Hoạt động nhập khẩu của Công ty cổ phần tập đoàn vật liệu điện và cơ khí - Thực trạng và giải pháp - Pdf 23

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế, sự phát triển
của khoa học công nghệ đã kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động
kinh doanh quốc tế. Hoạt đông buôn bán xuất nhập khẩu diễn ra sôi động giữa
các quốc gia. Mặc dù trên thế giới các nước đều muốn tăng cường xuất siêu,
hạn chế nhập siêu, nhưng nhập khẩu vẫn là một hoạt động tất yếu và không
thể thiếu đối với mỗi quốc gia. Ở cấp độ doanh nghiệp, đặc biệt là với doanh
nghiệp thương mại nói riêng thì hoạt động nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng
bởi nó giúp doanh nghiệp có nguồn hàng để bán, đa dạng hoá và bổ sung
những mặt hàng mà doanh nghiệp muốn kinh doanh nhưng trong nước chưa
có điều kiện để sản xuất.
Với tầm quan trọng của hoạt động nhập khẩu, trên cơ sở nghiên cứu lý
luận đã được học tại trường, kết hợp với cơ sở thực tiễn quan sát được tại
Công ty cổ phần tập đoàn vật liệu điện & Cơ khí ( EMJ ) cùng với sự hướng
dẫn của thầy giáo – PGS. TS Nguyễn Xuân Quang, sự giúp đỡ của các anh
chị tại phòng kinh doanh nói riêng và của công ty nói chung nên em chọn đề
tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình là: “Hoạt động nhập khẩu của Công
ty cổ phần tập đoàn vật liệu điện và cơ khí - Thực trạng và giải pháp ”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về hoạt động nhập khẩu
để phân tích, đánh giá hoạt động nhập khẩu của EMJ trong thời gian qua và từ
đó đưa ra một ssố giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nhập khẩu tại EMJ
trong thời gian tới.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài :
Hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại EMJ.

nhuận. Do đó việc mua hàng từ các đối tác, các nhà cung cấp trong nước cũng
như việc nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nước
ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với công tác tạo nguồn hàng của doanh
nghiệp thương mại.
Như vậy, vai trò của nhập khẩu đối với doanh nghiệp thương mại thể
hiện ở những điểm sau:
- Thứ nhất: Giúp doanh nghiệp có nguồn hàng khi những loại hàng hoá
đó trong nước không thể sản xuất được.
- Thứ hai: Việc nhập khẩu hàng hoá giúp doanh nghiệp thương mại có
thể đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh
với các đối thủ kinh doanh cùng ngành nghề.
- Thứ ba: Nếu doanh nghiệp có chiến lược đúng đắn, phù hợp như tìm
được đối tác tốt, nhập khẩu những mặt hàng mà trong nước có nhu cầu với giá
cả hợp lý thì khả năng kiếm được lợi nhuận sẽ lớn, từ đó hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp thương mại sẽ được nâng cao.
1.1.2 - Bản chất của hoạt động nhập khẩu ở doanh nghiệp thương mại.
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Thực chất hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp thương mại là việc
doanh nghiệp mua hàng hoá từ các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp nước
ngoài theo nguyên tắc thị trường quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như nhu cầu của thị trường trong nước
nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
1.1.3 – Các hình thức nhập khẩu chủ yếu của doanh nghiệp.
a. Nhập khẩu trực tiếp.
Theo phương thức nhập khẩu này, các doanh nghiệp trực tiếp giao dịch
với nhau. Việc mua và bán hàng không ràng buộc với nhau, bên mua chỉ có
thể mua mà không thể bán và ngược lại. Bên bán ( bên xuất khẩu) và bên mua
( bên nhập khẩu) thường phải trải qua quá trình giao dịch và thương lượng cới

