Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG
QUÁ TRÌNH NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế
nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng mở rộng. Sự giao lưu buôn
bán giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày càng lớn đòi hỏi quá trình thị
trường hàng hóa xuất nhập khẩu phải đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện cho các bên. Để
đảm bảo các điều kiện đó, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đã phải có
những biện pháp, chiến lược nhằm kiểm soát, hạn chế các loại rủi ro xảy ra.
Trên thế giới, các doanh nghiệp đã xây dựng các biện pháp đó thành chiến lược
có tính hệ thống và coi việc nghiên cứu, kiểm soát rủi ro là một công tác quan trọng
của doanh nghiệp. Ở Việt Nam, khái niệm và việc vận dụng kiểm soát rủi ro mới chỉ
dừng lại ở việc xử lý các rủi ro đã xảy ra, còn việc nghiên cứu lý luận và đưa ra các
giải pháp mang tính nguyên tắc thì chưa được quan tâm nghiên cứu có tính hệ thống.
Công ty TNHH Thiết bị Công nghệ Bình Minh đã hoạt động trên thị trường
được 4 năm, nhưng vẫn chưa thực sự chú trọng đến chức năng kiểm soát rủi ro trong
hoạt động nhận hàng nhập khẩu của mình. Do đó, công ty thường gặp phải các rủi ro
trong việc giao nhận hàng hóa, rủi ro do hàng không đúng chất lượng, chủng loại,…
Điều đó đã làm thiệt hại về kinh tế rất nhiều cho công ty, nghiêm trọng hơn là ảnh
hưởng trực tiếp đến uy tín của công ty. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế như hiện
nay, nếu tình trạng này còn kéo dài thì công ty sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và
có xu hướng ngày càng gia tăng. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát rủi
ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH Thiết bị
Công nghệ Bình Minh để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tạo lập môi trường kinh
doanh an toàn hơn là vấn đề cần thiết.
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Công ty TNHH Thiết bị Công nghệ Bình Minh là công ty chuyên nhập khẩu các
sản phẩm máy phát điện và phân phối các sản phẩm máy phát điện trên thị trường
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung kiểm soát rủi ro trong quá trình
nhận hàng nhập khẩu đường biển của công ty TNHH thiết bị công nghệ Bình Minh
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Bài khoá luận tập trung nghiên cứu thực trạng kiểm soát rủi ro
trong quá trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển từ năm 2009 đến 2011 của công
ty BMTE.
- Không gian: Bài khoá luận tập trung nghiên cứu việc kiểm soát rủi ro trong
quá trình nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển của công ty BMTE tại cảng Hải
Phòng.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân
tích và đề xuất các biện pháp kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu. Đề
tài chú trọng sử dụng các công cụ: thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, suy luận
logic,… nhằm tăng thêm cơ sở của vấn đề và giải quyết chúng có hệ thống.
1.7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài còn gồm 4
chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng
nhập khẩu bằng đường biển
Chương 2: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập
khẩu bằng đường biển
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
Chương 3: Thực trạng kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu
bằng đường biển tại công ty TNHH thiết bị công nghệ Bình Minh
Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất kiểm soát rủi ro trong quá trình
nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH thiết bị công nghệ Bình
Minh
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
việc đó không được coi là rủi ro. Hoặc nếu như một sự kiện xảy ra gây tổn thất nhưng
nằm trong kế hoạch dự định của chủ thể thì cũng không được coi là rủi ro.
2.1.2 Khái niệm tổn thất
Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản, về con người, tinh thần, sức
khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra (PGS.TS Doãn
Kế Bôn, 2009, Tr 336).
