1
I. TÊN ĐỀ TÀI
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO
CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 9
II. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay cần phải
có những con người có kiến thức, có trình độ, có khả năng tiếp cận với khoa học
kỹ thuật hiện đại. Muốn như vậy, ngay từ đầu các cấp học giáo viên cần phải
trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất, trang bị cho học sinh từ ý
thức học tập, năng lực tự học, tự trao dồi, tìm kiếm kiến thức mới. Trên cơ sở đó
học sinh có thể vận dụng linh hoạt những kiến thức đã được học vào cuộc sống
và lao động.
Với yêu cầu trên mỗi giáo viên ngoài việc truyền thụ kiến thức cho học
sinh, giáo viên còn phải hình thành cho học sinh năng lực hoạt động, năng lực tư
duy sáng tạo. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức, thu thập kiến thức. Từ đó
xử lí được các vấn đề đặt ra trong khoa học và đời sống một cách hợp lí.
Kiến thức và kỹ năng là một trong những yếu tố cấu thành năng lực của học
sinh. Nhưng với trình độ phát triển khoa học và kỹ thuật với điều kiện tiếp cận
thông tin như hiện nay, thì năng lực đạt được kiến thức và xử lý thông tin trở
nên vô cùng quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Việc phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh trong mỗi giờ học đã trở thành một trong những
nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy học.
Nhờ đặc điểm của môn Vật lí và mối liên hệ chặt chẽ những kiến thức Vật
lí với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà việc giảng dạy Vật lí ở trường tạo ra
rất nhiều khả năng để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh
trong quá trình dạy học.
Trong chương trình Vật lí THCS dạy học theo hướng tích cực không có
nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học hiện có và thay vào đó là các phương
pháp mới. Các phương pháp dạy học truyền thống, với nét đặc trưng cơ bản là
cung cấp những tri thức khoa học dưới dạng có sẵn đều có mặt tích cực của nó.
điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn, khuyến khích
đặt câu hỏi xây dựng bài học, mạnh dạn thảo luận xây dựng các phương án thực
hành trong hoạt động nhóm. Từ đó học sinh luôn có niềm đam mê với khoa học
nhiều hơn, đặc biệt luôn yêu thích môn học Vật lí.
3. Những thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 9/2 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi - Duy Nghĩa – Duy
Xuyên – Quảng Nam.
b) Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 đến tháng 3 năm học 2013 -2014.
c) Phạm vi nghiên cứu
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học môn
Vật lí lớp 9/2 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi – Duy Xuyên – Quảng Nam.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong giờ học môn Vật lí lớp 9/2 từ tháng 9
đến tháng 3 năm học 2013 – 2014.
III. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong giáo dục hoạt động cơ bản là dạy và học. Trong đó hoạt động dạy
học không chỉ đơn thuần là cung cấp cho học sinh kiến thức có sẵn và những
kinh nghiệm xã hội mà còn góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh theo mục tiêu đào tạo.
3
Mục tiêu của bài viết này là tôi muốn giúp cho học sinh từ những học sinh
có học lực trung bình, thậm chí học sinh yếu đều tích cực và ham học tập, biết
vận dụng phương pháp học tập có hiệu quả nhất đối với bản thân. Qua đó học
sinh nắm được vững vàng kiến thức Vật lí, rèn khả năng tư duy lô gíc và lý luận
thực tế. Hơn nữa rèn luyện tính năng động, sáng tạo, cách làm việc khoa học. Đó
là những phẩm chất của người ham nghiên cứu khoa học, ham học tập… phải
được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN
công việc học tập;
4
Đối với môn học Vật lí là môn khoa học thực nghiệm khó, cần phải đi từ
các thí nghiệm để phát hiện sự vật hiện tượng. Từ đó phân tích, rút ra nhận xét,
kết luận, hình thành kiến thức mới. Đặc biệt là nhiều kiến thức liên quan đến
những hiện tượng hàng ngày học sinh thường gặp, cũng như những kinh nghiệm
trong thực tiễn cuộc sống. Chính vì vậy, khi dạy những kiến thức mới giáo viên
cần phải hướng dẫn cho học sinh thực hiện tốt các hoạt động thí nghiệm thực
hành, để rút ra nhận xét, kết luận theo yêu cầu của bài học. Nếu không học sinh
thường có những suy nghĩ, phán đoán theo kiểu cảm tính về những hiện tượng
được nghiên cứu. Và điều này sẽ tạo nên những khó khăn trong việc hình thành
kiến thức mới cho học sinh;
Học sinh trong lớp không đồng đều, có sự chênh lệch về nhận thức rất rõ
rệt, đặc biệt nhận thức về môn học tự nhiên. Lý do là các em chưa biết phương
pháp học tập, rỗng kiến thức nên sinh ra chán học, không muốn đầu tư thời gian,
tâm huyết vào việc tìm tòi khám phá. Không chỉ vậy mà còn có một số học sinh
chưa yêu thích môn học. Điều đó thể hiện ở một số kết quả khảo sát đầu năm đối
với bộ môn Vật lí như sau:
Khảo sát chất lượng đầu năm học:
Năm
học
Lớp
Số
Yếu kém T. bình Khá giỏi TB
SL TL SL TL SL TL SL
TL
13 - 14 9/2 30 9 30% 11 36,7% 10 33,3% 21 70%
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ
học môn Vật lí. Tôi đã nghiên cứu, phân loại và áp dụng một số phương pháp
chức năng của từng bộ phận có trong dụng cụ thí nghiệm được sử dụng;
- Cho học sinh thảo luận về các bước của việc tiến hành thí nghiệm, những
yêu cầu cần quan sát hay đo đạt trong mỗi bước thí nghiệm. Phải chuẩn bị các
bảng ghi số liệu thu được từ kết quả thí nghiệm;
- Xử lí các kết quả thu được từ thí nghiệm, rút ra mối liên hệ giữa các quan
sát, giữa các số liệu, lập biểu đồ, đồ thị… Từ đó rút ra nhận xét, kết luận, hình
thành kiến thức mới.
