Báo cáo “ Đầu tư phát triển tại công ty Cổ Phần Chứng Khoán Sài Gòn” - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU:

Thị trường chứng khoán ra là một kênh huy động vốn đầu tư dài hạn đáp ứng nhu cầu
cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán. Để thị
trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả thì không thể thiếu yếu tố chủ thể tham gia
kinh doanh trên thị trường. Để góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động
một cách theo trật tự, công bằng, hiệu quả và phát triển bền vững cần phải có sự ra đời
và hoạt động của các Công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán chuyên cung cấp các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Đây là một
lĩnh vực còn non trẻ ở Việt Nam và mới trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Vì
vậy, công ty chứng khoán cũng có những đặc thù riêng biệt như khi thành lập phải đáp ứng
yêu cầu về vốn, bộ máy quản lý không những cần trình độ chuyên môn cao mà còn cần có
đạo đức nghề nghiệp và phải có cơ sở vật chất đầy đủ và hiện đại.
Công ty chứng khoán ra đời không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các tổ chức phát hành
là huy động vốn mà còn có vai trò đối với nhà đầu tư. Công ty chứng khoán với trình độ
chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cho các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu
tư có hiệu quả.
Trong quá trình thực tập tại công ty Cổ Phần Chứng Khoán Sài Gòn đã giúp em kiểm tra,
bổ sung được kiến thức đã theo học ở trường và được tiếp xúc với thực tế nhiều hơn.
Công ty Cồ Phần Chứng Khoán Sài Gòn lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam cả
về vốn điều lệ và doanh thu, hoạt động đầu tư phát triển của công ty luôn được hội đồng
đầu tư và ban lãnh đạo quan tâm thích đáng nhưng vẫn còn một số hạn chế. Vì vậy em đã
lựa chọn đề tài “ Đầu tư phát triển tại công ty Cổ Phần Chứng Khoán Sài Gòn” .

Cơ cấu Chuyên đề gồm có các nội dung sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về Năng lực cạnh tranh và Đầu tư nâng cao Năng lực cạnh tranh
của công ty chứng khoán
Chương II: Thực trạng về đầu tư nâng cao NLCT của công ty cổ phần chứng khoán Thăng
Long
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long

Trong các cuộc họp Đại hội cổ đông, cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu cho các
chức vụ quản lý công ty; bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Nếu
không tham dự Đại hội cổ đông được, cổ đông có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt
họ
- Quyền tiếp cận thông tin
Cổ đông có quyền được thông báo kịp thời mọi diễn biến trong công ty, đặc biệt những
tình hình có khả năng tác động mạnh đến giá cổ phiếu. Các báo cáo tài chính định kỳ và
các loại thông báo cũng là các thông tin mà cổ có quyền tiếp cận
Tuy nhiên, đối với nhà đầu tư, cổ tức và các quyền trên không phải là nguồn lợi duy
nhất do cổ phiếu mang lại. Ngoài cổ tức ra, nhiều nhà đầu tư còn kỳ vọng vào một khoản
chênh lệnh giữa giá mua cổ phiếu và giá bán cổ phiếu. Tất nhiên, nếu cổ phiếu tăng giá so
với thời điểm mua vào thì khi bán ra ta sẽ có lãi, còn ngược lại, nếu cổ phiếu xuống giá thì
sẽ lỗ vốn. Tuy nhiên việc lỗ và lãi này chỉ mang tính chất sổ sách nếu bạn chưa bán chứng
khoán đi. Về mặt giá trị, bạn vẫn đang sở hữu một tỷ lệ nhất định công ty cổ phần. Như
vậy, tổng lợi tức mà bạn kỳ vọng ở cổ phiếu sẽ là cổ tức cộng với khoản chênh lệch giá.
Trái phiếu:
Trái phiếu là công cụ nợ do cơ quan công quyền, các công ty đang hoạt động phát
hành nhằm huy động vốn trên thị trường trong đó người sở hữu trái phiếu là các trái chủ
được cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi trong một thời hạn nhất định. Bản chất phát hành
trái phiếu là một hình thức vay nợ của chủ thể phát hành nên trái chủ được hưởng các
quyền như một chủ nợ. Họ được ưu tiên thanh toán tiền lãi và hoàn trả tiền gốc khi đơn vị
phát hành giải thể hoặc phá sản. Thời gian đáo hạn của trái phiếu là hữu hạn. Chủ thể của
trái phiếu ngoài công ty cổ phần còn có các loại hình doanh nghiệp khác, chính quyền các
địa phương và chính phủ.
Tiền lãi trái phiếu thường ổn định so với mệnh giá. Người ta thường xếp trái phiếu vào
loại chứng khoán có thu nhập ổn định. Lãi suất của các loại của trái phiếu tại các thời điểm
khác nhau phụ thuộc vào cung cầu trên thị trường
Chứng chỉ quỹ đầu tư
Chứng chỉ quỹ đầu tư là một loại chứng khoán do các quỹ đầu tư phát hành nhằm thu
hút vốn trên thị trường nhằm đầu tư vào thị trường chứng khoán hay các dạng tài sản khác

nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ nào.
Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các "Hợp đồng" mua bán, trao
đổi thực hiện ngay, kể cả những hợp đồng cho tương lai 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm
sau mới thực hiện. Những cuộc trao đổi lúc này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số
người này tăng lên. Đến cuối thế kỷ 15 "Khu chợ riêng" này trở thành một "thị trường" và
thời gian họp chợ rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày. Trong các phiên chợ, họ
thống nhất với nhau những quy tắc cho các cuộc thương lượng. Dần dần những quy ước đã
được tu bổ hoàn thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những người tham gia. Từ
đó thị trường chứng khoán bắt đầu hình thành.
Buổi họp đầu tiên của giai đoạn này xảy ra năm 1453 trong một lữ quán của gia đình
Vanber tại Bruges (Bỉ). Trước lữ quán này có một bảng hiệu vẽ hình ba túi gia với một từ
tiếng Pháp "Bourse", tức là "Mậu dịch trường" hay còn gọi là "Sở giao dịch". "Mậu dịch
trường" là một bảng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của mậu dịch
trường: mậu dịch trường hàng hoá, mậu dịch trường ngoại tệ và mậu dịch trường giá khoán
động sản.
Đến năm 1547, mậu dịch trường tại thành phồ Bruges bị suy sụp khi Bruges mất hẳn
sự phồn vinh vì eo biển dẫn tàu bè vào thị trấn bị cát lấp mất. Mậu dịch trường được dời
đến hải cảng Auvers (Bỉ). Mậu dịch trường Auvers phát triển mạnh và từ kinh nghiệm của
nó, các mậu dịch ở các nước khác bắt đầu phát triển. Tại London, Pháp, ý, Đức và Bắc Âu
các mậu dịch trường khác cũng được thành lập với ít nhiều cải tiến, tuỳ theo điều kiện của
mỗi quốc gia.
Sau một thời gian hoạt động, mậu dịch trường không còn phù hợp và không đủ sức cho
các giao dịch với ba nội dung hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, giao dịch hàng hoá được tách
ra thành "khu thương mại", giao dịch ngoại tệ tách ra thành "thị trường hối đoái", giao dịch
giá khoán động sản tách ra thành "thị trường chứng khoán" và các hợp đồng cho tương lai
được tách ra thành các "thị trường tương lai".
Như vậy, thị trường chứng khoán đã xuất hiện từ thế kỷ 15. Sự hình thành thị trường
chứng khoán cũng đồng thời với thị trường hối đoái và các loại thị trường khác.
Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán thế giới đã trải qua những
bước thăng trầm. Thời kì huy hoàng nhất là vào những năm 1875 - 1913, thị trường chứng

