ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHỮNG BẤT ỔN TRONG ĐIỀU HÀNH KINH TẾ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BỘ MÔN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI
KHÓA
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Diệp Gia Luật
Nhóm 1 – Lớp cao học đêm 11 – K23
DANH SÁCH NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN
1. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
2. NGUYỄN THÁI BÌNH
3. VÕ PHƯƠNG DIỄM
4. ĐỖ THỊ NGỌC LAN
5. HOÀNG NỮ THỤC ĐOAN
6. PHAN THU BẢO
7. VƯƠNG HOÀI NAM
8. TRƯƠNG HOÀNG PHÁT
9. PHẠM THỊ THANH KIM
10. NGUYỄN VIỆT DŨNG
11. HOÀNG KIM HOÀNG
12. LÊ TRUNG TRỰC
13. NGUYỄN THỊ CẨM DUNG
14. VÕ THỊ MỸ HẠNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÁC KÊNH TRUYỀN DẪN 2
1.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 2
1.1.1.Khái niệm 2
1.1.2.Mục tiêu 2
1.1.3.Công cụ của chính sách tiền tệ 2
1.1.4.Các kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ 7

1.1.1.Chính phủ thường xuyên thay đổi các mục tiêu ưu tiên và điều chỉnh chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 67
1.1.2.Quá chú trọng sử dụng chính sách tiền tệ để điều chỉnh kinh tế 67
1.1.3.Đầu tư dàn trải, kém hiệu quả 68
1.1.4.Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chưa thật nhịp nhàng 68
1.2.MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 68
1.2.1.Hạn chế tình trạng đảo chiều liên tục trong điều hành CSTT và CSTK 68
1.2.2.Chính sách tiền tệ kiên trì theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát trong dài hạn 69
1.2.3.Phối hợp đồng bộ và hiệu quả CSTT và CSTK 69
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ quan trọng trong
điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào. Hai chính sách này
tuy có những chức năng riêng nhưng lại có mối quan hệ mật thiết và tác động qua
lại lẫn nhau trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế chung của mỗi quốc gia. Chính
sách tài khóa là các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn hình
thành ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước để
chi và sử dụng các khoản chi của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từng năm tài
chính. Chính sách tiền tệ là việc thực hiện các biện pháp, sử dụng các công cụ của
Ngân hàng Nhà nước nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ
mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền.
Chuyên đề này xem xét khái quát tình hình thực hiện chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian qua, nêu ra một số vấn đề của nền
kinh tế có thể ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng.
1
1. CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÁC KÊNH TRUYỀN DẪN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận cấu thành quan trọng trong tổng

là muốn bành trướng khối tiền tệ, Ngân hàng Trung Ương khuyến khích các Ngân
hàng Thương mại trong việc đi vay bằng cách hạ thấp lãi suất tái chiết khấu và
những điều kiện tái chiết khấu cũng dễ dãi. Ngược lại, khi Ngân hàng Trung Ương
muốn giảm bớt cơ hội làm tăng khối tiền tệ, sẽ thực hiện nâng lãi suất tái chiết
khấu, thay đổi điều kiện tái chiết khấu theo hướng khó khăn hơn.
Ngân hàng Trung Ương cũng sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực
tiếp về mặt lượng đối với dự trữ của hệ thống Ngân hàng Thương mại.
1.1.3.2. Lãi suất
Lãi suất là giá của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi của lãi suất sẽ kéo theo
sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng khối
lượng tín dụng trong nền kinh tế. Do đó, lãi suất là một trong những công cụ chủ
yếu của chính sách tiền tệ. Thực tế cho thấy, tùy theo điều kiện thực tế và trình độ
phát triển của thị trường tài chính, Ngân hàng Trung Ương có thế sử dụng công cụ
lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ theo các cách:
Ngân hàng Trung Ương kiểm soát trực tiếp lãi suất thi trường bằng cách quy
định các loại lãi suất như: Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay theo từng kỳ hạn;
hoặc sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay để tạo nên khung lãi suất giới hạn;
hoặc công bố lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao dịch…
Ngân hàng Trung Ương áp dụng chính sách tự do hóa để lãi suất tự hình
thành theo cơ chế thị trường, Ngân hàng Trung Ương có thể gián tiếp can thiệp
thông qua các chính sách: công bố lãi suất cơ bản để hướng dẫn lãi suất thị trường
hoặc sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với lãi suất thị trường mở để
can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường.