b) Lưu ý: Với phương pháp này giáo viên cần phải chuẩn bị thật kĩ thí
nghiệm trước khi đưa vào dạy học, cần dự phòng trước các tình huống có thể
dẫn tới các thí nghiệm không thành công, từ đó tìm ra nguyên nhân khắc phục.
c) Ví dụ: Thí nghiệm để rút ra kết luận về từ tính của nam châm.
- Học sinh thảo luận, nêu được mục tiêu của thí nghiệm là khẳng định được
nam châm có tính chất từ;
- Giáo viên giới thiệu các dụng cụ thí nghiệm cho học sinh: Kim nam châm,
giá đặt kim, thanh nam châm, một số mảnh kim loại bằng sắt, nhôm, đồng;
- Học sinh thảo luận các bước tiến hành thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm
theo hướng dẫn của giáo viên;
- Từ kết quả thí nghiệm thu được: Nam châm có khả năng hút các vật bằng
sắt, thép; khi cân bằng kim nam châm luôn đứng tự do theo hướng Nam – Bắc.
Từ những kết quả thu được từ thí nghiệm học sinh rút ra kết luận là nam châm
có tính chất từ.
2. Phương pháp dạy học thực nghiệm Vật lí
6
Phương pháp thực nghiệm là một phương pháp nhận thức khoa học, được
thực nghiệm khi nghiên cứu tìm tòi xây dựng phương án và tiến hành thí nghiệm
kiểm tra. Dựa trên kết quả thí nghiệm để xác lập giả thiết hoặc kiểm tra một giả
thiết nào đó.
a) Tiến trình hoạt động
- Tổ chức cho học sinh tìm hiểu các hiện tượng Vật lí mà tại thời điểm đó
học sinh không thể giải thích được bằng các kiến thức đã có;
- Cuối cùng giáo viên cho học sinh tổ chức tiến hành thí nghiệm kiểm tra để
khẳng định sự phụ thuộc của điện trở vào chiều dài dây dẫn là đúng.
7
3. Phương pháp dạy học theo nhóm
Dạy học theo nhóm là một hoạt động học tập có sự phân chia học sinh theo
từng nhóm nhỏ với đủ thành phần khác nhau về trình độ, cùng trao đổi ý tưởng,
một nguồn kiến thức dựa trên cơ sở là hoạt động tích cực của từng cá nhân.
Từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập của mình
mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của bạn bè trong nhóm.
a) Tiến trình hoạt động
- Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm. Giai đoạn này được thực hiện cho cả lớp,
bao gồm những hoạt động:
+ Giới thiệu chủ đề chung, nhiệm vụ chung, những chỉ dẫn cần thiết thông
qua thuyết trình, đàm thoại hay làm mẫu;
+ Xác định nhiệm vụ của các nhóm;
+ Tổ chức phân chia các nhóm và bố trí địa điểm làm việc cho từng nhóm.