Tổn thất có thể là hữu hình (tổn thất tài sản, con người, sức khỏe) và cũng có thể
là vô hình (tinh thần, đe dọa sự nghiệp,…). Tổn thất vô hình hoàn toàn có thể đo lường
và quy đổi ra thành tiền, và trong không ít các trường hợp tổn thất vô hình còn lớn hơn
cả tổn thất hữu hình, chẳng hạn, vì rủi ro chậm trễ thời gian trong vận chuyển hàng
hóa, đã bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, dẫn đến không được hưởng lãi và còn bị phạt hợp
đồng, giảm uy tín trong kinh doanh… Trong thực tế hoạt động thương mại quốc tế,
thường người ta chỉ đề cập đến những tổn thất hữu hình.
Rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau cùng phản ánh một sự kiện không
may xảy ra, nhưng có mối quan hệ nhân quả, theo đó, rủi ro là nguyên nhân còn tổn
thất là hậu quả. Rủi ro phản ánh về mặt chất của sự kiện, bao gồm nguyên nhân, mức
độ, tính chất nguy hiểm còn tổn thất phản ánh về mặt lượng của sự kiện, nghĩa là phản
ánh mức độ những thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần có nguyên nhân từ rủi ro
gây ra, qua đó thấy được mức độ nghiêm trọng của sự kiện.
2.1.3 Khái niệm kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi ro là những kỹ thuật, những công cụ, những chiến lược, và những
quá trình nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né tránh, ngăn ngừa,
giảm thiểu bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro và tổn thất hoặc lợi ích.
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
Kiểm soát rủi ro bao gồm: né tránh rủi ro, phòng ngừa rủi ro và giảm thiểu rủi
ro.
Né tránh rủi ro: Là một trong những biện pháp của nhà quản trị giúp cho việc
đưa ra cá quyết định để chủ động phòng ngừa trước rủi ro xảy ra và loại bỏ nguyên
nhân của chúng. Đây không được coi là giải pháp mang tính tuyệt đối, có thể làm
Hàng sẽ được xếp lên xe ôtô và vận chuyển về kho theo phiếu vận chuyển và
ghi rõ số lượng, loại hàng và số B/L.
Cối mỗi ca và sau khi xếp xong hàng, cảng và đại diện tàu phải đối chiếu số
lượng hàng hoá giao nhận và cùng ký vào Tally Sheet.
Lập biên bản kết toán nhận hàng với tàu (ROROC) trên cơ sở Tally Sheet. Cảng
và tàu đều ký vào biên bản kết toán này, xác nhận số lượng thực giao so với bản lược
khai hàng (Cargo Manifest) và B/L.
Lập các giấy tờ cần thiết trong các quá trình giao nhận như giấy chứng nhận hư
hỏng (COR) nếu hàng bị hư hỏng hay yêu cầu tàu cấp phiếu thiếu hàng (CSC), nếu tàu
giao thiếu.
2. Cảng giao hàng cho chủ hàng
Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc, giấy giới
thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng (D/O - Delivery order). Hãng
tàu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản D/O cho người nhận hàng;
Chủ hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên bản;
Chủ hàng mạng biên lại lại nộp phí, 3 bản D/O cùng Invoice và Packing List
đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để ký xác nhận D/O và tìm vị trí hàng, tại đây lưu 1
bản D/O;
Chủ hàng mạng 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làm phiếu xuất kho.
Bộ phận này giữ 1 D/O và làm 2 phiếu xuất kho cho chủ hàng;
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
Chủ hàng làm thủ tục hải quan. Sau khi hải quan xác nhận hoàn thành các thủ
tục hải quan chủ hàng có thể mang ra khỏi cảng và chở về kho riêng.
• Đối với hàng không lưu kho, bãi tại cảng
Khi chủ hàng có khối lượng hàng hoá lớn chiếm toàn bộ hầm hoặc tàu hoặc
hàng rời như phân bón, xi măng, clinker, than, quặng, thực phẩm, thì chủ hàng hoặc
người được chủ hàng uỷ thác có thể đứng ra giao nhận trực tiếp với tàu. Trước khi
nhận hàng, chủ hàng phải hoàn tất các thủ hải quan và trao cho cảng B/L, lệnh giao
hàng (D/O). sau khi đối chiếu với bản lược khai hàng hoá Manifiest, cảng sẽ lên hoá
phẩm, nguy cơ bị hủy hợp đồng, mất hợp đồng, bị phạt hợp đồng là rất dễ xảy ra. Đặc
biệt, doanh nghiệp có thể bị mất uy tín của doanh nghiệp và những đối tác làm ăn đáng
tin cậy và ảnh hưởng tiêu cực đến tương lai của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp
có thể gặp rủi ro với các tổ chức kiểm nghiệm chất lượng của nhà nước và chính phủ
khi đầu vào và đầu ra không đạt yêu cầu, tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.
