Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lời Mở đầu
Nghị quyết đại hội Đảng lần VI đã tạo ra bớc ngoặt đối với nền kinh tế
của đất nớc. Từ đây, nền kinh tế của nớc ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng Xã hội
chủ nghĩa. Theo tinh thần Nghị quyết, các doanh nghiệp đợc toàn quyền quyết
định các vấn đề cơ bản của sản xuất là sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, sản xuất
nh thế nào; nhà nớc cũng không ấn định giá nh trớc kia nữa mà do quan hệ
cung- cầu trên thị trờng quyết định. Nhà nớc chỉ nắm giữ độc quyền một số
ngành nghề then chốt nh: ngành điện lực, ngành bu chính viễn thông, ngành dầu
khí, ngành tài chính- ngân hàng và một số ngành khác. Nhng cho đến nay thì
ngành tài chính- ngân hàng không phải là ngành độc quyền nữa mà đã là ngành
đa sở hữu: sở hữu nhà nớc, sở hữu t nhân, sở hữu nớc ngoài. Nó đợc xác định là
một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Vì thế, cũng
giống nh bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh trên thị trờng, mỗi
ngân hàng đều phải giải quyết bài toán hiệu quả kinh doanh. Trong đó lợi nhuận
đợc đa lên hàng đầu, là chỉ tiêu định lợng quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả
kinh doanh. Trên thực tế mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay
gắt. Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn cạnh tranh phải cạnh
tranh với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác nh ngành bu điện, ngành bảo
hiểm, công ty tài chính ... Lợi nhuận giống nh một miếng bánh lớn và mỗi chủ
thể tài chính chiếm đợc một phần miếng bánh nhỏ. Độ lớn của miếng bánh nhỏ
này tuỳ thuộc vào khả năng kinh doanh của chính đơn vị kinh tế đó. Tâm lý
chung của ngời kinh doanh là muốn cho phần lợi nhuận của mình năm sau lớn
hơn năm trớc hay tối thiểu cũng phải giữ đợc bằng năm trớc. Để mong muốn trở
thành thực tế thì không phải ai cũng làm đợc. Xuất phát từ yêu cầu thực tế cũng
nh những băn khoăn trăn trở trên, sau khi kết thúc chơng trình học tập tại Học
Viện Ngân Hàng và 3 tháng đợc đi vào thực tế, em xin đợc lựa chọn đề tài:
Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả
kinh doanh tại Ngân hàng cổ phần nhà Hà Nội- chi nhánh Thanh Quan
Đề tài đợc kết cấu với ba chơng
quan điểm khác nhau về khái niệm NHTM nhng nhìn chung họ đều thống nhất
với nhau: NHTM là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông
qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. Theo quan điểm của
các nhà ngân hàng nớc ta về NHTM đợc ghi trong luật các tổ chức tín dụng ban
hành tháng 5 năm 1990 nh sau: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nhiệm vụ chiết khấu
và làm phơng tiện thanh toán .
Theo các nhà nghiên cứu thì mầm mống sơ khai của ngân hàng có từ thời
trung cổ mà tiền thân của nó là những hiệu kim hoàn. Thời đó những ngời giầu
thờng mang tiền bạc tới những tiệm kim hoàn và gửi ở đó để đảm bảo an toàn
cho tài sản của họ. Họ sẽ đợc nhận một chứng th xác nhận quyền sở hữu về
những tài sản đi gửi nhng đổi lại họ phải trả một mức phí cho hiệu kim hoàn đó.