về các tín phiếu kho bạc), kĩ thuật mới về phát hành và đấu thầu các tín phiếu, đồng nhất
các đợt phát hành trái phiếu qua việc phát hành các OAT (rái phiếu kho bạc đồng nhất).
Đổi mới kĩ thuật để tạo dựng một cơ cấu đủ hiện đại nhằm đáp ứng với sự phát triển của
việc tài trợ phí trung gian hoá, các chức năng của ngành kinh doanh thị trường chứng
khoán đã được tin học hoá mạnh mẽ. Hai cải cách lớn nhất về kĩ thuật một mặt liên quan
đến sự giao dịch (front-office)và mặt khác liên quan đế việc xử lý hành chính các nghiệp
vụ giao dịch (back-office), tạo điều kiện cho việc lưu thông các cổ phiếu giữa các tổ chức
thành viên, thông qua các nghiệp vụ chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác.
+Thành lập các thị trường biến tướng. Năm 1986, ở Pháp thành lập thị trường MATIF,
năm 1987 thành lập thị trường MONEP, các thị trường biến tướng này được lập ra để tạo
cho các tổ chức kinh tế và cho các nhà quản lý hồ sơ chứng khoán khả năng phòng ngừa
các rủi ro liên quan đến các biến động về cổ phiếu, tỷ lệ lãi suất và tỷ giá hối đoái. Các thị
trường này cũng có mục đích tăng vốn khả dụng trên thị trường giao ngay qua các khả
năng kinh doanh chênh lệch giá. Là các thị trường thực sự trong thời đại mới, các thị
trường này đã thúc đẩy việc hiện đại hoá giới tài chính và tham gia vào vào cuộc chiến
giành ngôi bá chủ tài chính ở châu Âu.

2.1 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán gồm 4 chủ thể là
Tổ chức phát hành:
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường vốn. Nhà
phát hành chính là người cung cấp chứng khoán và các công cụ thị trường vốn khác ra thị
trường.
Tổ chức phát hành bao gồm
- Chính phủ và chính quyền địa phương là các tổ chức phát hành trái phiếu
- Các doanh nghiệp là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành cácc ông cụ tại chính như các trái phiếu,
chứng chỉ quỹ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ
Để phát hành chứng khoán ra công chúng thì các tổ chức phát hành phải thỏa mãn điều
kiện và thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng


2.2 Chức năng của thị trường chứng khoán
• Chức năng huy động vốn cho các tổ chức phát hành
Trước đây, khi mà thì trường chứng khoán chưa hình thành, các đơn vị kinh tế chỉ biết
huy động vốn thông qua ngân hàng với lãi suất cho vay thay đổi tuỳ theo lãi xuất của thị
trường. Ngày nay, khi đã có thị trường chứng khoán ngoài kênh từ ngân hàng thì các đơn
vị kể cả nhà nước cũng có thể huy động trực tiếp từ các nguồn tiết kiệm bằng cách phát
hành cổ phiếu hay trái phiếu. Thông qua thị trường chứng khoán các chủ thể phát hành có
thể huy động được vốn mà ko bị áp lực trả lãi, khi công ty làm ăn hiệu quả thì thị giá của
cổ phiếu của công ty càng tăng làm cho việc huy động vốn càng dê dàng hơn. Chính phủ
cũng có thê huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường để lấy
tiền chi tiêu cho chính phủ, đầu tư công thay vì phải phát hành thêm tiền tệ dễ gây ra hiện
tượng lạm phát.
• Đa dạng hoá các kênh đầu tư cho dân chúng
Khi có thị trường chứng khoán thì người dân sẽ có một kênh đầu tư mới ngoài những
kênh đầu tư truyền thống như gửi tiết kiệm tại ngân hàng, bất động sản, hàng hoá… hay là
cất trữ dưới dạng kim khí quý. Thị trường chứng khoán với nhiều loại cổ phiếu với mức độ
rủi ro khác nhau, kỳ vọng lợi nhuận khác nhau, thuộc hầu hết các ngành nghề trong xã hội
sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư với những khả năng tài chính khác nhau, sở thích đầu tư
khác nhau. Điều này làm cho việc sử dụng tiền của người dân được hiệu quả hơn và sẽ thu
hút lượng tiền nhàn rỗi đáng kể trong dân vào thị trường sản xuất thông qua thị trường
chứng khoán.
Không những thế thị trường chứng khoán còn có chức năng là thu hút các nhà đầu tư là
các cá nhân, tổ chức nước ngoài có nguồn tài chính khổng lồ cho nền kinh tế Việt Nam .
• Là công cụ điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế, thị trường chứng khoán là một công cụ quan
trọng để nhà nước thông qua đó biết được tình hình kinh tế trong hiện tại và tương lai gần
để có những chính sách điều chỉnh kinh tế và tiền tệ hợp lý. Ngoài ra, thông qua thị trường
chứng khoán chính phủ và các tổ chức công quyền có thể phát hành trái phiếu của mình để
huy động cho chi tiêu và đầu tư công mà không phải phát hành thêm tiền ra thị trường là

II CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm:
Công ty chứng khoán là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ trên
thị trường chứng khoán. và là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc
lập. Công ty chưng khoán chính là cầu nối giữa cơ quan quản lý với nhà đầu tư và tổ chức
phát hành; giữa tổ chức phát hành, niêm yết với nhà đầu tư. Do đặc điểm của CTCK có thể
kinh doanh một lĩnh vực, loại hình kinh doanh chứng khoán nhất định nên có quan điểm
phân chia CTCK những loại sau:
Công ty môi giới chứng khoán: chỉ thực hiện mua bán chứng khoán cho khách hàng để
hưởng hoa hồng
Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: Là công ty chứng khoán chủ yếu thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá
Công ty kinh doanh chứng khoán: đây là công ty chủ yếu thực hiện đầu tư chứng khoán
qua nghiệp vụ tự doanh với vai trò như một nhà đầu tư chuyên nghiệp
Công ty trái phiếu; là công ty chứng khoán chuyên thực hiện việc mua bán trái phiếu kiếm
lợi nhuận
Công ty chứng khoán phi tập trung là công ty chứng khoán chủ yếu hoạt động trên thị
trường chứng khoán phi tập trung
Hiện tại thì tại Việt Nam các công ty chứng khoán thường hoạt động trên rất nhiều hoạt
động như hoạt động môi giới chứng khoán, hoạt động tự doanh chứng khóan, hoạt động
kinh doanh trái phiếu…tùy thuộc vào mức vốn điều lệ và chính sách hoạt động của công ty

2 Loại hình tổ chức và cơ cấu của công ty chứng khoán
2.1 Loại hình tổ chức của công ty chứng khoán
Hiện nay có 3 loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán là: công ty cổ phần,
công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là các cổ đông
Cổ đông chỉ chịu trahcs nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào trong doanh nghiệp

Phòng ký quỹ
Tuy nhiên, căn cứ vào quy mô thị trường và sự chú trọng vào các nghiệp vụ mà công ty
chứng khoán có thể chuyên sâu từng bộ phận hoặc tông hợp các nghiệp vụ vào trong một
bộ phận
• Khối phụ trợ( back office) là khối không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ
kinh doanh nhưng nó có thể không thể thiếu được trong vận hàng của công ty chứng khoán
vì hoạt động của nó mang tính chất trợ giúp cho khối nghiệp vụ. khối này bao gồm các bộ
phận như sau
Phòng nghiên cứu và phát triển
Phòng phân tích và thông tin thị trường
Phòng kế hoạch công ty
Phòng phát triển sản phẩm
Phòng công nghệ tin học(IT)
Phòng pháp chế
Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
Phòng ngân quỹ, ký quỹ
Phòng tổng hợp và hành chính nhân sự
Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối như vây, do mức độ phát triển của công ty chứng
khoán và thị trường chứng khoán mà có thể có thêm các bộ phận khác như: mạng lưới chi
nhánh, văn phòng trong va ngoài nước, văn phòng đại lý….

