỏ đi các cơ hội đầu tư có lợi nhất đối
với họ.
Một cách khái quát, chi phí cơ hội của việc sử dụng một nguồn lực theo một cách nào
đó là số tiền lẽ ra có thể nhận được với phương án sử dụng tốt nhất tiếp theo với phương án
đang thực hiện. Vì thế, chi phí cơ hội giữa các bên tham gia vào cùng một giao dịch có thể
khác nhau. Do đó, chúng ta chuyển khái niệm lãi suất sang một ý nghĩa khái quát hơn là chi
phí cơ hội vốn.
Mặt khác, đối với các nhà quản trị, không chỉ có hoạt động gởi tiền hoặc cho vay vì
đồng tiền trong tay họ luôn có khả năng sinh lợi. Do vậy, đồng tiền sẽ trở thành những khoản

phát sinh qua một số thời kì nhất định.
Trang 9
0 1
2
3
4
5
n - 1
n
Bài giảng Quản trị tài chính
2.2. Giá trị tương lai của tiền tệ
Bạn có 1 triệu đồng ở thời điểm hiện tại, vậy sau 3 năm nữa, bạn sẽ có bao nhiêu? Kế
hoạch của bạn sẽ như thế nào nếu muốn có 15 triệu sau 5 năm. Bạn nên nhớ rằng đồng tiền
luôn sinh lợi, đồng tiền có giá trị theo thời gian.
2.2.1. Giá trị tương lai của một khoản tiền
Giá trị tương lai của một khoản tiền hiện tại là giá trị của số tiền này ở thời điểm hiện
tại cộng với số tiền lãi mà nó có thể sinh ra trong khoảng thời gian từ thời điểm hiện tại đến
một thời điểm trong tương lai.
Vận dụng khái niệm lãi kép, chúng ta có công thức tìm giá trị tương lai của một khoản
tiền gởi vào cuối năm thứ n:
Giá trị tương lai (FV) : là giá trị của khoản tiền ở hiện tại (PV) được quy đổi về tương
lai trong khoảng thời gian n với chi phí cơ hội vốn k.
Trong đó : PV : giá trị của một khoản tiền ở thời điểm hiện tại
k : chi phí cơ hội của tiền tệ
n : số thời kỳ
2.2.2. Giá trị tương lai của dòng tiền
Giá trị tương lai của dòng tiền được xác định bằng cách ghép lãi từng khoản tiền về
thời điểm cuối cùng của dòng tiền và sau đó, cộng tất cả các giá trị tương lai này lại. Công
thức chung để tìm giá trị tương lai của một dòng tiền là :
a. Giá trị tương lai của dòng tiền cuối kỳ (thông thường)

= 347,806 triệu đồng.
Trang 10
FV
n
= PV (1 + k )
n
FV
n
= ∑ CF
t
(1 + k)
n - t
t = 1
n
0
1 2 3 4 5
50
50 60 60
100
Bài giảng Quản trị tài chính
b. Giá trị tương lai của dòng tiền đều
b
1
. Dòng tiền đều thông thường
Chúng ta giả thiết có một dòng các khoản tiền đều nhau PMT phát sinh vào cuối mỗi
năm trong n năm với phí tổn k, chúng ta có bao nhiêu tiền trong tài khoản vào cuối năm thứ
n?
Ví dụ: Có một dòng tiền phát sinh vào cuối năm thứ nhất 10 triệu, cuối năm thứ hai 10
triệu, cuối năm thứ ba 10 triệu. Như vậy, cuối năm thứ ba thì trong tài khoản có bao nhiêu tiền
với lãi suất 8%/năm?

ghép lãi 1 năm
10tr 10tr
0
1
10tr
10tr
10,8tr
11,66tr
ghép lãi 2 năm
10tr 10tr
2
0
1
FVA
n
= PMT (1 + k)
n-1
+ PMT (1 + k)
n-2
+ + PMT (1 + k)
1
+ PMT (1 + k)
0
FVAD
3
= 10 x ( ) x (1 + 0,08)
(1 + 0,08)
3
-1
0,08