Lúc đầu, những ông chủ đúc vàng dự trữ 100% để chi trả cho khách hàng. Sau
một thời gian dài họ nhận thấy rằng luôn luôn có một lợng tiền vàng tồn ở trong
kho họ giữ vì bên cạnh những ngời rút tiền thì cũng có những ngời khác đem
tiền vào gửi. Mặt khác, không phải ai cũng có tiền nhàn rỗi để gửi vào mà có
rất nhiều ngời đang cần vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Từ đó, các chủ
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hiệu kim hoàn nghĩ ra một kiểu kinh doanh mới là chỉ giữ lại một số lợng nhất
định để đáp ứng yêu cầu rút tiền của khách hàng, phần còn lại họ sẽ cho ngời
cần vốn vay. Dần dần thì hoạt động cho vay ngày càng phát triển, vì vậy thay vì
thu phí giữ tiền, họ lại trả cho những ngời gửi một số tiền nhất định nào đó.
Hoạt động này ngày càng phát triển và đợc coi là nghiệp vụ truyền thống của
ngân hàng, và các tiệm kim hoàn dần dần phát triển và hình thành nên ngân
hàng.
ở thời kỳ đầu, khoảng thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 các ngân hàng còn hoạt
động độc lập với nhau và thực hiện các chức năng nh nhau, đó chính là trung
gian thanh toán và phát hành giấy bạc ngân hàng.
của nó thì vẫn theo mô hình cũ, lạc hậu, đó là mô hình ngân hàng một cấp. Chỉ
đến khi nền kinh tế nớc ta đợc xác định là nền kinh tế thị trờng theo định hớng
chủ nghĩa xã hội thì mô hình tổ chức của ngân hàng mới đợc thay đổi. Sự thay
đổi đó đợc đánh dấu ở Nghị định 53 ra ngày 26/3/1988, theo đó hệ thống Ngân
hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng hai cấp: Cấp NHTW đảm nhiệm chức
năng độc quyền phát hành tiền; quản lý nhà nớc về tiền tệ và tín dụng; và là cơ
quan quản lý dự trữ ngoại hối của nhà nớc. Cấp thứ hai là các NHTM trực thuộc
NHTW có chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân
hàng trực tiếp đối với nền kinh tế. Pháp lệnh NHNN 5/1990 đã đánh dấu một b-
ớc ngoặt quan trọng trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Từ đây hệ
thống NHTM Việt Nam bớc sang một trang sử mới.
1.1.2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trờng
1.1.2.1 NHTM là nơi thu hút tiền nhàn rỗi và cung ứng vốn cho nền
kinh tế
Trong nền kinh tế, không chỉ có riêng ngân hàng làm nhiệm vụ thu hút l-
ợng tiền nhàn rỗi và cung cấp vốn cho các chủ thể thiếu vốn, nhng NHTM vẫn
là tổ chức thực hiện công việc này hiệu quả nhất. Và đây đợc coi là chức năng
cơ bản nhất của ngân hàng, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức
năng khác. Khi thực hiện các chức năng làm trung gian tín dụng NHTM giống
nh chiếc cầu để nối giữa những ngời có vốn mà cha có ý tởng kinh doanh và
những ngời có ý tởng kinh doanh nhng cha có vốn. Hay nói cụ thể hơn là ngân
hàng đi vay để cho vay. Ngân hàng thực đợc việc này dựa trên cơ sở ngân
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ và tín dụng, có khả năng nhận
biết khả năng cung và cầu vốn trên thị trờng, và đặc biệt là có uy tín khá cao.
Dựa vào uy tín của ngân hàng mà những ngời có tiền đem vào đó để gửi, họ vừa
đạt đợc mục đích là đảm bảo an toàn cho tài sản của mình mà lại vừa có thu
nhập. Trên cơ sở đó ngân hàng đã tập hợp đợc khối tiền nhàn rỗi và cho những
ngời cần vốn vay. Nh vậy NHTM đã giúp góp phần tạo đợc lợi ích cho tất cả
pháp lý, môi trờng kinh doanh, cơ sở vật chất hạ tầng ... của nớc sở tại họ hoạt
động, từ đây họ có thể cung cấp thông tin đó cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu nớc nhà. Đa phần các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nớc bị thiếu
thông tin hoặc có thông tin nhng không đầy đủ và hoàn hảo nên dẫn đến có
quyết sách sai lầm. Vì vậy, đối với họ những thông tin mà ngân hàng cung cấp
sẽ giúp ích cho họ trong quá trình kinh doanh. Không chỉ các doanh nghiệp có
lợi mà qua đó các chi nhánh NHTM hoạt động ở nớc ngoài vừa thu đợc phí t
vấn và vừa nâng cao đợc uy tín. Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò này sẽ đợc
đề cao hơn nữa.