Vì phương thức này được thông qua bên thứ ba ( các trung gian ), đó là
những người am hiểu về thị trường, pháp luật, tập quán buôn bán của địa
phương nên họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán và hạn chế được những
rủi ro cho nhà nhập khẩu. Họ thường có cơ sở vật chất, nghiệp vụ nhất định
nên doanh nghiệp sẽ giảm bớt được chi phí vận tải, tìm hiểu thị trường…
Tuy nhiên phương thức nhập khẩu này là làm mất sự liên hệ trực tiếp của
nhà nhập khẩu với thị trường và phải chia sẻ một phần lợi nhuận cho các
trung gian.
c. Nhập khẩu liên doanh.
Đây là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết một cách tự
nguyện giữa các doanh nghiệp ( trong đó có ít nhất một doanh nghiệp nhập
khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp cùng nhau để tiến hành giao dịch và đưa ra các
biện pháp liên quan đến nhập khẩu để hai bên đều đạt được lợi ích.
Với hình thức nhập khẩu này doanh nghiệp không tự chủ như nhập khẩu
trực tiếp nhưng lại chịu ít rủi ro hơn vì vốn, trách nhiệm, quyền hạn đều được
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
6
Chuyên đề tốt nghiệp
phân bổ cho các bên. Trên thực tế bên nào có nghiệp vụ, kinh nghiệm, bạn
hàng giao dịch sẽ có quyền nhập khẩu trực tiếp.
Trong thực tế ở nước ta hiện nay nhiều doanh nghiệp muốn tham gia
nhập khẩu trực tiếp để giám sát nhưng không đủ hoàn toàn mọi điều kiện nên
phương thức này vẫn thường được sử dụng.
d. Nhập khẩu tái xuất.
Đây là hình thức nhập khẩu hàng hoá vào trong nước nhưng không phải
để tiêu thụ mà để xuất khẩu trở lại sang nước khác. Mục đích của phương
thức này là mua rẻ hàng hoá ở nước này , bán đắt ở nước khác và thu số ngoại
tệ lớn hơn so với số vốn bỏ ra lúc đầu. Vì vậy phương thức này luôn thu hút 3
đối tác ở 3 nước khác nhau tham gia: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và
nước tái xuất.

1.2 – Các nội dung cơ bản trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
1.2.1 - Nghiên cứu thị trường tìm khiếm nguồn hàng và đối tác cho hoạt
động nhập khẩu:
a. Khái niệm thị trường.
“ Thị trường của doanh nghiệp thương mại là một hay nhiều nhóm khách
hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự nhau và những người bán cụ thể
nào đó mà doanh nghiệp với tiềm năng của mình có thể mua hàng hoá, dịch vụ
để thoả thoả mãn nhu cầu của khách hàng ” ( Giáo trình Quản trị doanh nghiệp
thương mại – PGS.TS Hoàng Minh Đường, PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc).
b. Các phương pháp nghiên cứu thị trường.
Doanh nghiệp có thể sử dụng 2 phương pháp sau đây để nghiên cứu
thị trường:
♣. Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường:
Đây là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp từ thị trường để tiến
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
8
Chuyên đề tốt nghiệp
hành phân tích chúng, từ đó đưa ra kết luận bằng cách: điều tra phỏng vấn,
qua các bảng hỏi, thư góp ý, quan sát, ghi chép… Theo phương pháp này các
thông tin thu được là những thông tin sơ cấp, thường chưa qua xử lý; phải qua
tổng hợp, phân tích. Nhược điểm của phương pháp này là chi phí cao, nhưng
có ưu điểm là thông tin chính xác, cập nhật, không bị lạc hậu.
♣. Phương pháp nghiên cứu tại bàn:
Là phương pháp thu thập thông tin thông qua các kênh gián tiếp, trên các
phương tiện thông tin đại chúng, các số liệu niên giám thống kê, các báo cáo
của các cơ quan có thẩm quyền… Nghiên cứu tại bàn thu được các thông tin
thứ cấp. Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm thời gian thu thập, xử lý dữ
liệu, chi phí thấp. Nhưng có nhược điểm là thông tin tổng quát, đôi khi lỗi thời.
Các doanh nghiệp khi nghiên cứu thị trường sẽ tuỳ vào điều kiện và mục
đích của mình để lựa chọn phương pháp nghiên cứu cho phù hợp hoặc có thể