i
FVAD
n
= PMT x ( ) x (1 + k)
(1 + k)
n
- 1
k
Bài giảng Quản trị tài chính
2.3. Giá trị hiện tại của tiền tệ
Chúng ta đều biết rằng một đồng ngày hôm nay đáng giá hơn một đồng sau một, hai
hay ba năm nữa. Tính giá trị hiện tại của dòng ngân quỹ cho phép chúng ta đưa tất cả ngân
quỹ về thời điểm hiện tại để so sánh theo giá trị đồng tiền ngày hôm nay. Nói cách khác,
chúng ta cần biết để có số tiền trong tương lai thì phải bỏ ra bao nhiêu ở thời điểm hiện tại.
Đấy chính là giá trị hiện tại của các khoản tiền trong tương lai.
2.3.1. Giá trị hiện tại của một khoản tiền
Giả sử bạn có hai khoản tiền: 100 triệu đồng vào hôm nay và 200 triệu đồng sau 10
năm nữa; hai khoản tiền này đều chắc chắn và có chi phí cơ hội vốn là 8%/năm. Giá trị hiện
tại của 100 triệu đồng hôm nay thì đã rõ còn 200 triệu đồng nhận được sau 10 năm đáng giá
bao nhiêu ở thời điểm hiện tại. Như vậy, cần bao nhiêu tiền vào hôm nay để tăng lên thành
200 triệu đồng sau 10 năm nữa với lãi suất 8%/năm. Số tiền này chính là giá trị hiện tại của
200 triệu đồng sau 10 năm nữa được chiết khấu với lãi suất 8%/năm. Trong những bài toán
giá trị hiện tại như vậy, lãi suất còn được gọi là tỷ suất chiết khấu.
Quá trình tìm giá trị hiện tại là quá trình ngược của quá trình ghép lãi. Vì thế, công
thức tính giá trị hiện tại được suy ra từ công thức tính giá trị tương lai của một khoản tiền như
sau:
2.3.2. Giá trị hiện tại của một dòng tiền
Giá trị hiện tại của một dòng tiền là tổng giá trị hiện tại của các khoản tiền phát sinh ở
thời điểm tương lai. Công thức chung cụ thể như sau:
Ví dụ: Giá trị hiện tại của dòng tiền trên được biểu diễn như sau:

k
PVA

=
PMT
k
Bài giảng Quản trị tài chính
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ BÀI TẬP
1. Tiền lãi của một khoản vốn vay là gì?
2. Phân biệt lãi đơn và lãi kép?
3. Vì sao nói giá trị đồng tiền nhận được vào hôm nay lớn hơn giá trị đồng tiền nhận được ở
ngày mai?
4. Trong hai loại tài khoản tiết kiệm, một là lãi suất 5% ghép lãi theo 6 tháng, hai là lãi suất
5% ghép lãi theo ngày. Bạn thích tài khoản nào hơn? Vì sao?
5. Định nghĩa các khái niệm: PV, I, FV, PVA, FVA, PMT, m, n, lãi suất danh nghĩa, khoản
trả đều, dòng ngân quỹ, dòng tiền đều thông thường, dòng tiền đều cuối kỳ, dòng tiền đều
vĩnh cửu, dòng tiền vào, dòng tiền ra, đường thời gian.
6. Nếu bạn gởi 100 triệu đồng vào một tài khoản ngân hàng với lãi suất 10%/năm, sau 5 năm
nữa, bạn sẽ có bao nhiêu tiền trong tài khoản?
7. Một chứng khoán cam kết trả 50 triệu đồng sau 10 năm nữa, hiện tại chứng khoán đó được
bán với giá bao nhiêu với tỷ suất sinh lợi 7%?
8. Bạn có 50 triệu đồng trong một tài khoản và bạn định gởi thêm 5 triệu nữa vào cuối mỗi
năm. Tài khoản này có mức sinh lợi kỳ vọng là 12%. Nếu mục tiêu của bạn là tích lũy được
200 triệu, bạn phải mất bao lâu để đạt được mục tiêu này?
9. Giá trị tương lai của một dòng tiền đều đầu kỳ trong 5 năm là bao nhiêu nếu dòng tiền đó
đem lại 3 triệu đồng mỗi năm? Giả sử chi phí cơ hội của khoản tiền này là 9%/năm.
10. Bạn có ý định mua xe hơi và một ngân hàng sẵn sàng cho bạn vay 200 triệu đồng để mua
xe. Theo điều khoản của hợp đồng, bạn phải hoàn trả toàn bộ vốn gốc sau 5 năm, lãi suất danh
nghĩa 12%/năm, trả lãi hàng tháng. Khoản trả đều mỗi tháng của khoản nợ này là bao nhiêu?
Lãi suất thực của khoản vay này là bao nhiêu?