Có thể nói, lãi suất vừa là đối tượng quản lý, vừa là một công cụ quan trọng
của chính sách tiền tệ. Lãi suất nếu được sử dụng đúng đắn và phù hợp với những
điều kiện, tình hình kinh tế trong từng thời kỳ nhất định sẽ có tác dụng trực tiếp đến
kiểm soát lạm phát, kích thích tiết kiệm và đầu tư phát triển cũng như ảnh hưởng
đến những thay đổi của tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với cán cân thanh toán
quốc tế. Ngược lại, nếu sử dụng nó cứng nhắc không phù hợp với điều kiện thực tế
của nền kinh tế, lãi suất trở thành vật cản kìm hãm, trói buộc nền kinh tế.

Cụ thể, cung – cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, nếu Ngân hàng Trung Ương ấn
định một tỷ giá cố định thì tác động đến quy luật cung - cầu trên thị trường. Còn
nếu thả nổi tỷ giá thì sự biển động của tỷ giá có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, có
thể làm cho nền kinh tế phát triển nhưng cũng có thể đưa nền kinh tế lâm vào tình
trạng khủng hoảng trầm trọng.
4
Tỷ giá thả nổi có quản lý là tỷ giá được hình thành trên cơ sở quan hệ cung –
cầu ngoại hối, nhưng khi cần thiết Ngân hàng Trung Ương có thể can thiệp bằng
những biện pháp thích hợp, tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quan hệ
cung – cầu ngoại tệ từ đó ổn định được tỷ giá.
Biện pháp chủ yếu mà các Ngân hàng Trung Ương thường dùng để can thiệp
vào cung – cầu ngoại tệ là sử dụng dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn hối đoái.
Cụ thể, khi tỷ giá hối đoái tăng cao, Ngân hàng Trung Ương tung ngoại tệ ra
bán, làm cho cung ngoại tệ trên thị trường tăng lên, trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi, thì tỷ giá sẽ từ từ giảm xuống. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm Ngân
hàng Trung Ương hút ngoại tệ về bằng cách mua vào, trong khi các yếu tố khác vẫn
không đổi thì tỷ giá sẽ dần tăng lên. Để áp dụng biện pháp này hiệu quả, đòi hỏi
quốc gia phải có khối lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn.Vì vậy, đối với những nước
đang phát triển, chẳng hạn như nước ta thì việc áp dụng công cụ này có những hạn
chế nhất định.
1.1.3.5. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các Ngân hàng Thương Mại, các tổ chức tín
dụng bắt buộc phải gửi vào một tài khoản tại Ngân hàng nhà Nước.
Mức dự trữ bắt buộc nhiều hay ít tùy thuộc vào các yếu tố sau:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ này do Ngân hàng Nhà Nước quy định cụ thể -
trong phạm vi từ 0% đến 20% tùy từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền
gửi.
Số dư nguồn vốn huy động của các Ngân hàng Thương Mại và các tổ chức
tín dụng khác.