- Làm việc theo nhóm. Các nhóm tự thực hiện nhiệm vụ được giao, nhóm
trưởng tiến hành phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm, thảo luận
kế hoạch và các bước tiến hành làm việc. Từ đó tiến hành thực hiện và chuẩn bị
báo cáo kết quả trước lớp;
- Trình bày kết quả làm việc của mỗi nhóm và đánh giá kết quả. Đại diện
mỗi nhóm tiến hành trình bày kết quả làm việc của nhóm mình trước lớp. Kết
quả trình bày được cả lớp đánh giá và rút kinh nghiệm, từ đó rút ra kết luận cho
việc học tập tiếp theo.
b) Lưu ý: Để thực hiện tốt phương pháp giảng dạy theo nhóm, mỗi giáo
viên phải có năng lực lập kế hoạch và năng lực tổ chức hoạt động nhóm. Với
học sinh phải được định hướng làm việc thường xuyên, luôn nêu cao ý thức xây
dựng hoạt động nhóm. Giáo viên phải nhận xét chính xác về hoạt động tích cực
của từng nhóm và các thành viên trong nhóm để phát huy được vai trò của các
thành viên học tập trong nhóm.
hợp lí, giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện được những dấu hiệu chung, bản
chất của hiện tượng Vật lí;
- Giáo viên cho học sinh kiểm tra kết luận thông qua các quan sát và thí
nghiệm khác;
- Diễn đạt kết luận thu được bằng những thật ngữ Vật lí thành các khái
niệm, hiện tượng được nghiên cứu.
b) Lưu ý: Trong phương pháp dạy học một hiện tượng Vật lí thì khái niệm
về hiện tượng Vật lí mới chỉ đề cập tới mặt định tính của hiện tượng Vật lí.
c) Ví dụ: Dạy học hiện tượng khúc xạ ánh sáng
- Giáo viên nêu giả thuyết và tiến hành thí nghiệm cho học sinh quan sát
một hiện tượng Vật lí. Tại sao khi bỏ chiếc đũa vào tô nước ta nhìn thấy chiếc
đũa bị gãy khúc?
- Những câu hỏi liên quan giáo viên yêu cầu học sinh trả lời:
+ Phát biểu định luật truyền thẳng ánh sáng?
+ Có thể nhận biết được đường truyền của tia sáng bằng những cách nào?
- Sau khi học sinh quan sát hiện tượng giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các
câu hỏi sau:
+ Ánh sáng truyền trong không khí và trong nước đã tuân theo định luật
nào?
+ Hiện tượng ánh sáng truyền từ không khí sang nước có tuân theo định
luật truyền thẳng của ánh sáng hay không? + Khi tia sáng truyền từ không khí
sang nước có đặc điểm gì?
9
- Giáo viên yêu cầu học sinh phát biểu hiện tượng khúc xạ ánh sáng.
5. Phương pháp dạy học một đại lượng Vật lí
Đại lượng Vật lí là các thể hiện về mặt định lượng bản chất Vật lí có thể đo
lường được của một vật thể hay hiện tượng tự nhiên, như khối lượng, trọng
lượng, thể tích, vận tốc, lực Khi đo đạc một đại lượng, giá trị đo được là một
con số theo sau bởi một đơn vị đo.
a) Tiến trình hoạt động
định tính của nó về sau mới được làm sáng tỏ thì trong định nghĩa đại lượng Vật
lí, ta chỉ nêu đặc điểm định lượng của nó.
- Xác định đơn vị đo đại lượng Vật lí;
10
Ngoài các đơn vị cơ bản, mọi đơn vị đo đều được xác định dựa trên biểu
thức định nghĩa của đại lượng. Sau khi xác định được đơn vị đo phải chú thích
được đơn vị đo dưới dạng các kí hiệu.
- Vận dụng đại lượng Vật lí;
Trong giai đoạn này, học sinh vận dụng các kiến thức vừa học để giải thích
những sự vật hiện tượng cụ thể trong đời sống hằng ngày, dự đoán những dấu
hiệu, hiện tượng có thể cảm nhận được trong thực tiễn bằng giác quan, có thể đo
lường cụ thể và giải các bài tập tính toán.
b) Lưu ý: Mỗi đại lượng Vật lí có thể có một hoặc nhiều đơn vị đo khác
nhau, nhiều kí hiệu giữa các đại lượng có thể trùng nhau. Đơn vị đo của đại
lượng Vật lí này có mối liên hệ chặt chẽ với biểu thức đã lập cho đại lượng Vật
lí mới. Vì vậy giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh cách chuyển đổi về một
đơn vị chuẩn và một kí hiệu đặc trưng được bản chất của đại lượng Vật lí mới.
c) Ví dụ: Hình thành kiến thức về một đại lượng Vật lí mới “Điện trở suất”.