tính đồng bộ, tính linh hoạt, tính khả thi, tính cụ thể, tính nhất quán. Đặc biệt
mục tiêu phải phù hợp với điều kiện thực tế và nguồn lực của doanh nghiệp.
b. Xác định chính sách, điều kiện nhập khẩu.
Là việc xác định tư tưởng chỉ đạo trong quá trình đám phán và trong quá
trình thực hiện hợp đồng về sau của doanh nghiệp. doanh nghiệp sẽ xác định
chính sách nhập khẩu của mình với các đối tác có thể lâu dài hay chỉ tạm thời
mang tính phi vụ.
c. Lập kế hoạch, phương án kinh doanh.
Phương án kinh doanh nhập khẩu là tài liệu thể hiện đề xuất phương án
nhập khẩu mặt hàng nào đó với các biện pháp thực hiện cụ thể, các chỉ tiêu đánh
giá trên cơ sở một số chỉ tiêu định tính và định lượng, thể hiện được mức độ khả
thi của các phương án đó như: đặc điểm mặt hàng kinh doanh, đặc điểm của đối
tác, cùng với các chỉ tiêu cụ thể về doanh thu, lợi nhuận, chi phí… phương án
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
10
Chuyên đề tốt nghiệp
kinh doanh thường do bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp lập ra và trình lên
lãnh đạo của doanh nghiệp, nếu được chấp nhận sẽ được đưa vào thực thi.
Kế hoạch kinh doanh là bản mô tả tổng quát những mục tiêu, nhiệm vụ
và các biện pháp để đạt được các mục tiêu đó. Có kế hoạch kinh doanh thì
hoạt động của doanh nghiệp mới đi đúng hướng, tránh được những nguy cơ
về rủi ro, tổn thất có thể sảy ra. Kế hoạch kinh doanh cũng cần đảm bảo tính
đồng bộ, tính khoa học, tính nhất quán, tính khả thi.
d. Lựa chọn phương thức nhập khẩu.
Doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu các phương thức nhập khẩu
hiện nay, phân tích ưu nhược điểm của từng phương thức. Sau đó căn cứ vào
điều kiện thực tế của doanh nghiệp để lựa chọn phương án nhập khẩu phù
hợp. Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế, gặp khó khăn
trong việc thu thập thông tin, tiếp cận thị trường thì nên chọn phương thức
nhập khẩu uỷ thác sẽ có lợi hơn. Ngược lại những doanh nghiệp có những khả

với hàng hoá đặc biệt có sự quản lý về chuyên môn thì sẽ được gửi cho các cơ
quan quản lý chuyên nghành tương ứng.
b. Làm thủ tục ban đầu thanh toán quốc tế.
Tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên trong hợp đồng về phương thức thanh
toán mà doanh nghiệp nhập khẩu phải tiến hành các công việc thanh toán theo
quy định.
Nếu trong hợp đồng, hai bên thoả thuận thanh toán bằng phương thức
chuyển tiền và người mua phải trả trước một phần tiền hàng theo quy định thì
doanh nghiệp phải đến ngân hàng chuyển số tiền trả trước cho nhà xuất khẩu.
Nếu hai bên quy định việc thanh toán được thực hiện theo phương thức
đổi chứng từ trả tiền ngay thi doanh nghiệp sẽ phải đến ngân hàng được chỉ
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
12
Chuyên đề tốt nghiệp
định trong hợp đồng để ký biên bản ghi nhớ về việc thanh toán và chuyển đủ
số tiền vào ngân hàng để lập tài khoản tín tác thanh toán cho người bán.
Còn nếu hợp đồng xuất nhập khẩu quy định việc thanh toán bằng L/C thì
doanh nghiệp sẽ đến ngân hàng để làm các thủ tục mở L/C.
c. Thuê phương tiện vận tải.
Thông thường hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng
đường biển vì chuyên chở hàng hoá bằng tàu có thể chở được với khối lượng
lớn, cước phí lại rẻ. Tuỳ vào phương thức giao nhận mà nghĩa vụ thuê tàu sẽ
do người xuất khẩu hay người nhập khẩu đảm nhận. Doanh nghiệp nhập khẩu
sẽ thực hiện nghĩa vụ thuê tàu nếu hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết theo
các điều kiện nhóm E, F (Incoterm 2000).
Khi thực hiện nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải doanh nghiệp cần thực
hiện những nghiệp vụ cụ thể như: Liên hệ với các đại lý để thuê phương tiện
vận tải, lấy bản đăng ký, xem xét lịch tàu, bảng giá cước phí và các nghiệp vụ
khác. Sau đó lựa chọn chuyến tàu, hãng tàu, điền vào mẫu đăng ký thuê tàu,
xác nhận với hãng tàu, tổ chức giao nhận hàng, lấy giấy biên bản để đổi lấy