Trong hai yếu tố trên, yếu tố số dư nguồn vốn huy động có tính ổn định, do

1.1.3.6. Các công cụ khác
Tăng cường hoạt động thanh tra giám sát:
Ngoài việc sử dụng các công cụ nói trên, để điều hành chính sách tiền tệ
quốc gia, Ngân hàng Nhà Nước còn sử dụng một số công cụ khác, trong phạm vị
quyền hạn và trách nhiệm của mình, như thực hiện và tăng cường công tác thanh
toán, kiểm soát mọi mặt hoạt động của hệ thống ngân hàng trung gian. Đây là một
hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì các Ngân hàng Thương Mại, các tổ chức
tín dụng khác là những đơn vị hoạt động kinh doanh, với mục đích lợi nhuận. Nếu
không thanh tra, kiểm soát các mặt hoạt động của các đơn vị này, thì có nguy cơ
xảy ra vi phạm cơ chế, chính sách và pháp luật của các đơn vị đó trong kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Điều này đã được kiểm nghiệm trên thực tế. Không
kiểm tra, giám sát; không kịp thời uốn nắn những sai phạm sẽ làm cho hệ thống tài
chính rối loạn. Tuy nhiên cần phải nói rằng chính các Ngân hàng Thương Mại, các
tổ chức tín dụng là những người giáp mặt với thực tiễn, những người tiên phong,
đứng mũi chịu sào, do đó việc thanh tra kiểm soát của Ngân hàng Nhà Nước phải
6
tạo điều kiện và khuyến khích các Ngân hàng Thương Mại, các tổ chức tín dụng
hoạt động kinh doanh năng động và có hiệu quả.
Thanh tra kiểm soát quá mức, quá khắt khe, gây cản trở cho hoạt động của
họ, thì công cụ này sẽ có tác dụng ngược!
Can thiệp thị trường vàng và ngoại tệ:
Đây là biện pháp và là công cụ của Ngân hàng Nhà Nước khi thị trường
ngoại hối có biến động bất thường gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất – nhập khẩu
và hoạt động kinh tế đối ngoại khác.
Khi tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam tăng lên quá cao (đội trần) mà vẫn có xu
hướng tăng, quan hệ cung cầu ngoại tệ quá căng thẳng, Ngân hàng Nhà Nước sẽ can
thiệp bằng cách bán ngoại tệ ra để kéo tỷ giá xuống.
Ngược lại, khi tỷ giá đồng Việt Nam giảm xuống quá thấp – Ngân hàng Nhà
Nước sẽ mua ngoại tệ vào để nâng tỷ giá lên.
Việc can thiệp bán hoặc mua ngoại tệ chỉ xảy ra khi Ngân hàng Nhà Nước

Theo F.Miskin phân ra ba loại giá cả tài sản bên cạnh giá cả công cụ nợ được
xem là những kênh truyền dẫn quan trọng, thông qua đó chính sách tiền tệ tác động
tới nền kinh tế đó là: giá cả chứng khoán, giá cả bất động sản và tỷ giá hối đoái.
CSTT mở rộng hay thu hẹp thông qua các kênh truyền dẫn này tác động đến tình
trạng lạm phát và đầu tư trong nền kinh tế.
1.1.4.3. Kênh tỷ giá hối đoái
Có hai kênh truyền dẫn cơ bản thông qua tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái tác
động xuất khẩu ròng và tỷ giá hối đoái tác động đến bảng cân đối tài sản của các
đơn vị tài chính và phi tài chính.
1.1.4.4. Tỷ giá hối đoái tác động xuất khẩu thuần
Trong điều kiện các hoạt động kinh tế ngày nay càng mang tính toàn cầu
cùng với việc áp dụng phổ biến cơ chế tỷ giá linh hoạt, đã có nhiều sự chú ý tới hoạt
động truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua việc tỷ giá hối đoái tác động lên xuất
khẩu ròng. Kênh này cũng liên quan tới những tác động của lãi suất, trong trường
hợp này lãi suất của nội tệ giảm so với ngoại tệ làm cho giá trị tiền gửi nội tệ thấp
hơn giá trị tiền gửi ngoại tệ, đó chính là sự giảm giá của đồng nội tệ. Giá trị của
đồng nội tệ thấp hơn làm cho hàng hóa nước đó trở nên rẻ hơn so với hàng hóa
nước ngoài, và do đó làm tăng xuất khẩu ròng và GDP.
1.1.4.5. Tỷ giá hối đoái tác động đến bảng cân đối tài sản
Sự biến động tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến tổng cầu thông qua bảng cân
đối của các công ty tài chính và phi tài chính khi có một số lượng nợ đáng kể bằng
8
đồng ngoại tệ. Với những hợp đồng bằng đồng ngoại tệ, CSTT mở rộng sẽ làm
giảm giá trị đồng nội tệ, gia tăng gánh nặng nợ; kéo theo là giá trị thuần tài sản
giảm, dẫn đến vay mượn giảm, giảm đầu tư và giảm sản lượng.