cơ thể con người, hầu như các biểu hiện tốt hay xấu trong hoạt động công ty đều có thể biểu
hiện qua các dấu hiệu tài chính. Vì vậy, các công ty cần tiến hành phân tích tài chính để xác
định những điểm mạnh và những điểm yếu về tình hình tài chính của công ty để đưa ra các
quyết định hiệu quả nhất.
Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra về nội dung kết cấu, thực trạng các
chỉ tiêu tài chính trên báo cáo tài chính; từ đó so sánh đối chiếu các chỉ tiêu tài chính với các
chỉ tiêu tài chính trong quá khứ, hiện tại, tương lại ở tại doanh nghiệp, ở các doanh nghiệp
khác, ở phạm vi ngành, địa phương, lãnh thổ quốc gia… nhằm xác định thực trạng, đặc điểm,
xu hướng, tiềm năng tài chính của doanh nghiệp để cung cấp thông tin tài chính phục vụ việc
thiết lập các giải pháp quản trị tài chính thích hợp, hiệu quả.
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp là nhằm đánh giá hiệu suất và mức độ rủi
ro của các hoạt động tài chính.
1.1.2. Ý nghĩa
Thông tinh tài chính của doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm như nhà
quản lý tại doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng, nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chức
năng… Tuy nhiên mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm đến những khía cạnh khác nhau khi phân
tích tài chính vì vậy phân tích tài chính cũng có ý nghĩa khác nhau đối với từng các nhân, tổ
chức.
Khách hàng và các chủ nợ thương mại thường quan tâm khả năng và thời hạn thanh
toán của doanh nghiệp, đến việc các doanh nghiệp liên tục phát sinh các dòng ngân quỹ đáp
ứng các nghĩa vụ tài chính trong suốt thời hạn của khoản nợ.
Các nhà đầu tư thường tập trung vào khả năng sinh lợi và điều kiện tài chính của công
ty liên quan đến khả năng trả cổ tức và vượt qua nguy cơ phá sản
Các nhà quản trị của công ty phân tích tài chính của công ty nhằm mục tiêu kiểm soát
nội bộ và cung cấp nhiều thông tin về điều kiện và hiệu quả tài chính của công ty cho các nhà
cung cấp vốn bên ngoài.
Các cơ quan quản lý chức năng như cơ quan thuế, thống kê, phòng kinh tế… phân tích
tài chính giúp đánh giá đúng đắn thực trạng tài chính doanh nghiệp, tình hình thực hiện nghĩa
vụ với Nhà nước, những đóng góp hoặc tác động của doanh nghiệp đến tình hình và chính
sách kinh tế- xã hội.

Như vậy, phân tích tài chính có rất nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, có lẽ hầu hết các phân
tích đều gắn với một trình tự và các bước tiến hành tương tự như khuôn khổ trên. Nếu không,
phân tích sẽ không chặt chẽ và sẽ không tự đáp ứng được những vấn đề dự tính.
1.3. Phương pháp và nội dung phân tích tài chính
1.3.1. Phương pháp phân tích tài chính
Những con số tuyệt đối hay thông số dường như sẽ không có ý nghĩa trừ khi chúng
được so sánh với những con số hay thông số khác. Chẳng hạn, 60% tổng tài sản đầu tư vào
nhà xưởng và thiết bị sẽ là chuyện bình thường đối với một số công ty nhưng với một số khác
thì tỷ lệ này có thể không tốt. Chúng ta phải có một hướng dẫn để xác định ý nghĩa của các
thông số và các công cụ đo lường khác. Các hoạt động kinh doanh nói chung và các hoạt động
tài chính nói riêng diễn ra trong không gian và theo thời gian. Vì vậy, việc phân tích không
thể tách rời khỏi không gian và thời gian.
a. So sánh theo thời gian
So sánh theo thời gian nhằm nghiên cứu bản chất sự thay đổi về điều kiện và hiệu suất
tài chính của công ty. Nhà phân tích có thể so sánh thông số hiện tại với thông số quá khứ và
thông số kỳ vọng trong tương lai của một công ty.
b. So sánh theo không gian và các nguồn thông số ngành
Việc so sánh này thường được thực hiện bằng cách so sánh các chỉ tiêu ở từng thời
điểm giữa các doanh nghiệp tương đương hay con số trung bình ngành. Điều này có thể điều
Trang 16
Xác định nhu
cầu tài trợ bên
ngoài
Thương lượng
với các nhà
cung cấp
Phân tích nhu cầu vốn
Phân tích điều kiện tài
chính và khả năng sinh lợi
Phân tích rủi ro

