https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
Một số biện pháp sử
dụng đồ dùng dạy học
trong dạy toán lớp 1
và biện pháp rèn kỹ
năng học tốt môn
Tiếng Việt lớp 1 -
Công nghệ giáo dục
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
1.Một số biện pháp sử
dụng đồ dùng dạy học
trong dạy toán lớp 1
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC CÁC PHÉP
TRỪ TRONG PHẠM VI 10.
Việc dạy học cho học sinh các phép trừ
trong phạm vi 10 là một trong những nội dung cơ
bản, quan trọng trong chương trình Toán 1. Đó
cũng chính là cơ sở ban đầu giúp các em học tính
toán ở các lớp học sau.
1. Chuẩn bị đồ dùng đầy đủ cho 1 tiết học
- Trước mỗi giờ dạy, giáo viên phải chuẩn bị cho tiết học đó. Đồ
dùng chuẩn bị cho tiết học phải được ghi trong giáo án, ghi rõ đồ
dùng cho giáo viên và học sinh.
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
- Cụ thể bài: "Phép trừ trong phạm vi 6".
+ Chuẩn bị đồ dùng cho giáo viên và học sinh: 6 thẻ hình tam
giác, 6 thẻ hình tròn, 6 thẻ hình vuông.
+ Ngoài ra giáo viên còn chuẩn bị thêm bảng cài và tranh bài tập
4 phần a.
2. Nghiên cứu , tìm hiểu và sử dụng thành thạo đồ dùng đó
Với mỗi loại đồ dùng dạy học đã chọn , trước khi lên lớp người
hành).
5. Chuyển dần, chuyển kịp thời các phương tiện trực quan từ
dạng cụ thể sang dạng trừu tượng hơn
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
Ngay ở giai đoạn phải sử dụng các đồ vật cụ thể (vật thực, vật
tượng trưng) cũng phải chuyển dần từ vật "cụ thể" sang vật "ít
cụ thể" hơn.
Ví dụ 1 : Khi dạy về "Phép trừ trong phạm vi 4" lúc đầu giáo
viên có thể cho học sinh trực quan.
Bước 1: Lấy 4 hình quả cam rồi cất đi 1 hình quả cam quả cam
để được 3 hình quả cam.
Bước 2: Lấy 4 que tính rồi cất đi 3 que tính để có 1 que tính.
Bước 3: Lấy 4 chấm tròn, rồi cất đi 2 chấm tròn để được 2 chấm
tròn.
Từ 4 qủa cam đến 4 que tính rồi đến 4 chấm tròn đã có sự
chuyển dần tư vật cụ thể sang vật có tính trừu trượng hơn và
điều quan trọng là học sinh nhận được "cái chung" của nhóm vật
đó ban đầu là "bốn" (số lượng đều là 4).
Ví dụ 2: Ở các phép trừ trong phạm vi 3, 4, 5 hình thành dựa
vào các đồ vật, vật tượng trung gần gữi với học sinh (con gà,
ôtô, quả táo, cái kéo, ) Nhưng sang đến các phép trừ trong
phạm vi 6, 7, 8, 9, 10 hình thành dựa vào các hình tam giác, hình
tròn, hình vuông.
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
6. Thay đổi phương pháp sử dụng đồ dùng một cách linh hoạt
tránh nhàm chán.
Trong bài dạy "Phép trừ trong phạm vi 6" ở các phép tính đầu 6
-1 = 5 ;
6 - 5 =1 ; 6 - 2 = 4 hình thành từ đồ dùng, học sinh nêu bài toán
và lập phép tính. Nhưng đến phép tính 6 - 3 = 3 thì giáo viên có
nhanh).
9. Ứng dụng công nghệ thông tin:
Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực giáo
dục đã hỗ trợ tích cực trong dạy học môn Toán. Cụ thể trong
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
thiết kế các tiết dạy giáo án điện tử, giáo viên đã sữ dụng các
hình ảnh sinh động, gần gũi với các em đã đem đến sự hứng
thú, tích cực khám phá, lĩnh hội kiến thức mới cho học sinh.
Như khi dạy bài “ Phép trừ trong phạm vi 6” giáo viên đưa hình
ảnh có 6 con chim đậu trên cành cây sau đó bay đi hai con chim,
hỏi còn lại trên cành mấy con chim?
Lúc này các em không còn phải tư duy trừu tượng mà đã tri giác
hình ảnh hai con chim vỗ cánh bay đi, như vậy sẽ dễ dàng thấy
ngay kết quả của bài toán.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán đã đem lại
hiệu quả đáng kể trong các tiết dạy. Tuy nhiên chúng ta cần lưu
ý xác định đó chỉ là phương tiện hỗ trợ dạy học, tuỳ theo từng
bài dạy để sử dụng sao cho linh hoạt hợp lý, tránh lạm dụng quá
mức cần thiết nếu không sẽ mang lại hiệu quả giáo dục không
như mong muốn.