3 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
3.1 nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng. theo đó công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến
hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc TTGDCK hoặc thị trường
OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến khách hàng các sản
phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với nhà đầu tư
mua chứng khoán và trong những trường hợp nhất định thì hoạt động môi giới sẽ trở thành

của các công ty chứng khoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng số
doanh thu của công ty chứng khoán. Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc công ty
chứng khoán có chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi
chào bán chứng khoán trong giai đoạn đầu sạu khi phát hành. Tổ chức bảo lãnh phát hành
chứng khoán không chỉ có các công ty chứng khoán mà có cả các định chế tài chính là các
ngân hàng đầu tư nhưng thông thường thì các công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát
hành thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường
đứng ra nhận bảo lãnh phát hành hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành sau đó chuyển
chứng khoán cho các công ty chứng khoán phân phối. Hiện nay có một số hình thức bảo
lãnh phát hành sau:
Bảo lãnh cam kết chắc chắn
Bảo lãnh cố gắng tổi đa
Bảo lãnh tất cả hoặc không
3.4 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông
qua danh mục đầu tư nhằm sinh lời cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn
vốn cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu tư là một dạng ghiệp vụ tư vấn đầu tư mang
tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng ủy thác tiền cho công ty chứng khoán
thay mặt mình quyết định đầu tư theo chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách
hàng chấp thuận hoặc yêu cầu.
3.5 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng
khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và
có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành đầu tư và cơ cấu
tài chính cho khách hàng.
3.6 Các nghiệp vụ phụ trợ
Lưu ký chứng khoán
Quản lý thu nhập của khách hàng
Nghiệp vụ tín dụng
Nghiệp vụ quản lý quỹ

điều tiết thị trường. Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của
chính mình, các công ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ các giao dịch nhất định để tạo
lập thị trường.
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài
sản tài chính. Nhưng các công ty chứng khoán mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì các
công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. trên thị trường sơ cấp, do thực
hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hóa,các công ty chứng khoán
không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành
mà còn làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua
đợt phát hành sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao
dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành
tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động này có thể làm tăng tính thanh khoản cho các tài
sản tài chính.
4.4 Đối với cơ quan quản lý thị trường
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho cơ
quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các công ty chứng khoán thực hiện được
vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là
trung gian bán chứng khoán và thực hiên các giao dịch trên thị trường. Một trong những
yêu cầu của thị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự
giám sát của cơ quản quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của pháp
luật vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán
cần phải minh bạch và công khai hoạt động. Các thông tin công ty chứng khoán cung cấp
bao gồm thông tin về giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các loại cổ phiếu và
công ty phát hành…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát
và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng
khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với
các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung. Những vai trò
này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán.

thiện các quy trình nghiệp vụ nhằm mở rộng thị phần.
5.2.2. Nhân tố về môi trường pháp lý và chính sách của Nhà nước
Thị trường chứng khoán là 1 hình thức thị trường đặc biệt nơi diễn ra các giao dịch hàng
hóa là các tài sản tài chính. TTCK có cấu trúc và cơ chế giao dịch phức tạp thể hiện sự
khăng khít và liên hoàn của toàn thị trường. Chính vì điều này mà thị trường chứng khoán
cần có một trình độ tổ chức cao và chịu sự quản lý giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp lý
hoàn chỉnh và đồng bộ. Khi có một môi trường pháp lý hoàn thiện và đồng bộ, thống nhất
sẽ thúc đẩy các chủ thể tham gia thị trường yên tâm hơn, điều này là một nhân tố ảnh
hưởng trực tiếp tới môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các công ty chứng
khoán.
Khi tham gia thị trường chứng khoán các CTCK, tổ chức phát hành và các định chế tài
chính khác cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật về chứng khoán quy định
như vấn đề về vốn, về hoạt động kinh doanh có lãi đối với tổ chức phát hành,…Nhờ có các
quy định chặt chẽ và thống nhất đồng bộ của pháp luật tạo điều kiện cho các công ty chứng
khoán hoạt động có hiệu quả hơn, đồng thời ngăn cản các CTCK không đủ tiêu chuẩn
được tham gia thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư và các công ty
chứng khoán đủ tiêu chuẩn.
Ngoài ra các chính sách của Nhà nước cũng quy định chặt chẽ về chế độ công bố thông tin
của các chủ thể phát hành cũng như là các công ty chứng khoán như việc cuối năm tài
chính các tổ chức phát hành tiến hành báo cáo tài chính và tổ chức họp Đại hội đồng cổ
đông thông báo kế hoạch của công ty và tỉ lệ chia cổ tức…điều này đang tạo ra một cơ chế
giám sát, kiểm soát các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán và tạo ra cho các hoạt
động được lành mạnh đảm bảo nguyên tắc của thị trường chứng khoán là công khai, công
bằng và minh bạch.
Các chính sách vĩ mô khác cũng tác động mạnh mẽ đên hoạt động của thị trường chứng
khoán và gián tiếp tác động tới các công ty chứng khoán. Vì các tổ chức tham gia niêm yết
trên thị trường chứng khoán hoạt động trên nhiều ngành và lĩnh vực nên chính sách nới
lỏng hay thắt chặt điều làm cho các nhà đầu tư không yên tâm.
5.2.3. Nhân tố đối thủ cạnh tranh
Một quy luật tất yếu trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường thì cạnh