Bảng cân đối kế toán công ty A & M ngày 31/12
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
CÔNG TY A & M ngày 31/12
ĐVT: triệu đồng
TÀI SẢN 20x4 20x5 NGUÔN VỐN 20x4 20x5
Tiền mặt 178 175 Khoản phải trả 148 136
Khoản phải thu 678 740 Thuế tích lũy 36 127
Tồn kho 1329 1235 Nợ ngân hàng 448 356
Nợ trả trước 21 17 Nợ tích luỹ khác 191 164
Thuế trả trước tích luỹ 35 29 Nợ ngắn hạn 823 783
Tài sản lưu động 2241 2196 Nợ dài hạn 631 627
Tài sản cố định 1596 1538 Vốn chủ 1454 1410
Trừ: khấu hao tích lũy (857) (791) Cổ phần thường,
mệnh giá 10.000đ
421 421
Tài sản cố định ròng 739 747 Vốn bổ sung 361 361
Đầu tư dài hạn 65 Thu nhập giữ lại 1014 956
Tài sản dài hạn khác 205 205 Tổng vốn chủ 1796 1738
TỔNG TÀI SẢN 3250 3148 TỔNG NỢ VÀ 3250 3148
Trang 17
Bài giảng Quản trị tài chính
VỐN CHỦ
* Có thể tạm chia phần tài sản thành ba phần chính như sau:
- Tài sản lưu động
- Tài sản cố định
- Tài sản tài chính
Tài sản lưu động là những tài sản có thể chuyển hóa thành tiền mặt trong thời gian
ngắn, thường trong một chu kỳ kinh doanh hay một năm bao gồm tiền mặt hay các khoản
tương đương, khoản phải thu, tồn kho và chi phí trả trước. Tiền mặt và các khoản tương
đương là những tài sản khả nhượng nhất và vì thế chúng được đặt ở trên cùng. Những tài sản

động kinh doanh hằng ngày, khoản nợ này phát sinh khi công ty mua hàng của họ nhưng chưa
thanh toán.
Các loại giấy nợ: thông thường là những nghĩa vụ ngắn hạn đối với những chủ nợ hay
ngân hàng.
Nợ tích lũy: là các khoản chi phí cho dịch vụ đã sử dụng nhưng chưa thanh toán
chẳng hạn như công ty có thể nợ lương nhân viên hoặc nợ thuế chính phủ.
Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán kể từ hơn một năm bao gồm
thuế thu nhập trì hoãn, vay dài hạn, trái phiếu…
Trang 18
Bài giảng Quản trị tài chính
Giá trị ròng là phần giá trị còn lại sau khi trừ đi các khoản nợ. Vốn chủ chỉ được trả
thông qua cổ tức định kỳ hoặc cũng có thể là cổ tức chuyển nhượng cuối cùng. Vốn chủ sở
hữu hay còn gọi là giá trị ròng bao gồm nhiều khoản mục nhỏ bao gồm vốn tự có hay vốn
góp, vốn bổ sung, các quỹ và thu nhập giữ lại. Vốn cổ phần thường và vốn bổ sung cùng biểu
diễn tổng số tiền được cổ đông trả cho công ty để đổi lấy cổ phiếu thường. Trong ví dụ trên,
mệnh giá cổ phiếu là 10.000 đồng một cố phiếu, điều này có nghĩa là vào ngày 31/12/20x3 có
42.100 cổ phiếu niêm yết. Phần vốn bổ sung biểu diễn số tiền được trả vượt trên mệnh giá của
các cổ phiếu đã bán. Chẳng hạn, nếu công ty đã bán cổ phiếu bổ sung với giá 60.000 đồng thì
sẽ có 10.000 đồng tăng thêm trong khoản mục cổ phần thường còn 50.000 đồng thì được cộng
thêm vào khoản mục vốn bổ sung. Thu nhập giữ lại biểu diễn phần lợi nhuận tích lũy tăng
thêm sau khi trả cổ tức, vì vậy đây là phần thu nhập được giữ lại (hay còn là phần tái đầu tư)
của công ty.
Trong bảng cân đối kế toán, tổng tài sản bằng tổng nợ cộng với vốn chủ sở hữu. Thật
vậy, đây là một nguyên tắc kế toán và do vậy, tổng tài sản trừ tổng nợ bằng vốn chủ sở
hữu, trong đó, phần lớn các khoản nợ đều có thể được xác định chắc chắn. Hầu hết các vấn đề
kế toán liên quan đến bảng cân đối kế toán đều liên quan đến những con số gắn trong các tài
sản. Tuy nhiên, cần lưu ý là các con số trong bảng cân đối kế toán chỉ là những con số kế
toán, nó khác với dự toán theo giá trị kinh tế của tài sản. Giá trị kế toán của tài sản cố định chỉ
là các chi phí thực tế trong quá khứ chứ không phải là giá trị thực nhận được nếu chúng được
bán đi vào thời điểm hiện tại. Ngoài ra, tồn kho thường được ghi ở mức thấp hơn giá thị