doanh nghiệp tiến hành nộp thuế nhập khẩu, nếu chưa phù hợp với các yêu
cầu về thủ tục hải quan của nhà nước thì doanh nghiệp phải điêu chỉnh lại cho
phù hợp.
f. Các hoạt động giao nhận, xếp dỡ và lưu kho.
Các cơ quan vận tải có trách nhiệm tiếp nhận hàng nhập khẩu từ nước
ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho. Doanh
nghiệp nhập khẩu phải trực tiếp hoặc thông qua một đơn vị uỷ thác để: ký kết
hợp đồng với cơ quan vận tải về việc giao nhận hàng từ tàu nước ngoài về,
cung cấp các tài liệu về việc giao nhận, thông báo hoặc tiếp tục thuê phương
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
14
Chuyên đề tốt nghiệp
tiện vận chuyển về doanh nghiệp đặt hàng, theo dõi và đôn đốc cơ quan vận
tải lập những biên bản cần thiết của việc giao nhận hàng; thanh toán cho các
cơ quan vận tải các khoản cước phí giao nhận, bốc dỡ, bảo quản, vận chuyển
hàng hoá.
g. Kiểm tra hàng nhập khẩu, khiếu nại ( nếu có ).
Những hàng hoá nhập khẩu cần phải được kiểm tra kĩ càng. Nghiệp vụ
kiểm tra bao gồm: phá bỏ các kẹp chì hàng hoá, tiến hành kiểm tra toàn bộ
hoặc hoặc kiểm tra đại diện đối với hàng hoá, lập các biên bản hàng hoá nhập
khẩu, tập hợp và lưu giữ hồ sơ về hàng nhập khẩu. Nếu quá trình kiểm tra
hàng hoá phát hiện có bất kỳ hư hỏng, mất mát, vi phạm gì người nhập khẩu
có quyền khiếu nại đối với người bán, người chuyên chở hoặc bến cảng…
việc khiếu nại được tiến hành theo những quy định của pháp luật.
h. Thanh toán hợp đồng.
Sau khai tiếp nhận hàng hoá xong và xử lý các sai sót phát sinh, doanh
nghiệp nhập khẩu sẽ tiến hành thanh toán nốt số tiền còn lại của hợp đồng.
Tuỳ theo các phương thức thanh toán đã thoả thuận trong hợp đồng mà doanh
nghiệp nhập khẩu tiến hành các bước thanh toán khác nhau. Hiện nay, các
hợp đồng ngoại thương được thanh toán chủ yếu theo các phương thức: trả

đã nhập khẩu về tất cả bao nhiêu mặt hàng? Với tổng khối lượng là bao
nhiêu? Sau đó, doanh nghiệp phải tiến hành so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch
đặt ra để đánh giá tỷ lệ hoàn thành kế hoạch mà doanh nghiệp đạt được, so
sánh với chỉ tiêu cùng kỳ năm trước để thấy tốt độ tăng so với kỳ trước.

=
=
n
i
QiQ
1
Trong đó:
Qi : là khối lượng hàng của mặt hàng i nhập khẩu trong kỳ
n: là số mặt hàng nhập khẩu trong kỳ
Q: là tổng khối lượng hàng nhập khẩu trong kỳ
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch =
Q
tt
x 100%
Q
kh
Trong đó: Q
tt
: Tổng khối lượng hàng hóa thực tế nhập khẩu trong kỳ
Q
kh
: Tổng khối lượng hàng hóa nhập khẩu theo kế hoạch
Tốc độ tăng (giảm) =
Q
1

tăng (giảm) không? Tăng (giảm) bao nhiêu phần trăm? Nguyên nhân do đâu?
Tỷ lệ thực hiện kế hoạch kim ngạch nhập khẩu:
H =
Kim ngạch nhập khẩu thực hiện
Kim ngạch nhập khẩu kế hoạch
Hoạt động nhập khẩu của công ty sẽ được coi là hiệu quả nếu H