2.2.2 Rủi ro do chậm giao hàng hoặc không giao hàng
Người xuất khẩu có thể chậm giao hàng theo như tiến độ đã được quy định
trong hợp đồng và không ít trường hợp họ còn không có khả năng giao hàng. Việc xác
định rạch ròi giữa chậm giao hàng và không giao hàng không phải khi nào cũng dễ
dàng khi trong hợp đồng không quy định cụ thể thời hạn cuối cùng và trong các hợp
đồng có thời hạn giao hàng kéo dài, giao từng phần.
Rủi ro do chậm giao hàng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan
và khách quan. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động thương mại quốc tế người ta thường
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
nói nhiều đến những nguyên nhân chủ quan và trong đa số trường hợp khi người bán
chậm giao hàng thì người mua thường tìm mọi lý lẽ chứng minh đó là ý muốn chủ
quan của người bán. Các nguyên nhân khách quan dẫn đến chậm giao hàng hoặc không
thể giao hàng của người bán có thể là do những biến động mạnh về nguồn cung (giá cả
tăng quá nhanh, không còn nguồn hàng xuất khẩu do thiên tai, hiểm họa tự nhiên,…).
Mức độ thiệt hại của trường hợp chậm giao hàng hoặc không giao hàng về cơ bản cũng
như trường hợp giao không đủ lượng hàng, sẽ làm suy giảm đáng kể lợi nhuận, làm
mất đi cơ hội kinh doanh và tạo ra những thiệt hại liên đới cho người nhập khẩu.
2.2.3 Rủi ro do thay đổi về điều kiện và thời gian thanh toán
Nhiều khi hợp đồng thương mại đã quy định cụ thể về các điều kiện và thời gian
thanh toán, song người xuất khẩu đơn phương thay đổi buộc nhà nhập khẩu phải thanh
toán luôn một lần toàn bộ tiền bán hàng, mới được nhận hàng, điều này khiến cho nhà
nhập khẩu bị động phải có khoản vay từ ngân hàng để tài trợ cho việc thanh toán với
phần lãi phải trả. Nếu khoản vay lớn sẽ gây khó khăn trong việc vay vốn, ảnh hưởng
đến khả năng nhận hàng.
đường biển
Rủi ro có thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi doanh nghiệp, không phân biệt đó là
doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp có thâm niên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu
hay doanh nghiệp non trẻ mới vào nghề… ở đâu rủi ro cũng có thể xuất hiện. Không
chỉ ở mọi nơi, rủi ro còn có thể xảy ra mọi lúc, mọi giai đoạn của quá trình đàm phán,
ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu. Rủi ro có thể xuất hiện ngay
từ khi bắt đầu lựa chọn đối tác, rồi có thể tiếp tục xuất hiện trong các khâu soạn thảo,
ký kết hợp đồng, và toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng.
Hậu quả của rủi ro thật khôn lường, cũng có thể nhỏ, không đáng kể, nhưng
cũng có thể hết sức trầm trọng, có thể làm cho doanh nghiệp suy yếu, thậm chí có thể
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp. Rủi ro không chỉ dẫn đến những tổn thất về vật
lực, tài lực, mà còn có thể gây ra tổn thất về người.
Hoạt động giao nhận hàng hóa quốc tế nói chung và hoạt động giao nhận hàng
hóa bằng đường biển nói riêng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. Mục đích của việc
kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là giúp hoạt
động nhập khẩu hàng hóa của công ty được tiến hành thuận lợi và thông suốt, có lợi
cho quá trình hoạt động kinh doanh của công ty, duy trì mối quan hệ tốt giữa công ty
và đối tác uy tín, giữa công ty và khách hàng trung thành.