sản phẩm được bán. Giá trị chi phí hàng bán tương đối khác nhau giữa hai lĩnh vực sản xuất
và thương mại.
+ Đối với doanh nghiệp sản xuất:
Trang 19
Bài giảng Quản trị tài chính
Chi phí hàng bán = Giá thành sản xuất + chênh lệch thành phẩm tồn kho
Giá thành sản xuất = Chi phí sản xuất + chênh lệch sản phẩm dở dang
Ở đây, chi phí sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu, tiền lương trực tiếp, chi phí
chung.
+ Đối với doanh nghiệp thương mại:
Chi phí hàng đã bán = Giá mua hàng hóa + chênh lệch hàng hóa tồn kho
Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần – chi phí hàng bán
Chi phí bán hàng, quản lý hành chính và chi phí lãi được tách riêng khỏi chi phí hàng
bán vì đó là các chi phí thời kỳ chứ không phải là chi phí sản phẩm. Chi phí bán hàng, quản lý
gồm các chi phí cho việc tiêu thụ hàng hóa, chi phí quảng cáo, chi phí văn phòng, tiền lương
gián tiếp.
Về khấu hao, đối với một công ty sản xuất, chi phí khấu hao thường được xem là một
yếu tố của chi phí hàng hóa đã sản xuất và có thể nó trở thành một phần trong chi phí hàng
bán. Đối với một công ty thương mại, khấu hao thường được tách riêng như là một phần chi
phí thời kỳ khác và đượ đặt sau lợi nhuận gộp.
Thu nhập trước thuế và lãi (EBIT) bao gồm thu nhập hoạt động và thu nhập bổ sung.
Thu nhập hoạt động = Lợi nhuận gộp – Chi phí bán hàng, quản lý - Khấu hao
Thu nhập bổ sung bao gồm lợi tức và tiền lãi từ các đầu tư tài chính.
Chi phí tiền lãi là chi phí trả cho các nguồn vốn vay sử dụng trong kỳ.
Thu nhập trước thuế = EBIT – Chi phí tiền lãi
Thuế thu nhập = Thu nhập chịu thuế x Thuế suất thu nhập
Lợi nhuận ròng = Thu nhập trước thuế - Thuế thu nhập
Báo cáo thu nhập thể hiện kết quả hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của
công ty. Ngoài ra, báo cáo thu nhập còn thể hiện chính sách trả lợi tức và tái đầu tư của công
ty. Cổ tức được trừ ra khỏi thu nhập sau thuế, còn lại là phần thu nhập giữ lại tăng thêm trong