1.1.2.3 Vai trò trung gian thanh toán .
Vai trò này thực hiện đợc thì phải dựa trên cơ sở là Ngân hàng làm thủ
quỹ cho xã hội. Theo đó thì các NHTM mở tài khoản tiền gửi, thực hiện quản lý
tài khoản và tiến hành thu, chi theo lệnh của khách hàng. Nếu càng có nhiều
đơn vị, cá nhân mở tài khoản ở ngân hàng thì việc thu chi sẽ càng đợc thực hiện
nhiều ngay trên tài khoản và lợng tiền mặt trong lu thông sẽ giảm. Việc giảm l-
ợng tiền mặt trong lu thông đem lại lợi ích cho nhà nớc mà ngời dân cũng đợc
hởng ích lợi đó. Mặt khác khi việc thanh toán qua ngân hàng tăng lên sẽ làm
cho tốc độ luân chuyển vốn và hàng hoá tăng lên; vốn nhàn rỗi sẽ đợc tập trung
nhiều hơn ở ngân hàng để đầu t cho nền kinh tế; tăng cờng đợc sự quản lý của
nhà nớc đối với các chủ thể kinh tế ... Phơng thức TTKDTM ra đời không chỉ
khắc phục đợc nhợc điểm của phơng thức thanh toán bằng tiền mặt mà còn có ý
nghĩa to lớn khác. Chính vì thế mà phơng thức thanh toán qua ngân hàng là xu
hớng phổ biến hiện nay. Nó cũng đợc coi là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển
kinh tế, xã hội, văn minh của đất nớc. Ngời ta thấy rằng càng ở những nớc có
nền kinh tế phát triển thì tỷ trọng TTKDTM càng lớn
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yéu của NHTM.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.3.1 Các nghiệp vụ thuộc tài sản nợ và vốn.
Nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ phản ánh nguồn vốn của ngân hàng. Từ sau
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đa ra mức lãi suất cao thì ngân hàng càng có thể thu hút đợc nhiều vốn hơn. ở
Việt Nam có 3 loại tiền gửi tiết kiệm sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn : về bản chất thì giống tiền gửi không
kỳ hạn tuy nhiên khách hàng không đợc hởng các dịch vụ thanh toán (trên tài
khoản loại này ) nên số d của nó ít biến động và khách hàng đợc hởng mức lãi
suất nhất định .
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ đợc rút
tiền sau một thời hạn nhất định. Cũng giống nh tiền gửi tiết kiệm, yếu tố lãi suất
sẽ quyết định đến lợng vốn huy động, lãi suất cao sẽ kích thích ngời dân tiết
kiệm tiêu dùng để gửi vào ngân hàng.
+ Tiền gửi tiết kiệm có mục đích : thờng là loại tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích lớn nh: xây nhà ở, mua ô tô xịn ... Ngân hàng còn đa ra một số -
u đãi cho loại hình tiền gửi này là ngoài việc đợc hởng lãi, khách hàng còn đợc
hỗ trợ thêm tiền nếu có nhu cầu.
Xét trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì bộ phận tiền gửi chiếm một
tỷ trọng lớn. Bộ phận này có ý nghĩa rất quan trọng vì ngoài u thế là chi phí rẻ
và nguồn vốn tơng đối ổn định thì tỉ trọng của nó còn thể hiện uy tín của ngân
hàng. Tất cả các ngân hàng đều quan tâm đến phát triển nghiệp vụ này.