2.3.2 Ý nghĩa của việc kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu bằng
đường biển
Ý nghĩa của việc kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu bằng
đường biển của công ty là vô cùng lớn. Nó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nhập
khẩu của công ty, giúp công ty duy trì mối quan hệ với bạn hàng tốt, đồng thời tăng uy
tín của công ty với khách hàng, nâng cao vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường.
2.4 Biện pháp kiểm soát rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường
biển
2.4.1 Trường hợp người bán không giao đúng số lượng, chất lượng và chủng loại
(performance bond).
2.4.3 Trường hợp thay đổi về điều kiện và thời gian thanh toán
Nhà nhập khẩu cần yêu cầu về nội dung và hình thức chứng từ phải rất chặt chẽ,
không yêu cầu chung chung về điều kiện và thời gian thanh toán: Chứng từ phải do
những cơ quan đáng tin cậy cấp, Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như: Standby
L/C, Bank Guarantee, Performance Bond,… ( chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn
và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi nhà nhập khẩu.
Khi xếp hàng lên tàu phải có sự giám sát của đại diện từ phía nhà nhập khẩu để
kịp thời đối chiếu với vận đơn và lịch trình của tàu. Và đề nghị nhà xuất khẩu gửi 1/3
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
bộ vận đơn gốc (bản chính) thẳng tới nhà nhập khẩu để có thể kiểm tra tính xác thực
của lô hàng.
2.4.4 Trường hợp rủi ro do có những thay đổi trong điều kiện vận chuyển hàng hóa
Để phòng ngừa những rủi ro liên quan đến những thay đổi trong điều kiện vận
chuyển hàng hóa và hạn chế tối đa những tổn thất do rủi ro đó mang lại, các doanh
nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp sau đây:
+ Chọn hãng tàu và người vận chuyển đáng tin cậy.
+ Giành quyền chủ động thuê tàu ( nhập khẩu theo điều kiện nhóm F).
+ Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng
giao dịch tại nước nhà nhập khẩu.
+ Mua bảo hiểm cho hàng hoá.
+ Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề
xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF
stowed
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
•
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH
NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY TNHH
Số Fax: (84-4) 37 915303
Website: Hyudaipower.vn
Mã số thuế: 0102388286
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: 0102032413 (Do sở Kế hoạch Đầu tư
thành phố Hà Nội cấp ngày 10 tháng 10 năm 2007)
Người đại diện: Đinh Viết Văn – Giám Đốc
Lĩnh vực hoạt động
Lĩnh vực kinh doanh chính của công ty là:
- Nhập khẩu các sản phẩm máy phát điện.
- Phân phối các sản phẩm máy phát điện trên thị trường trong nước và ngoài
nước.
Công ty phải cam kết với tập đoàn Huyndai Hàn Quốc là chỉ phân phối một mặt
hàng duy nhất là máy phát điện Huyndai để dành vị thế độc quyền về phân phối máy
phát điện Huyndai tại Việt Nam.
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty
Bộ máy tổ chức của công ty được tổ chức theo mô hình tổ chức chức năng.
Sơ đồ tổ chức:
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
Khối phòng tài chính: Chức năng của phòng là quản lý về tài chính, tổ chức kế
hoạch, soạn thảo các hợp đồng nhập khẩu các thiết bị, máy móc. Điều này đòi hỏi các
cán bộ của phòng phải có trình độ hiểu biết về các thiết bị, máy móc đó, đồng thời có
trình độ ngoại ngữ cao để có thể đáp ứng các nhu cầu soạn thảo các hợp đồng quốc tế.
Các cán bộ phòng phải tìm hiểu nguồn hàng từ nhiều vùng, khu vực khác nhau để có
thể mua hàng với giá cả và chất lượng hợp lý. Mặt khác, các cán bộ trong phòng cũng
phải am hiểu về nghiệp vụ ngoại thương và các vấn đề về thanh toán quốc tế.