1.1.4.6. Kênh giá cả chứng khoán
Có hai kênh quan trọng có liên quan đến giá cổ phiếu trong cơ chế truyền
dẫn tiền tệ: kênh liên quan tới học thuyết q của Tobin về đầu tư, bảng cân đối tài
sản của doanh nghiệp và những tác động của mức độ giàu có lên tiêu dùng của hộ
gia đình.

cầu tăng
1.1.4.9. Tác động tới mức giàu có của các hộ gia đình
Trong mô hình MPS của Modigliani (1971) về tiêu dùng, lãi suất tăng sẽ làm
giảm giá cổ phiếu và trái phiếu và ảnh hưởng xấu đến tài sản của người dân, từ đó
dẫn đến tiêu dùng giảm sút và cuối cùng là tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất
kinh doanh. Trong mô hình vòng đời của Modigliani, chi tiêu tiêu dùng được quyết
định bởi những nguồn lực trong suốt cuộc đời của cá nhân, bao gồm cả nguồn vốn
con người, tài sản thực và tài sản tài chính. Trong cấu phần của tài sản tài chính bao
gồm cả cổ phiếu phổ thông. Khi giá cổ phiếu tăng, giá trị của tài sản tài chính cũng
tăng, do vậy làm tăng nguồn lực của người tiêu dùng và vì vậy chi tiêu tiêu dùng sẽ
tăng.
1.1.4.10. Kênh giá cả bất động sản
Giá cả bất đống sản tác động đến tổng cầu thông qua các kênh: ảnh hưởng
trực tiếp đến chi tiêu nhà ở, sự giàu có của các hộ gia đình, bảng cân đối ngân hàng.
1.1.4.11. Tác động đến chi tiêu nhà ở
Mô hình chi tiêu nhà ở là một dạng biến đổi của lý thuyết q – Tobin. CSTT
mở rộng làm giảm lãi suất, giảm chi phí tài trợ nhà ở và vì thế làm gia tăng giá cả
nhà ở. Sự gia tăng giá cả nhà ở làm gia tăng lợi nhuận của các công ty xây dựng nhà
và vì thế chi tiêu nhà ở gia tăng, kéo theo tổng cầu xã hội gia tăng.
1.1.4.12. Tác động đến mức giàu có của các hộ gia đình
Giá cả nhà ở là hợp phần quan trọng của mức giàu có các hộ gia đình và tác
động đến mức chi tiêu dùng. Vì thế, CSTT mở rộng làm gia tăng giá nhà ở, gia tăng
mức độ giàu có của các hộ gia đình, kéo theo gia tăng chi tiêu dùng và tổng cầu xã
hội.
1.1.4.13. Tác động đến bẳng cân đối tài sản ngân hàng
10
Mô hình này dựa vào giả thiết, khi vay mượn vốn nhà đầu tư phải thế chấp
bất động sản ở ngân hàng. CSTT mở rộng, làm gia tăng giá cả bất động sản, gia
tăng giá trị tài sản thế chấp và vốn ngân hàng, dẫn đến đầu tư và sản lượng tăng lên.
1.1.4.14. Các kênh tín dụng

Chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới bảng cân đối tài sản của các công ty
theo một số cách như CSTT nới lỏng dẫn đến giá cổ phần tăng như đã trước mô tả ở
phần trước, làm tăng giá trị ròng của công ty và vì vậy dẫn đến chi đầu tư cao hơn
và tăng tổng cầu, nhờ giảm lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
Hoặc CSTT nới lỏng làm giảm lãi suất, tạo nên một sự tăng trưởng trong
bảng cân đối tài sản của công ty bởi vì dòng tiền tăng, do đó, giảm lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đức
1.1.4.17. Kênh bảng cân đối tài sản của hộ gia đình
Mặc dù hầu hết tài liệu nghiên cứu về kênh tín dụng tập trung vào chi tiêu
của các công ty kinh doanh, nhưng cũng nên quan tâm đến chi tiêu của người tiêu
dùng, đặc biệt là chi tiêu hàng lâu bền và nhà ở. Sự thắt chặt tiền tệ khiến các ngân
hàng từ chối cho vay nên gây ra sự suy giảm trong hoạt động chi tiêu hàng lâu bền
và nhà ở bởi người tiêu dùng không tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng. Tương
tự như vậy, việc tăng lãi suất khiến bảng cân đối tài sản của hộ gia đình xấu đi bởi
vì dòng tiền của hộ gia đình bị tác động tiêu cực.