khách hàng.
5.2.5. Nhân tố nguồn lực
Hiện nay, trong xu thế hội nhập đòi hỏi sự phát huy nội lực đến mức cao nhất của từng
thành viên của thị trường Chứng khoán trong đó có các công ty chứng khoán cùng với sự
hoàn thiện trong cơ chế chính sách, hệ thống văn bản pháp luật của các cơ quan quản lý.
Phát triển nội lực nội lực tại công ty chứng khoán là việc xây dựng một hệ thống quản lý
chuyên nghiệp cùng với hoạt động hiệu quả của ban giám đốc điều hành. Trên thực tế hiện
có rất nhiều công ty vẫn chưa trọng đến việc thay đổi hệ thống quản lý trong sự phát triển
của công ty mình nên vẫn chưa huy động hết các nguồn lực nhằm phát triển mở rộng quy
mô. Mỗi một công ty chứng khoán có những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng vì
vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh thì các CTCK bên cạnh tiếp cận với các nhân tố
khách quan thì công ty cũng cần chú trọng phát huy các yếu tố về nội lực như về nguồn
lực, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, và chiến lược kinh doanh. Nguồn lực của công ty
chứng khoán bao gồm vốn, nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật.
Vốn là một nguồn lực cần phải có trước tiên vì chỉ khi có vốn thì với đáp ứng điều kiện để
thành lập và đưa công ty vào hoạt động. Một công ty có năng lực cạnh tranh là công ty có
vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn
vốn huy động hợp lý, và khi có vốn thì công ty cần có kế hoạch sử dụng đồng vốn đó đi
đầu tư vào con người vào cở sơ vật chất một cách có hiệu quả.
Nhân lực là một nguồn cũng rất quan trọng vì nó sáng tạo ra các nguồn khác. Khi có được
một nguồn nhân lực có trình độ, thì việc thu hút tiếp cận khách hàng được coi là một trong
những biện pháp làm tăng hình ảnh của công ty trong mắt của khách hàng.
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính luôn
được đầu tư rất lớn, vì khi các khách hàng đến với các dịch vụ của doanh nghiệp việc tạo
sự tin tưởng là rất quan trọng, khi khách hàng nhìn vào cơ sở vật chất tốt chứng tỏ doanh
nghiệp có khả năng về tài chính và có nhiều tiện ích hơn thỏa mãn yêu cầu của khách hàng.
Vì vậy mà nguồn lực và con người được nằm trong các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh
tranh của công ty chứng khoán.
5.2.6.Nhân tố chiến lược kinh doanh của công ty chứng khoán
Mỗi công ty chứng khoán có các đặc điểm riêng và vì vậy có những chiến lược kinh doanh