Phòng dự án: có chức năng nghiên cứu, làm các dự án, điều đó đòi hỏi các cán
bộ của phòng phải am hiểu về lĩnh vực hoạt động của công ty một cách sâu sắc.
5
100%
67,74 %
24,19 %
8,07 %
Phân theo các phòng ban
- Phòng tài chính kế toán
- Phòng hành chính nhân sự
- Phòng kinh doanh
- Phòng dự án
- Phòng xuất nhập khẩu
- Showroom
- Trung tâm bảo hành
- Kho hàng
- Chi nhánh thành phố HCM
5
4
8
5
7
5
4
4
20
8,06 %
6,4 %
12,9 %
8,06 %
11,3 %
8,06 %
Bảng 3.2: Nguồn vốn của công ty
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Bộ môn: Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế GVHD: Lê Thị Việt Nga
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán các năm 2009,2010,2011 – Phòng kế toán tài chính)
Có thể thấy nguồn vốn của công ty tăng khá nhanh qua từng năm, điều này cho
thấy công ty đã có những bước tiến đáng kể trong những hoạt động của mình. Mặt
khác trong cơ cấu tổng nguồn vốn công ty thì vốn sở hữu chiếm một tỷ lệ ưu thế hơn
nợ phải trả, điều này tạo nên cho công ty một sự an toàn nhất định trong kinh doanh.
3.2 Khái quát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Thiết bị Công
nghệ Bình Minh
3.2.1 Khái quát chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Thiết
bị Công nghệ Bình Minh
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Vốn
( VNĐ )
Tỷ
trọng
(%)
Vốn
( VNĐ )
Tỷ
trọng
(%)
Vốn
( VNĐ )
Tỷ
trọng
(%)
Nợ phải trả 4.385.902.271 25,96 4.663.746.638 22,03 10.231.478.612 35,31
Chỉ tiêu Mã Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Doanh thu thuần bán hàng và
cung cấp dịch vụ
01 17.364.146.115 27.442.290.672 56.751.137.020
Giá vốn hàng bán 11 11.615.566.047 14.749.905.113 39.725.795.914
Lợi nhuận gộp (20=01-11) 20 5.748.580.068 12.692.385.559 17.025.341.106
Doanh thu hoạt động tài chính 21 - - -
Chi phí tài chính 22 31.513.707 6.788.667 22.206.163
Chi phí quản lý kinh doanh 24 4.680.631.989 11.894.499.098 16.078.412.000
Lợi nhuận từ hoạt động kinh
doanh (30=20+21-22-24)
30 1.036.434.372 791.097.794 924.722.943
Thu nhập khác 31 6.546.172 10.338.985 4.352.067
Chi phí khác 32 174.703 110.274.876 181.000.148
Lợi nhuận khác (40=31-32) 40 6.371.469 99.935.891 176.648.081
Tổng lợi nhuận trước
thuế(50=30+40)
50 1.042.805.841 691.161.903 748.074.862
Chi phí thuế TNDN hiện hành 51 182.491.022 200.359.190 187.018.715
Lợi nhuận sau thuế TNDN
(60=50-51)
60 860.314.819 490.802.713 561.056.146
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh-Phòng kế toán-Công ty CP ĐTK)
Nhìn vào bảng trên ta thấy, doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
của BMTE tăng lên rõ rệt qua các năm, điều này chứng tỏ công ty đã không ngừng mở
rộng thị trường tiêu thụ của mình. Song qua bảng số liệu trên ta cũng nhận thấy rằng,
tuy doanh thu thuần tăng khá nhanh nhưng lợi nhuận sau thuế của công ty lại có sự sụt
giảm đáng kể từ năm 2009 sang 2010. Sang đến năm 2011 tuy lợi nhuận có tăng lên
nhưng không đáng kể.
SV: Lê Thị Chinh Lớp: 44E3