Một cách khác để nhận ra kênh cân đối tài sản của hộ gia đình hoạt động như
thế nào đó là xem xét những ảnh hưởng của thanh khoản đến chi tiêu hàng lâu bền
và nhà ở - một yếu tố quan trọng được tìm thấy trong cuộc Đại suy thoái (Mishkin
[1978]). Với quan điểm hiệu ứng thanh khoản ảnh hưởng lên bảng cân đối tài sản
thông qua tác động của nó lên mong muốn chi tiêu của người tiêu dùng nhiều hơn
so với mong muốn cho vay của người cho vay. Bởi vì thông tin không cân xứng về
chất lượng, hàng hóa lâu bền và nhà ở là những tài sản có tính thanh khoản thấp.
Nếu thu nhập xấu đi khiến người tiêu dùng cần bán hàng lâu bền hoặc nhà ở của họ
để có thêm tiền, thì họ có thể bị lỗ bởi họ không thể thu về đầy đủ giá trị tài sản của
họ trong hoàn cảnh túng quẫn đó. Ngược lại, nếu người tiêu dùng giữ tài sản tài
chính (như là tiền trong nhà băng, chứng khoán và trái phiếu), họ sẽ dễ dàng bán
chúng với giá bằng giá thị trường và thu về tiền mặt. Do đó, nếu người tiêu dùng
nhận thấy có nhiều khả năng lâm vào tình trạng khó khăn tài chính, họ sẽ ít muốn
giữ tài sản thanh khoản thấp như hàng hóa lâu bền và nhà ở, mà giữ các tài sản tài
chính có tính thanh khoản cao hơn.

Đầu tiên,có rất nhiều bằng chứng để chứng minh cho quan điểm rằng những
khuyết tật của thị trường tín dụng thực sự có ảnh hưởng đến các quyết định việc làm
và chi tiêu của các doanh nghiệp.
13
Thứ hai, có những bằng chứng, như trong Gertler và Gilchrist (1994), chỉ ra
rằng những doanh nghiệp nhỏ, tín dụng bị giới hạn thì bị ảnh hưởng bởi chính sách
tiền tệ thắt chặt nhiều hơn doanh nghiệp lớn, tín dụng ít bị giới hạn.
Thứ ba, và có lẽ là điều thuyết phục nhất, quan niệm bất đối xứng thông tin
của thị trường tín dụng không hoàn hảo là cốt lõi của phân tích kênh tín dụng và là
một lý luận đã được chứng minh là rất hữu ích trong việc giải thích nhiều hiện
tượng quan trọng khác. Ví dụ, quan niệm bất đối xứng thông tin của thị trường tín
dụng không hoàn hảo giải thích tại sao có sự tồn tại của rất nhiều các thể chế tài
chính và tại sao hệ thống tài chính lại có cấu trúc như hiện nay. Bên cạnh đó, phân
tích kênh tín dụng ở đây cung cấp sự giải thích rõ ràng cho các sự kiện xảy ra nối
tiếp nhau trong cuộc khủng hoảng tài chính và giải thích tại sao khủng hoảng tài
chính lại ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
Một tính chất quan trọng của các kênh tín dụng đó là sự nhấn mạnh các cách
mà chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua giá tài sản và lãi suất.
Thêm vào đó, bàn bạc về các kênh khác như chính sách tỷ giá, hệ số q của Tobin,
sự giàu có và giá nhà, đất cung cấp thêm những lý do tại sao giá tài sản lại có vai trò
quan trọng trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ.