hạn, trong kỳ báo cáo, doanh nghiệp đang triển khai mở rộng kinh doanh, chi phí phản ánh
trong báo cáo làm cho thu nhập của cổ đông thấp nhưng thực tế đến kỳ sau, doanh số có thể
tăng lên gấp đôi.
Thứ hai, tác động của lạm phát sẽ làm giá cả gia tăng và có thể sẽ làm cho thu nhập
của công ty sẽ khác nhau, tuỳ vào phương pháp tính toán hàng hóa tồn kho mà họ lựa chọn
các phương pháp LIFO (late in first out-nhập sau xuất trước) hay FIFO (first in first out-nhập
trước xuất trước).
Thứ ba, bảng báo cáo thu nhập không thể phản ánh chính xác bản chất của các chi phí
tham gia vào việc tạo ra doanh thu. Chẳng hạn như các chi phí thời kỳ như khấu hao, chi phí
quản lý, quảng cáo … Chính vì vậy, trong quá trình phân tích, nhà quản trị tài chính phải chú
ý đến yếu tố này.
b. Các công cụ phân tích tài chính
Các công ty sử dụng các công cụ sau đây để tiến hành phân tích tài chính:
- Phân tích các thông số tài chính: thông số tài chính là công cụ được sử dụng phổ
biến để đánh giá điều kiện và hiệu quả tài chính của một công ty. Thông số tài chính là sự kết
nối hai dữ liệu tài chính bằng cách chia một số này cho số khác. Các thông số tài chính là cơ
sở so sánh giá trị hơn so với các số liệu thô trên các báo cáo tài chính. Để việc phân tích các
thông số tài chính cần được dựa trên cơ sở so sánh: so sánh với các công ty hoặc tiêu chuẩn
ngành theo thời gian. Khi phân tích tình hình tài chính, công ty sẽ đưa ra các kết luận về tình
hình sức khỏe tài chính về công ty theo các mục tiêu đã đặt ra dựa trên các nội dung chính là:
+ Thông số khả năng thanh toán: khả năng thanh toán là khả năng của một tài sản có
thể nhanh chóng chuyển thành tiền. Nội dung này phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong
việc đối phó với các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn.
+ Thông số khả năng sinh lợi: nội dung này cho biết hiệu quả chung của công ty, nó
phản ánh mức độ ổn định của thu nhập khi so sánh với các thông số của quá khứ, đo lường
hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản.
+ Thông số nợ: nội dung này phản ánh mức độ vay nợ hay là tính ưu tiên đối với việc
khai thác nợ vay để tài trợ cho các tài sản của công ty.
+ Các thông số thị trường: Các thông số này cung cấp cho nhà quản trị thông tin nhận
định của nhà đầu tư về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong quá khứ và triển vọng tương lai

có tài sản lưu động chủ yếu gồm tiền mặt, các khoản phải thu không quá hạn thì công ty đó sẽ
khả nhượng hơn so với công ty duy trì chủ yếu tồn kho.
2.1.2. Khả năng thanh toán nhanh
Thông số này là một công cụ bổ sung cho thông số khả năng thanh toán hiện thời khi
phân tích khả năng thanh toán. Thông số này chủ yếu tập trung vào các tài sản có tính chuyển
hóa thành tiền cao hơn như tiền mặt, chứng khoản khả nhượng và khoản phải thu. Với nội
dung như vậy, khả năng thanh toán nhanh là một công cụ đo lường khả năng thanh toán chặt
chẽ hơn so với khả năng thanh toán hiện thời.
Khả năng thanh toán nhanh =
TSLĐ – Tồn kho – TSLĐ khả nhượng thấp
Nợ ngắn hạn
Tuy nhiên, các thông số này vẫn không thể cho chúng ta biết các khoản phải thu và tồn
kho thực tế có cao quá mức hay không. Nếu cao thì điều này sẽ tác động đến đánh giá ban đầu
về khả năng thanh toán của công ty.
2.1.3. Quay vòng khoản phải thu khách hàng
Thông số vòng quay khoản phải thu cung cấp nguồn thông tin nội bộ về chất lượng
khoản phải thu của công ty và mức độ hiệu quả của công ty trong hoạt động thu nợ. Tỷ lệ này
được xác định bằng cách chia doanh thu tín dụng hàng năm cho khoản phải thu hàng ngày:
Vòng quay khoản phải thu =
Doanh thu bán tín dụng
Khoản phải thu bình quân
Thông số này cho chúng ta biết số lần khoản phải thu được chuyển hóa thành tiền
trong năm. Số vòng quay càng lớn thì thời gian chuyển hóa từ doanh số thành tiền mặt càng
ngắn.
Trang 22
Bài giảng Quản trị tài chính
Khi không có thông tin về doanh thu tín dụng, chúng ta phải sử dụng tổng doanh thu.
Khi doanh số biến động theo mùa hoặc tăng mạnh trong năm thì việc sử dụng số dư khoản
phải thu cuối kỳ sẽ không còn phù hợp nữa. Đối với công ty hoạt động có biến động theo
mùa, chúng ta nên sử dụng số dư hằng tháng cho phù hợp hơn. Trong trường hợp công ty có