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
2.Biện pháp rèn kỹ
năng học tốt môn
Tiếng Việt lớp 1 -
Công nghệ giáo dục
Để thực hiện tốt môn Tiếng Việt lớp 1- Công
nghệ giáo dục, cô Hoàng Thị Minh Lan cho rằng,
người giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ mục đích,
yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học của
chương trình Tiếng Việt công nghệ giáo dục lớp 1
Với những lỗi phát âm cơ bản, trước hết, giáo viên phải phát âm
chuẩn, sau đó, vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp và
hình thức sửa lỗi phát âm.
Giáo viên có thể sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu: Giáo
viên phát âm chuẩn, rõ ràng, thật chậm từ 2 - 3 lần, sau đó cho
học sinh phát âm sai phát âm lại. Phương pháp quan sát và phân
tích cách phát âm:
Giáo viên quan sát phát hiện học sinh phát âm sai; nói rõ nguyên
nhân phát âm sai bằng cách chỉ ra cách sử dụng các bộ phận
phát âm không đúng của các em. Sau đó, giáo viên mô tả cách
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
phát âm, như: Nêu rõ vị trí đặt lưỡi, vị trí của lưỡi với răng, độ
mở của môi
Phương pháp luyện tập tổng hợp: Phân tích các thành phần và
âm vị mắc lỗi để học sinh nhận diện (đối với các âm ghép như:
th, nh, ch, kh, ph, gh, ng,tr)
Đưa vào trong ngữ cảnh để khu biệt nét nghĩa cho học sinh có ý
thức phân biệt âm đúng âm sai (đối với các âm dễ lẫn lộn như l-
n, s-x, tr-ch, r-g, gi-d-v)
Phương pháp tổ chức trò chơi học tập: Giáo viên thay đổi các trò
chơi hấp dẫn để thu hút sự chú ý học sinh giúp các em tiếp thu
bài tốt hơn.
Để dạy tốt môn Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục phần âm có
hiệu quả cao, theo cô Hoàng Thị Minh Lan, giáo viên cần làm
tốt các quy trình 4 việc và vận dụng phù hợp các hình thức tổ
chức dạy học trong từng tiết học một cách hiệu quả nhất.
Đồng thời, sử dụng một số phương pháp dạy học như: Phương
pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp hỏi
đáp, phương pháp trực quan… kết hợp với nhiều hình thức dạy
học như: Học theo lớp, nhóm; cá nhân,
tưởng từ vật thật đến vần của bài học.
Như vậy dùng tranh, ảnh, vật thật trong các giờ Tiếng Việt –
Học vần giúp học sinh nhớ vần và từ tốt hơn.
- Ngoài ra dùng tranh, ảnh có vai trò rất lớn trong phần luyện
nói ở các tiết tập đọc môn Tiếng Việt lớp 1 – học kì II.
Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ học giáo viên biết vận dụng
khéo léo tranh, ảnh thì vừa phát huy được tính sáng tạo chủ động
cho học sinh khá giỏi lại vừa tạo sự hứng thú cố gắng vươn lên
cho học sinh học chậm.
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động, các hình thức dạy học
phát huy tính tích cực của học sinh. Ví dụ: Khi dạy vần ai, ay
giáo viên có thể tổ chức trò chơi “Em là họa sỹ”:
- Em hãy tô màu xanh vào những đám mây có chứa vần ai.
- Em hãy tô màu hồng vào những đám mây có chứa vần ay.
Chắc chắn với vai trò của “một họa sỹ tí hon” các em sẽ vô cùng
say sưa với các tác phẩm nghệ thuật của mình mà không hề cảm
thấy mệt mỏi và căng thẳng. Tuy nhiên giáo viên cần phải thay
đổi thường xuyên những hình ảnh minh họa để giúp học sinh
khỏi bị nhàm chán.
d) Không giải nghĩa từ bằng duy danh định nghĩa, từ điển mà
nên giải nghĩa từ bằng các hình ảnh trực quan, các vật thật hoặc
đưa các từ vào trong văn cảnh cụ thể để học sinh hiểu được
nghĩa của từ.
đ) Sử dụng ngữ liệu chứa nội dung hấp dẫn, sưu tầm các câu
đồng giao, thơ để giúp học sinh dễ thuộc, viết đúng các chữ cái.
Ví dụ:
- i, t hai chữ giống nhau
https://vn.ann-kate.com/registration/index.php?inviter=VNMT1306030025
i ngắn có dấu, t dài có ngang.