dựa vào thế mạnh của mình hay nói cách khác thế mạnh này được dựa trên các yếu tố như
vốn, công nghệ, tư duy chiến lược, hệ thống quản trị, chất lượng dịch vụ, mạng lưới đối tác
chiến lược. Và trong ngành dịch vụ kinh doanh chứng khoán thì việc quan trọng đó là mức
độ ứng dụng công nghệ thông tin và trình độ chuyên môn của đội ngũ hành nghề bởi vì
đây là ngành luôn đòi hỏi sự nhanh chóng, đầy đủ và chuẩn xác về thông tin, tính kịp thời
trong phản ứng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng nhất. Hoạt
động đầu tư phát triển của CTCK bao gồm các nội dung như đầu tư vào nguồn nhân lực,
cơ sở vậy chất, đầu tư vào hoạt động marketing, nghiên cứu thị trường. Trong số đó thì
chiến lược đầu tư vào công nghệ hiện đại được coi là chìa khóa cho sự phát triển của các
CTCK về mặt chất lượng dịch vụ, để tạo ra sự vượt trội trong chất lượng dịch vụ cung ứng
cho khách hàng, các công nghệ viễn thông và xử lý thông tin lại được đem ra ứng dụng để
nâng cấp các dịch vụ hiện tại, cũng như để thực hiện cung ứng các dịch vụ mới. Về không
gian và thời gian, công nghệ hiện đại giúp cho CTCK đáp ứng được sự đòi hỏi của khách
hàng về sự nhanh chóng, kịp thời hay hạn chế bởi khoảng cách địa lý.
5.4 Nội dung đầu tư phát triển tại các công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một công ty cũng cần đầu tư phát triển như các công ty khác với
những nội dung đầu tư như:
• Đầu tư vào tài sản cố định
• Đầu tư vào nguồn ngân lực
• Đầu tư vào Marketing và PR…
• Đầu tư khác
5.5 Đặc điểm đầu tư phát triển trong các công ty chứng khoán
Tuy nhiên, chứng khoán là một ngành công nghiệp dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính. Để
hoạt động thì công ty không cần đầu tư nhiều vào tài sản cố định hữu hình như nhà cửa,
phương tiện vận tải, nhà xưởng…Thế nhưng công ty chứng khoán lại cần đầu tư mạnh vào
tài sản cố định vô hình như các phần mềm ứng dụng hiện đại, các giải pháp giao dịch tốt
thường do các nhà cung cấp độc quyền nước ngoài. Không những thế các phần mềm và
giải pháp giao dịch này cần thường xuyên nâng cấp và thay thế để hòa nhịp với sự phát
triển công nghệ trong ngành chứng khoán trong xu hướng hòa nhập với thế giới hiện nay.
Điều này làm cho chi phí đầu tư vào tài sản cố định vô hình khá lớn trong tổng đầu tư

- Tên giao dịch : SSI
- Địa chỉ : 72 Nguyễn Huệ, P. Bến Nghé, Quận 1, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
- Điện thoại :( 84.8) 8 3242897 Fax : (84.8) 8 242997
- Ngành nghề kinh doanh:
Môi giới chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán
Tự doanh chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Sản phẩm và dịch vụ chính: Môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính doanh nghiệp( tư vấn
CPH, tư vấn niêm yết, tư vấn phát hành…) tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng
khoán, tự doanh chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hội sở: số 056679 do sở Kế Hoạch Đầu Tp Hồ Chí
Minh cấp ngày30/12/1999
- Giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán : số 03/GPHĐKD do uỷ ban chứng khoán
nhà nước cấp ngày 05/04/2000. Giấy phép điều chỉnh số 81/UBCK-GPDCCTCK do uỷ
ban chứng khoán nhà nước cấp ngày 05/10/2007
- Quyết định số 276/QĐ-UBCK ngày 25/04/2007 về việc chấp thuận hay đổi địa chỉ trụ sở
chính Công Ty Chứng Khoán Sài Gòn
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chi nhánh CTCK SG tại Hà Nội tại 1C Ngô Quyền
Hà Nội số 0113000160 do sở Kế Hoạch Đầu Tư Tp, Hà Nội cấp
- Quyết định số 08/QĐ- UBCK ngày11/10/2007 của chủ tịch UBCKNN về việc chấp thuận
cho mở chi nhánh Trần Bình Trọng tại 25 Trần Bình Trọng, Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Quyết định số 282/QĐ- UBCK ngày27/04/2007 của chủ tịch UBCKNN về việc chấp
thuận cho mở chi nhánh Nguyễn Công Trứ tại địa chỉ 180-182 Nguyễn Công Trứ, Q1, Tp
HCM
- Quyết định số 277/QĐ- UBCK ngày25/04/2007 của chủ tịch UBCKNN về việc chấp
thuận cho mở chi nhánh Hải Phòng tại 22 Lý Tự Trọng, Quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng
- Mã số thuế : 030 1955 155
- SSI là doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, được thành lập theo giấy
phép đăng ký kinh doanh số 056679 do sở Kế Hoạch Đầu Tư Tp HCM cấp ngày