Tháng bán tín dụng Tháng 12 Tháng 11 Tháng 10 Tháng 9 Tháng 8 vềtrước
Thời gian quá hạn Hiện tại 0-1 1-2 2-3 3 hoặc hơn
Tổng
cộng
Tỷ lệ % trên tổng
số dư khoản phải
thu hiện tại
67 19 7 2 5 100
Nếu thời hạn tín dụng là 2/10 Net 30, bảng kê thời hạn này cho chúng ta biết rằng có
67% khoản phải thu đến ngày 31/12 là khoản phải thu hiện tại, 19% bị quá hạn một tháng, 7%
quá hạn hai tháng và tiếp tục như thế. Tùy vào những kết luận rút ra từ việc phân tích bảng kê
khoản phải thu quá hạn, chúng ta có thể điều tra sâu hơn về chính sách tín dụng và thu hồi nợ
Trang 23
Bài giảng Quản trị tài chính
của công ty. Các khoản phải thu được ghi trên bảng cân đối kế toán thường là những con số
giả định trong trường hợp công ty có thể thu hồi được toàn bộ khoản phải thu. Bảng kê khoản
phải thu quá hạn cung cấp nhiều thông tin hơn so với kỳ thu tiền bình quân vì nó chỉ ra dấu
hiệu của vấn đề một cách chi tiết hơn.
2.1.5. Vòng quay khoản phải trả
Có thể có những lúc công ty cần nắm thông tin về kỳ hạn trả tiền của chính họ đối với
các nhà cung cấp hoặc kỳ hạn trả tiền của một khách hàng tín dụng tiềm năng. trong trường
hợp này, chúng ta cần xem xét thông số vòng quay khoản phải trả và kỳ trả tiền bình quân
như sau:
Hệ số vòng quay khoản phải trả =
Trị giá hàng mua tín dụng
Khoản phải trả bình quân
Kỳ trả tiền bình quân =
Khoản phải trả x Số ngày trong năm
Trị giá hàng mua tín dụng hàng năm
Trong đó, khoản phải trả là số dư cuối kỳ (hoặc giá trị bình quân) và trị giá hàng mua

Trang 24
Bài giảng Quản trị tài chính
Một vấn đề cũng cần phải đặt ra là tồn kho trong sổ sách có giá trị đúng với giá trị
thực của nó hay không. Một khi có dấu hiệu nào đó về tồn kho, chúng ta phải điều tra sâu hơn
để xác định nguyên nhân của nó.
Ngoài ra, còn có một công cụ khác tương tự như vòng quay tồn kho nhưng biểu diễn
theo ngày đó là chu kỳ chuyển hóa tồn kho hay còn gọi là kỳ dự trữ bình quân, xác định số
ngày dự trữ trong kho.
Chu kì chuyển hóa tồn kho =
Số ngày trong năm
Vòng quay tồn kho
Hoặc
Chu kì chuyển hóa tồn kho =
Tồn kho bình quân
Giá vốn hàng bán bình quân mỗi ngày
Thông tin này cho biết trung bình phải mất bao nhiêu ngày để tồn kho được chuyển
thành khoản phải thu và tiền mặt.
2.2. Phân tích thông số nợ
Các thông số nợ phản ánh mức độ vay nợ hay là tính ưu tiên đối với việc khai thác nợ
vay để tài trợ cho các tài sản của công ty.
2.2.1. Thông số nợ trên vốn chủ
Thông số này được dùng để đánh giá mức độ sử dụng vốn vay của công ty.
Thông số nợ =
Tổng nợ
Vốn chủ sở hữu
2.2.2. Thông số nợ trên tài sản
Thông số này được sử dụng cùng với mục đích của thông số nợ trên vốn chủ. Thông
số (D/A) cho biết tổng tài sản đã được tài trợ bằng vốn vay như thế nào.
Thông số nợ (D/A) =
Tổng nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status