*
Nghiệp vụ đi vay
Phát hành GTCG
Để thu hút đợc tối đa nguồn vốn từ hình thức này các ngân hàng thờng đa
ra nhiều loại hình đó là: phát hành theo mệnh giá; phát hành theo hình thức
chiết khấu. Trong từng loại ngân hàng còn chia nhỏ ra theo kỳ hạn trả lãi khác
nhau để phù hợp với mọi đối tợng khách hàng
Cùng với nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ này cũng thuộc nghiệp vụ huy
động vốn của ngân hàng. Khi áp dụng hình thức phát hành GTCG để huy động
vốn thì ngân hàng sẽ có ba điểm thuận lợi. Thứ nhất là ngân hàng không phải
ở các nớc phát triển thì nghiệp vụ này mới phát sinh, còn các NHTM ở những n-
ớc đang phát triển nh Việt Nam thì hầu nh không có và nếu có cũng không đáng
kể.
*
Vốn của ngân hàng
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cũng giống nh bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động trên thị tr-
ờng thì phải tự tạo cho mình một lợng vốn nào đó, mức vốn này đợc gọi là VTC.
Tuỳ từng ngành nghề và tuỳ từng quốc gia mà pháp luật quy định chủ doanh
nghiệp phải có hay không phải có một lợng vốn tối thiểu nào đó. Riêng với
ngành ngân hàng thì tất cả các quốc gia đều quy định phải có vốn pháp định.
Vốn pháp định là một phận của VTC vì VTC còn bao gồm cả quỹ dự trữ và vốn
coi nh tự có. Quỹ dự trữ của ngân gồm có quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ và quỹ
dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Quỹ dự trữ này đợc trích ra từ lợi nhuận sau
thuế của ngân hàng với hai mục đích: mục đích thứ nhất là đảm bảo an toàn
trong hoạt động kinh doanh vì đây chính là nguồn bù đắp khi ngân hàng thực sự
gặp rủi ro; mục đích thứ hai là làm tăng thêm nguồn VTC cho ngân hàng. Đây
là một trong số các chỉ tiêu để đánh giá uy tín của một ngân hàng. Còn vốn coi
nh tự có bao gồm lợi nhuận cha chia, các quỹ khác cha sử dụng nh quỹ khấu
hao TSCĐ, quỹ khen thởng phúc lợi, quỹ đầu t phát triển nghiệp vụ.
VTC của ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng nhng nó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trớc hết nó quyết định
đến sự ra đời của một ngân hàng, tiếp nữa nó quyết định đến quy mô hoạt động
của ngân hàng, là tiếng nói góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trong quá
trình thu hút tiền gửi, cung cấp tiền vay cũng nh các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng khác.
1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản Có
Nếu nghiệp vụ tài sản Nợ tạo nguồn vốn cho ngân hàng thì nghiệp vụ tài
sản Có là cách thức mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình. Để tạo đợc
hợp lý.
b Nghiệp vụ cho vay
Đây là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân ngân hàng trực tiếp cho các nhu
cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thỏa mãn những điều kiện vay vốn của ngân
hàng. Hoạt động cho vay chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong nghiệp vụ tài sản
có, nhng mức độ rủi ro của nó rất lớn. Ngày nay, các NHTM có xu hớng nâng
dần tỷ trọng hoạt động dịch vụ. Điều này, không có nghĩa các ngân hàng không
chú trọng tới hoạt động cho vay nữa mà thực chất là chỉ cho vay những dự án
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thực sự đem lại lợi nhuận. Ngân hàng thông qua các hình thức sau để cấp tín
dụng cho nền kinh tế.
Cho vay ứng trớc: là loại hình cho vay theo hợp đồng tín dụng, trong đó
ngời đi vay đợc phép sử dụng trong hạn mức và có thời hạn nhất định.
Cho vay bằng chiết khấu thơng phiếu: là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn
trong đó ngân hàng mua những thơng phiếu cha đến hạn thanh toán của khách
hàng với số tiền bằng thơng phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng
phí.