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty
1.2.2. Cơ cấu tổ chức của công ty
Đại hội cổ đông
Đại hội cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất, quyết định những vấn đề thuộc nhiềm
vụ và quyền hạn được pháp luật và SSI quy định.
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị gồm:
Nguyễn Duy Hưng – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc. Ông Hưng là người
sáng lập SSI.
Ngô Văn Điểm – Uỷ viên Hội đồng quản trị. Ông Điểm có bề dày kinh nghiệm 31 năm
làm việc trong lĩnh vực đầu tư trong nước và nước ngoài, cải cách doanh nghiệp nhà nước,
phát triển khu công nghiệp và hội nhập kinh tế ở các chức vụ trung, cao cấp trong các cơ
quan của Chính phủ. Ông đã từng đảm nhiệm các vị trí như Chánh Văn phòng Uỷ Ban Nhà
nước về Hợp tác đầu tư, Vụ trưởng Hội đồng thẩm định nhà nước, Vụ trưởng Ban quản lý
các khu công nghiệp Việt Nam và Phó trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng đặt tại
Văn phòng Chính phủ. Ông Điểm tốt nghiệp Đại học tổng hợp Leipzig và là tiến sĩ kinh tế
Đại học Martin Luther University Halle tại Đức.
Akihiko Kanamura – Uỷ viên Hội đồng quản trị. Ông Akihiko Kanamura hiện đang là
giám đốc của công ty chứng khoán Daiwa SMBC, trưởng khu vực Nam Á và Châu Đại
Dương, Giám đốc Công ty chứng khoán Daiwa SMBC Singapore, Chứng khoán Daiwa
SMBC Future- một ngân hàng đầu tư hàng đầu của Nhật Bản. Là thành viên kỳ cựu của
ngành ngân hàng Nhật Bản, ông Kanamura đã gắn bó với công ty chứng khoán Daiwa từ
năm 1983 và đã lần lượt đảm đương nhiều vị trí khác nhau trong công ty. Năm 2006, dưới
sự lãnh đạo của ông, công ty chứng khoán Daiwa SMBC được đứng đầu bảng các công ty
kinh doanh trái phiếu nội địa và bảng xếp hạng đấu thầu trái phiếu chính phủ Nhật Bản.
Ông Akihiko Kanamura có bằng cử nhân thương mại của đại học Doshisha, Nhật Bản.
Nguyễn Hồng Nam – Uỷ viên Hội đồng quản trị kiêm Phó Tổng Giám đốc. Ông Nam là
nhà quản lý doanh nghiệp thành công trong nhiều lĩnh vực kinh doanh. Ông Nam có bằng
Thạc sĩ Khoa học tại Trường Đại học Bách khoa Lugansk – Ukraina.
Gilles Planté - Ủy viên Hội đồng quản trị. Ông Plante hiện nay đang làm Giám đốc điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status