>=1
+. Thị trường nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp trong kỳ
Thị trường nhập khẩu đối với những doanh nghiệp nhập khẩu có ý nghĩa
quan trọng. Thông thường, trong kế hoạch nhập khẩu từ đầu kỳ doanh nghiệp
thường đặt các mục tiêu cụ thể về thị trường như: số lượng thị trường nhập
khẩu, số lượng nhà cung ứng trên thị trường, đối với từng mặt hàng… Vì vậy,
cuối kỳ doanh nghiệp cũng phải tiến hành đánh giá xem số lượng các nhà
cung ứng đối với từng mặt hàng, đối với tất cả các mặt hàng có tăng lên hay
không? Thị trường nhập khẩu của doanh nghiệp có được mở rộng hay bị thu
hẹp lại? Để từ đó còn đánh giá được các công tác trong nghiên cứu mở rộng
thị trường, cũng như các công tác khác có đạt hiệu quả không?
+. Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu:
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả trực tiếp của hoạt động nhập khẩu. Chỉ
tiêu này cho biết số nội tệ thu được là bao nhiêu khi bỏ ra những đơn vị ngoại
tệ nhập khẩu.
Tỷ suất ngoại
tệ nhập khẩu
=
Tổng thu nhập bán hàng nhập khẩu (nội tệ)
=

trường nhập khẩu, thay đổi khối lượng hàng hoá nhập khẩu, thậm chí chuyển
hướng kinh doanh nhập khẩu sang những mặt hàng khác. Còn ở trong nước
doanh nghiệp có thể điều chỉnh giá bán hàng nhập khẩu của mình sao cho phù
hợp với chi phí nhập khẩu đã bỏ ra, điều chỉnh phương án kinh doanh, cách
thức bán hàng.
1.3 – Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của
doanh nghiệp.
1.3.1 - Nhân tố khách quan.
a. Chế độ chính sách và luật pháp.
Mỗi quốc gia đều có chính sách nhằm đưa mọi hoạt động vào khuôn khổ
và phục vụ mục đích lâu dài của mình. Rõ ràng hoạt động ngoại thương, một
hoạt động khá phức tạp, có tác động rất lớn đến quan hệ đối ngoại nói chung
cũng như kinh tế đối ngoại. Các chủ thể hoạt động kinh doanh luôn phải tuân
thủ quy định và luật pháp, những quy định có tính cưỡng chế. Nguồn luật ở
đây gồm có: luật nước nhập khẩu, luật nước xuất khẩu, luật nước thứ 3 và các
tập quán quốc tế. Môi trường pháp lý tác động khá mạnh đến hoạt động này,
nếu nó ổn định, đồng bộ, hoàn thiện thì sẽ giúp cho các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu có cơ sở vững chắc chủ động nhằm thực hiện được
nguyên tắc trong quan hệ kinh tế đối ngoại đó là: bình đẳng, tôn trọng lẫn
nhau, đôi bên cùng có lợi.
Mục tiêu, chiến lược được đề ra thông qua các chính sách. Trong hoạt
động ngoại thương chính sách hoạt động quản lý của mỗi nước có những đặc
trưng riêng. Có những nước tập trung vào công cụ thuế quan, có những nước
lại tập trung vào công cụ phi thuế quan, hạn ngạch, ngoại tệ…
Tất cảc các công cụ trên đều nhằm mục đích nhập khẩu phải bảo đảm
phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân. Đứng ở một góc độ nào đó
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
20
Chuyên đề tốt nghiệp
chắc chắn các doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng, có thể là khuyến khích nhập