Cho vay thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn đợc thực hiện
qua việc cho thuê tài sản nh máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản
khác.
Cho vay vợt chi: là hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trớc theo đó ng-
ời vay đợc phép sử dụng quá số tiền trên tài khoản tiền gửi của mình ở một hạn
mức nhất định và trong một thời gian xác định.
Tín dụng bằng chữ ký: trong hình thức này ngân hàng không trực tiếp
cho khách hàng vay nhng dùng chữ ký (uy tín) của mình để tạo điều kiện cho
khách hàng di vay vốn ở nơi khác.
Cho vay tiêu dùng: là cho vay để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Loại cho vay này có rủi ro cao nên lãi suất cho vay cao.
c Nghiệp vụ đầu t
doanh và tự do cạnh tranh với nhau. Tuy nhiên, nó lại khác với các doanh
nghiệp ở chỗ đối tợng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ. Mà đây lại là hàng
hoá nhạy cảm nhất trong nền kinh tế. Vì vậy, ngoài các quy định chung nh đối
doanh nghiệp, các NHTM còn phải chịu sự quản lý chặt chẽ của NHTW.
NHTW sẽ quy định tỷ lệ DTBB, khung lãi suất chỉ đạo, hệ số an toàn trong kinh
doanh, và các thể chế khác cho NHTM để đảm bảo an toàn trong hệ thống ngân
hàng. Hệ thống ngân hàng là hệ thống có mối quan hệ phức tạp nhất trong nền
kinh tế vì hoạt động nghiệp vụ của nó không chỉ liên quan đến mọi ngành nghề.
Chính vì thế mà không có luật phá sản ngân hàng. Khi một ngân hàng nào đó
gặp khó khăn thì NHTW phải đứng ra can thiệp để tránh sự đổ vỡ. Đây là sự đặc
biệt lớn của ngành ngân hàng so với các ngành nghề kinh doanh khác.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NHTM cũng có thể tồn tại dới nhiều hình thức sở hữu nhà nớc, sở hữu t
nhân, sở hữu của các cổ đông ... nhng dới hình thức sở hữu nào thì khi thành lập
chủ sở hữu phải đạt đợc yêu cầu vốn pháp định. So với tổng nguồn vốn của ngân
hàng thì vốn pháp định chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, vốn huy động là chủ yếu. Vốn
pháp định là một bộ phận của vốn tự có, vốn tự có là tấm đệm chống đỡ rủi ro
cho ngân hàng, hơn nữa nó quyết định đến quy mô hoạt động của ngân hàng. Ví
nh luật NHNN Việt Nam quy định không đợc cho vay đối với khách hàng quá
15%VTC, không đợc dùng quá 50% vốn tự có để đầu t vào TSCĐ, huy động
vốn nhỏ hơn 20 lần VTC. Các ngân hàng quản lý vốn theo nguyên tắc điều hoà
trong toàn hệ thống, theo đó nơi thừa vốn sẽ chuyển sang nơi thiếu vốn và đợc
hởng lãi suất điều hoà, ngợc lại nơi nhận vốn sẽ phải chịu mức lãi suất điều hoà.
Mức lãi suất này do giám đốc ngân hàng quyết định và thay đổi theo từng giai
đoạn khác nhau.
Lợi nhuận của NHTM đợc xác định là lấy thu bù chi. Trong đó thu nhập
bao gồm các khoản sau: thu từ hoạt động tín dụng, thu từ nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối, thu từ góp vốn liên doanh liên kết, thu từ các dịch vụ ngân hàng và
các khoản thu khác. Chi phí của ngân hàng chủ yếu là chi để huy động vốn, chi
thuộc vào chính sách tiền tệ quốc gia và tuỳ theo chiến lợc của từng ngân hàng
và thời hạn của khoản vay. Thông thờng thì thời hạn của khoản vay càng dài thì
mức lãi suất cho vay càng cao vì trong thời gian dài mức biến động kinh tế cũng
lớn.