1.1.5. Những bài học cho chính sách tiền tệ
Từ những phân tích và đánh giá về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ có
thể rút ra những hàm ý chính sách nào cho ngân hàng trung ương trong việc thực thi
chính sách tiền tệ? Có 4 bài học có thể rút ra từ những hiểu biết về cơ chế truyền
dẫn chính sách tiền tệ.
- Sẽ rất nguy hiểm nếu luôn kết hợp chính sách tiền tệ nới lỏng (hay thắt
chặt) với sự giảm (hoặc tăng) của lãi suất danh nghĩa ngắn hạn.
Bởi vì hầu hết các Ngân hàng Trung Ương sử dụng lãi suất danh nghĩa ngắn
hạn, mà điển hình là lãi suất liên ngân hàng, như một công cụ chính để điều hành

có thể nói chính sách tiền tệ là một công cụ có hiệu lực để phục hồi nền kinh tế
đang suy thoái và có lãi suất ngắn hạn gần bằng 0. Quả vậy, do tính trễ cố hữu trong
chính sách tài khóa và yếu tố chính trị trong việc sử dụng chính sách tài khóa, chính
sách tiền tệ nới lỏng là chính sách chính được yêu cầu trong quá trình khôi phục nền
kinh tế thiểu phát.
- Tránh những dao động không dự tính trong mức giá là mục tiêu quan trọng
của chính sách tiền tệ, cung cấp yếu tố cơ bản cho ổn định giá như là mục tiêu chính
trong dài hạn của chính sách tiền tệ.
Trong những năm gần đây, các Ngân hàng Trung Ương tập trung vào ổn
định giá như là mục tiêu chính trong dài hạn của chính sách tiền tệ. Nhiều lập luận
đã được thừa nhận cho mục tiêu này, bao gồm những tác động không mong muốn
15
của các yếu tố không chắc chắn lên mức giá trong tương lai đến các quyết định kinh
doanh và năng suất, sự không chính xác liên quan tới sự ảnh hưởng lẫn nhau của
các hợp đồng danh nghĩa và hệ thống thuế với lạm phát, và những xung đột xã hội
tăng lên bắt nguồn từ lạm phát. Không chỉ những cuộc khảo sát dư luận cho thấy
công chúng rất bất mãn với tình trạng lạm phát mà ngay cả những bằng chứng đang
được hình thành cũng chỉ ra rằng lạm phát dẫn đến sự phát triển kinh tế thấp. Cuộc
thảo luận về cơ cấu truyền dẫn tiền tệ đã cung cấp thêm một lý do cho tầm quan
trọng của việc ổn định giá cả. Như chúng ta đã biết, những thay đổi không đoán
trước được của giá cả gây nên những dao động không dự tính được trong sản lượng,
đó là hậu quả không mong đợi. Điều đặc biệt quan trọng trong quan điểm này là
giảm phát có thể là nhân tố quan trọng dẫn đến khủng hoảng tài chính kéo dài, như
đã xảy ra trong suốt Đại suy thoái kinh tế. Thấu hiểu cơ cấu truyền dẫn tiền tệ cho
thấy nên theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả bởi nó làm giảm sự bất ổn trong mức giá
tương lai. Do đó, mục đích ổn định giá nghĩa là đảm bảo lạm phát âm cũng như lạm
phát quá cao xảy ra ít nhất.
1.2. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010
Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự

Trong những tháng cuối năm (từ tháng 10/2008), NHNN chuyển hướng
điều hành chính sách tiền tệ từ thắt chặt để chống lạm phát sang nới lỏng nhằm
mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ
bản từ 14% - 13% - 11% - 8,5% - 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 15% - 13% - 12%
- 9,5% - 8% - 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13% - 11% - 12% - 10% - 7,5% -
6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 15% - 14,3% - 13,5% - 11% - 9% - 8%
- 7,5% - 7%/năm.
17
Diễn biến lãi suất năm 2008
Nguồn: Ngân hàng nhà nướcViệt Nam
Thứ hai: Công cụ về Dự trữ bắt buộc
Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 02/2008, Ngân hàng Nhà
nước điều chỉnh tăng 1% tỷ lệ DTBB đối với tất cả các kỳ hạn, áp dụng cho cả tiền
gửi VND và ngoại tệ đối với hầu hết các TCTD.