nhuận cũng bị tác động. Các xu hướng kinh tế, chính trị, chính sách bảo hộ
hay mở cửa … ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các đối tác làm cho lượng
cung bị giảm sút. Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế, tài chính, bất đồng về kinh
tế chính trị… đều ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh nhập khẩu.
Trước khi bước vào hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp cần phải
xác định được nhu cầu về mặt hàng trong nước như: giá cả, chất lượng, số
lượng đồng thời phải tìm kiếm đối tác nước ngoài về khả năng cung cấp có
đáp ứng được nhu cầu trong nước hay không; xác định tiềm lực về tài chính
của doanh nghiệp nước ngoài ra sao để có thể hỗ trợ rủi ro về chất lượng, tạo
uy tín cho mặt hàng kinh doanh được lâu dài và quan trọng nhất là khả năng
sản xuất của bên nước ngoài để doanh nghiệp có thị trường nhập khẩu ổn
định. Ngoài ra, sự cạnh tranh mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất trong
nước đòi hỏi doanh nghiệp nhập khẩu phải rất chú ý đến những điểm mạnh
của mặt hàng mà mình nhập khẩu.
d. Cơ sở hạ tầng.
Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống
thông tin liên lạc, sân bay, bến cảng… có tác động rất lớn đến các hoạt động
kinh tế nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng. Nếu cơ sở hạ tầng tốt sẽ
tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh, giúp giảm được các chi phí, tiết
kiệm thời gian cho hoạt động kinh doanh.
e. Hệ thống tài chính, ngân hàng.
Vai trò của hệ thống tài chính, ngân hàng ngày càng lớn trong nền kinh tế.
Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý, cung cấp vốn, bảo đảm việc
thanh toán một cách thuận tiện và nhanh chóng cho các doanh nghiệp. Hoạt động
ngoại thương không thể thiếu được hệ thống này. Ngân hàng với vai trò của người
bảo lãnh, bảo đảm về mặt lợi ích sẽ giúp nhà nhập khẩu thực hiện nghiệp vụ
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
22
Chuyên đề tốt nghiệp
nhanh chóng hơn. Ngoài ra ngân hàng còn giúp cho doanh nghiệp có được khoản

trong việc nhập khẩu, đồng thời các doanh nghiệp trong nước cũng sẽ không
ngần ngại khi tiêu thụ hàng hoá mà doanh nghiệp đã nhập khẩu về. Đặc biệt,
mối quan hệ làm ăn lâu dài với các đối tác, các khách hàng truyền thống có vai
trò rất lớn. Nó giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong quá trình tìm kiếm nguồn
hàng cũng như các khâu trong thực hiện hoạt động nhập khẩu.
c. Đặc điểm mặt hàng nhập khẩu của doanh nghiệp và khả năng tiêu thụ.
Điều này muốn nói đến loại mặt hàng mà doanh nghiệp nhập khẩu, nói
đến khả năng maketing, đến thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Tìm được
nhà cung cấp tốt, sản phẩm tốt nhưng hoạt động kinh doanh sẽ thất bại nếu
doanh nghiệp không có khả năng bán những lô hàng đã nhận về. Doanh
nghiệp dựa vào đặc điểm hàng mình nhập khẩu về mà có các chiến lược phù
hợp. Bán đựơc nhiều hàng công ty mới thu hồi được vốn, tái đầu tư cho nhập
khẩu, tiếp tục quá trình kinh doanh. Những doanh nghiệp có khả năng tiêu thụ
nội địa lớn, số vòng quay của vốn nhiều, hiệu quả sử dụng vốn cũng cao hơn,
và như thế đồng nghĩa với lợi nhuận cao hơn.
d. Nguồn lực tài chính.
Những hàng hoá nhập khẩu thường có giá trị lớn. Nếu nguồn vốn hạn
chế, doanh nghiệp sẽ không thể tiến hành hoạt động nhập khẩu những lô hàng
có số lượng lớn, giá trị lớn. Đồng thời cũng không thể tự mình trực tiếp tiến
hành nhập khẩu được.
Lò Văn Tiến Lớp: Thương mại KV16
24
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
CỦA EMJ TỪ 2005 – 2007
2.1 – Khái quát về công ty cổ phần tập đoàn vật liệu điện và cơ khí (EMJ).
2.1.1 - Giới thiệu chung về công ty:
- Tên công ty:
Công ty cổ phần tập đoàn vật liệu điện và Cơ khí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status