Thu lãi tiền gửi
Nghiệp vụ NHTM gửi tiền lẫn nhau và gửi tại NHTW mục đích không
phải để hởng lãi mà để đáp ứng yêu cầu quản lý của HNTW với các NHTM là
yêu cầu thanh toán giữa các ngân hàng. Nguồn thu này thờng là nhỏ và lãi suất
rất thấp , đối với DTBB ngân hàng gửi tại NHTW thì không đợc hởng lãi suất.
Thu từ hoạt động cho thuê tài chính, thu lãi chứng khoán, lãi bảo
lãnh
Cho thuê tài chính là hình thức ngân hàng tạo điều kiện về vốn cho những
doanh nghiệp thiếu vốn. Đổi lại ngân hàng sẽ thu đợc phí từ hoạt động này.
NHTM tham gia vào thị trờng chứng khoán vừa với t cách là ngời tạo thị trờng
vừa với t cách của ngời kinh doanh, đầu t chứng khoán. ở cả hai nghiệp vụ này
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NHTM đều có nguồn thu. Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì việc mua bán
không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia nữa mà nó trở thành mua bán toàn
cầu. NHTM có uy tín cao trong thị trờng, có chi nhánh chân rết ở hầu hết các
quốc gia thờng đứng ra bảo lãnh để quá trình mua bán giữa các chủ thể kinh tế
đợc diễn ra. Khi đứng ra bảo lãnh ngân hàng nhận đợc phí bảo lãnh. ở những n-
ớc có nền kinh tế phát triển, các nghiệp vụ bảo lãnh đầu t kinh doanh chứng
khoán, cho thuê tài chính rất phát triển vì thế mà nguồn thu của nó cũng lớn hơn
so với ở những nớc đang phát triển.
b Thu từ hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ của ngân hàng bao gồm: dịch vụ thanh toán, dịch vụ
thu hộ chi hộ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ ngân quỹ, uỷ thác, bảo lãnh, nghiệp
vụ t vấn, dịch vụ bảo quản tài sản. Tất cả các hoạt động này đều đem lại khoản
thu cho ngân hàng. Càng ngày tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động này càng đợc
nguồn thu thì rõ ràng đây là không tốt. Vì vậy, trong các nguồn thu của ngân
hàng thì ngời lãnh đạo phải đặc biệt chú ý đến nguồn thu này.
1.2.2.2 Các khoản chi phí của ngân hàng
Để có đợc các khoản thu thì ngân hàng phải đầu t, đầu t làm phát sinh chi
phí cho ngân hàng. So với các khoản thu thì các khoản mục các khoản chi còn
nhiều hơn nhiều vì ngân hàng có rất nhiều các khoản chi. Cụ thể nh sau:
a Chi phí cho hoạt động tín dụng
Khoản chi này bao gồm:
Chi trả lãi tiền gửi
Chi trả lãi tiền vay
Chi trả lãi phát hành GTCG
Các chi phí khác đến huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng
Có thể nói đây là khoản chi lớn nhất của ngân hàng vì trong nguồn vốn
của ngân hàng, vốn huy động chiếm từ 70-80%. Nguồn vốn huy động tỷ lệ
thuận chi phí huy động vốn, và không thể giảm bớt đợc vì đây là khoản chi th-
ờng xuyên và tất yếu của ngân hàng. Nếu muốn giảm chi phí huy động vốn
trong điều kiện mức chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng không đáng kể thì
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chỉ còn cách giảm vốn huy động, mà nếu điều đó xảy ra thì ngân hàng sẽ
không đủ nguồn vốn để kinh doanh. Thiếu vốn kinh doanh ngân hàng bỏ qua
những cơ hội kinh doanh tốt và không thể tối đa hoá lợi nhuận đợc. Vì thế mà
đây là khoản chi cần thiết và thờng xuyên. Quy mô chi phí này về cơ bản phụ
thuộc vào hai yếu tố: Thứ nhất là quy mô cơ cấu tính chất nguồn huy động. Thứ
hai là mức lãi suất, các yếu tố có liên quan đến uy tín của ngân hàng. Trong các
mục chi phí đã kể trên thì ngân hàng nên giảm mục tiền vay để từ đó giảm chi
phí tiền vay vì mức lãi suất này cao hơn nhiều so với chi lãi suất tiền gửi.