Những tháng cuối năm 2008, để ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đã điều
chỉnh giảm tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi VND từ 11% xuống 6% và tiền gửi bằng
ngoại tệ từ 11% xuống 7%.
Thứ ba: Nghiệp vụ thị trường mở
NHNN phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc.
Các loại tín phiếu trước đây được giao dịch trên thị trường mở với NHNN thì
giờ NHNN nói rõ là không được vay tái cấp vốn.
1.2.1.2. Tác động của chính sách tiền tệ
Chính các biện pháp kiềm chế lạm phát của Ngân hàng Nhà nước là nguyên
nhân dẫn đến việc tăng giá đồng nội tệ và qua đó thể hiện sự dẫn truyền chính sách
tiền tệ của kênh tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá trên thị trường diễn biến phức tạp và chia thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu (3 tháng đầu năm từ 01/01/2008 đến 25/03/2008): Tỷ giá liên
tục giảm, dưới mức sàn.
18
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm (từ mức

16.998 sau đó giảm nhẹ. Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong
ngày 7/11/2008, tỷ giá tăng tới mức 17.440 VND/USD.
Khởi đầu năm 2008, thị trường chứng khoán đã đón nhiều thông tin bất lợi
từ chính sách tiền tệ của nhà nước nhằm khống chế lạm phát đang ở mức cao hai
19
con số. Thị trường CK năm 2008 đang theo xu hướng xuống giá, chính sách tiền tệ
thắt chặt làm cho lãi suất tăng cao khiến các nhà đầu tư rời bỏ thị trường, gửi tiền
vào ngân hàng nhằm kiếm lợi nhuận cao và bảo toàn vốn. Thị trường chứng khoán
là kênh huy động vốn hiệu quả trong năm 2007 nay không còn thuận lợi trong năm
2008, với CSTT thắt chặt, lãi suất tăng cao làm các nhà đầu tư chuyển sang đầu tư
vào các kênh khác, giá chứng khoán giảm kéo theo giá trị thuần của các công ty
giảm xuống làm giảm khả năng vay nợ vì thế giảm bớt khả năng gia tăng đầu tư,
còn đối với các công ty phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp thì giá trị cổ phiếu
không còn cao như năm 2007, giá cả cổ phiếu giảm khiến cho mỗi cổ phiếu phát
hành huy động được ít vốn hơn khi đó dẫn đến kích thích đầu tư giảm và làm cho
tổng cầu giảm theo.
Mặc dù giá chứng khoán là một phần quan trọng của cơ chế truyền dẫn,
nhưng giữa giá chứng khoán và chính sách tiền tệ có mối quan hệ rất yếu. Những
biến động của giá chứng khoán xảy ra bắt nguồn từ nhiều lý do không liên quan đến
chính sách tiền tệ, như là tâm lý bầy đàn, đầu cơ…. Vì thế, chính mối quan hệ khá
“lỏng lẻo” giữa chính sách tiền tệ và giá chứng khoán nên chắc chắn sẽ làm hạn
chế rất lớn khả năng của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát giá chứng
khoán cũng như mức độ dẫn truyền của CSTT thông qua kênh giá cả chứng khoán.
Hơn một tháng sau khi có chính sách thắt chặt tiền tệ - trên thị trường bất
động sản bắt đầu xuất hiện làn sóng tháo chạy. Làn sóng tháo chạy đã kéo giá nhà
đất liên tục sụt giảm, với tốc độ sụt giảm ngày càng gia tăng. Sau 6 tháng liên tục
giảm giá, đến cuối năm 2008 nhà đất trên thị trường đã mất bình quân 50% giá trị
so với thời đỉnh điểm cơn sốt. Phản ứng thắt chặt chính sách tiền tệ không được
thực hiện vào quý 4 năm 2007 – thời điểm lạm phát có nguy cơ tăng cao, mà để cho
đến mãi tháng 2 & 3/2008 – thời điểm thị trường bất động sản ở hai thành phố lớn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status