b Chi về hoạt động dịch vụ
Đó là các khoản chi phí cho hoạt động thanh toán lệ phí tham gia hệ
thống thanh toán, chi liên quan đến hoạt động đaị lý, chi hoa hồng, chi phí cho
không phải là quy mô mà là việc quản lý nó ra sao vì khoản chi này rất phức
tạp.
f Chi cho nhân viên
Khoản chi này gồm: Chi lơng, chi phụ cấp, trợ cấp cho cán bộ ngân
hàng. Đấy là khoản chi chủ yếu trong chi phí cho nhân viên, ngoài ra còn chi
phí cho công tác xã hội nh: BHXH,BHYT, trang phục, chi cho nhân viên là
khoản chi phí tất yếu và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của ngân
hàng. Nhân viên là ngời trực tiếp tạo bộ mặt cho ngân hàng nên khi có chính
sách chi cho nhân viên hợp lý sẽ tạo động lực thúc đẩy ngời lao động hết mình
với công việc hơn.
g Chi tài sản
Chi tài sản gồm: Chi khấu hao TSCĐ; sửa chữa lớn TSCĐ; chi cho tài
sản khác. Ngành ngân hàng là một ngành ít phải đầu t TSCĐ so với các ngành
sản xuất vì sản phẩm ngân hàng là sản phẩm dịch vụ. TSCĐ của ngành chủ yếu
là nhà làm việc và hệ thống máy tính, két sắt. Đây là khoản chi phí thờng xuyên
của ngân hàng vì quá trình hoạt động TSCĐ bị hao mòn đi. Để có thể tiếp tục
kinh doanh và bảo tồn đợc TSCĐ trong kỳ kinh doanh tiếp theo các NHTM cần
phải tiến hành trích khấu hao cho nó. Tỷ lệ trích khấu hao do pháp luật quy
định, các NHTM chỉ đợc trích khấu hao ở một tỷ lệ cho phép.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
h Chi cho quản lý và công cụ
Khoản chi này dùng để bù đắp cho ngời đứng ra quản lý ngân hàng và
các công cụ, vật liệu cần thiết trong quá trình hoạt động nh giấy tờ, vật liệu in
văn phòng ... Giá trị của mỗi lần chi nhỏ nhng thờng xuyên vì thế mà ngời có
trách nhiệm dễ lạm dụng khi chi.
i Chi bảo hiểm tiền gửi và chi cho dự phòng
Đây là khoản chi bắt buộc và định kỳ của các ngân hàng. Mục đích của
khoản chi này là đảm bảo an toàn cho hoạt động vủa ngân hàng. Bảo hiểm tiền
gửi an tâm hơn vì khi ngân hàng không còn khả năng thanh toán tiền gốc và lãi
năm. Các NHTM chỉ xác định kết quả kinh doanh một lần trong năm thờng là
vào thời điểm 31/12 của năm đó. Mỗi NHTM là một đơn vị hạch toán độc lập
các chi nhánh xác định kết quả kinh doanh theo mức khoán đã nhận. Tuy nhiên
để có thể duy trì đợc hoạt động kinh doanh trong năm thì hàng quý NHTM tạm
tính kết quả hoạt động kinh doanh theo kế hoạch lợi nhuận quý. Cuối năm sau
khi xác định kết quả kinh doanh thực tế sẽ thanh toán phần tạm chi lơng và tạm
trích quỹ.
Việc phân phối lợi nhuận theo quy định của Việt Nam sẽ nh sau:
Nộp thuế thu nhập 28%
* Đối với các NHTM nhà n ớc
1Trích lập 5% lợi nhuận sau thuế vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ,
mức tối đa của quỹ này không đợc vợt mức vốn điều lệ thực của NHTM.
2Bù lỗ năm trớc( nếu có)
3Nộp tiền thu vể sử dụng vốn NSNN
4Trừ các khoản tiền phạt của ngân hàng đó
5Sau khi trừ các khoản trên lợi nhuận còn lại đợc coi là 100% sẽ đợc
phân phối tiếp vào các quỹ: Quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu t phát triển nghiệp
vụ, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thởng phúc lợi, nếu còn lợi
nhuận thì sẽ đa vào quỹ phát triển nghiệp vụ.
* Đối với NHTM cổ phần và TCTD khác
1Lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (5%), bù lỗ năm trớc (nếu có), nộp
các khoản phạt vi phạm
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2Lợi nhuận còn lại (coi nh 100% ) đợc phân phối vào các quỹ : quỹ dự
phòng tài chính, quỹ trợ cấp mất việc làm, số còn lại do NHTM cổ phần tự
quyết định.
Do mục đích và nội dung kinh tế của các loại quỹ khác nhau nên trong
quá trình quản lý và sử dụng quỹ phải đảm bảo các nguyên tắc sử dụng quỹ
theo quy định.
còn khá cao, từ 4- 5%. Để có thể có kết quả kinh doanh tốt thì các NHTM Việt
Nam nên xử lý triệt để khoản nợ vay xấu này để có thể làm sạch bảng cân đối
tài sản của mình.
1.3.1.2 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực: bao gồm những nhà quản trị và đội ngũ ngời lao
động. Đây là nhân tố cực kỳ quan trọng ảnh hởng tới kết quả kinh doanh của
ngân hàng bởi vì họ là những chủ thể trực tiếp hay gián tiếp tiến hành hoạt động
kinh doanh. Chất lợng của những nhà quản trị đợc đánh giá trên các phơng diện
sau: kỹ năng t duy nhận thức, kỹ năng quan hệ, kỹ năng kỹ thuật. Đây là những
phẩm chất mà quản trị viên cần có để đảm bảo thực hiện tốt công việc của
mình. ở mỗi cấp độ quản lí khác nhau thì mức độ đòi hỏi các kỹ năng trên cũng
khác nhau và nó ảnh hởng đến chất lợng quản trị các hoạt động của ngân hàng.
Khi đó nó gián tiếp tác động đến tình hình thu nhập chi phí và kết quả kinh
doanh của ngân hàng.
Nhân viên ngân hàng: là ngời trực tiếp tác động vào hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ học vấn, đạo
đức nghề nghiệp và mức độ trung thành của nhân viên sẽ ảnh hởng đến chất l-
ợng công việc và thông qua đó sẽ ảnh hởng đến kết quả kinh doanh. Vì vậy
trong quá trình hoạt động ban lãnh đạo luôn luôn chú trọng đến công tác đào
tạo và đào tạo lại cho nhân viên, đồng thời tạo điều kiện thăng tiến tốt để mọi
ngời gắn bó với công việc và doanh nghiệp họ đang làm.
1.3.1.3 Trình độ tổ chức
Trình độ tổ chức thể hiện ở hiệu quả bộ máy tổ chức và hệ thống thông
tin quản lí của ngân hàng.
Về hiệu quả của bộ máy tổ chức: Một bộ máy đợc coi là hữu hiệu khi
số lợng nhân viên là ít nhất nhng các quyết định đa xuống đợc triển khai nhanh
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhất và sự phối kết hợp của các bộ phận tốt nhất. Ngân hàng nào xây dựng cho
mình đợc bộ máy tổ chức hữu hiệu thì ngân hàng đó sẽ không bị bỏ lỡ các cơ