- Giáo viên cho học sinh tiến hành thí nghiệm mắc sơ đồ mạch điện với ba
dây dẫn có cùng chiều dài, cùng tiết diện nhưng được làm bằng ba vật liệu khác
nhau (đồng, sắt và constantan). Xác định điện trở của ba dây dẫn có cùng chiều
dài, cùng tiết diện nhưng được làm từ các vật liệu khác nhau;
- Qua thí nghiệm trên học sinh rút ra được kết luận: Điện trở của dây dẫn
phụ thuộc vào vật liệu làm dây dẫn;
- Sự phụ thuộc của điện trở vào vật liệu làm dây dẫn được đặc trưng bằng
đại lượng nào? Đại lượng đó được phát biểu như thế nào? (Học sinh trả lời cá
nhân);
- Điện trở suất được kí hiệu như thế nào? Đơn vị đo của nó là gì? Cho biết
điện trở suất của đồng là 1,7.10
-8
- Phát biểu định luật, viết công thức biểu thị mối quan hệ giữa các đại
lượng, chú thích các đơn vị, kí hiệu các đại lượng trong công thức;
- Áp dụng định luật cho một số bài toán cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp.
b) Lưu ý: Giáo viên nên tìm cách giúp đỡ học sinh trong quá trình tổng hợp,
khái quát hoá, suy luận quy nạp cũng như suy luận toán học trong thí nghiệm.
Giáo viên cần đầu tư suy nghĩ các giải pháp sư phạm phù hợp với từng nhóm đối
tượng học sinh.
c) Ví dụ: Xây dựng hệ thức định Ôm trong bài “Điện trở của dây dẫn –
Định luật Ôm”.
- Trước hết cho học sinh ôn lại kiến thức về sự phụ thuộc của cường độ
dòng điện vào hiệu điện thế giữa hai đầu dây dẫn;
- Xác định thương số
I
U
đối với hai dây dẫn khác nhau;
- Cho học sinh tìm hiểu đại lượng Vật lí mới, đó là điện trở của dây dẫn.
Điện trở dây dẫn biểu thị mức độ cản trở dòng điện nhiều hay ít của dây dẫn;
- Cho học sinh tìm hiểu mối quan hệ giữa cường độ dòng điện I, hiệu điện
thế U và điện trở R của dây dẫn. Từ đó xây dựng được hệ thức của định luật Ôm
I =
R
U
;
- Từ hệ thức của định luật, yêu cầu học sinh phát biểu thành định luật và
chú thích các đại lượng, đơn vị đo có trong hệ thức của định Ôm;
- Cho học sinh làm bài tập vận dụng ở câu C
3
; C
4
trang 8 sách giáo khoa để
cũng như đáp số của bài tập đó.
b) Lưu ý: Không nên dạy tiết bài tập trong đó không có sự trao đổi thảo
luận của các học sinh trong quá trình giải mỗi bài tập, từng học sinh loay hoay
giải bài tập, sau đó giáo viên trình bày lời giải của mình trên bảng cho học sinh
ghi lại. Cách dạy như thế rất tẻ nhạt, nhàm chán đối với các đối tượng học sinh
vì không có tác dụng giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các kiến thức và kỹ năng
cần vận dụng, không giúp học sinh phát triển khả năng tự lực, tích cực và sáng
tạo trong việc giải quyết các tình huống mà bài tập đề ra.
Các phương pháp dạy học trình bày ở trên nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động sáng tạo của học sinh đã được vận dụng trong năm học 2013 - 2014 đối
với học sinh lớp 9/2 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi trong giờ học môn Vật lí.
Dưới đây là một giáo án cụ thể được áp dụng một trong các phương pháp trên
trong năm học 2013 – 2014. (Giáo án được trình bày cụ thể tại phần Phụ lục).
VI. KẾT QUẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Việc áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy trong năm học 2013 – 2014 đối
với 30 học sinh lớp 9/2 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi đã đạt được một số kết
quả nhất định như sau:
13
1. Đối với giáo viên
- Vận dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực, phát huy được tính chủ
động sáng tạo của học sinh trong các giờ dạy;
- Với sáng kiến này đã định hướng được cho tất cả các đối tượng học sinh
một phương pháp học tập có hiệu quả nhất.
2. Đối với học sinh
- Đa số học sinh nắm được các kiến thức cơ bản của chương trình, biết cách
tiến hành các thí nghiệm có trong chương trình, kỹ năng thực hành thành thạo;
- Phần lớn học sinh tích cực tư duy trong các giờ học, yêu thích môn Vật lí,
thích khám phá cái mới và say mê với việc học tập;
- Mỗi học sinh có được một phương pháp học tập phù hợp cho bản thân đối
với từng nội dung bài học.
14
luôn có niềm đam mê ham thích được nghiên cứu khoa học, thích khám phá
những cái mới mà thường ngày các em chỉ mới thấy được vấn đề chứ chưa thể
giải thích được hiện tượng đó. Trong giờ học lý thuyết, học sinh luôn tích cực
thảo luận phát biểu xây dựng bài sôi nổi. Trong các giờ học thực hành thì trình
tự các bước tiến hành lắp ráp dụng cụ; thí nghiệm thực hành; ghi chép số liệu;
phân tích kết quả; nhận xét và rút ra kết luận đều được đa số học sinh tiến hành
rất thành thạo. Các giờ giải bài tập vận dụng, học sinh vận dụng tốt các kiến
thức đã được học, giải hầu hết các bài tập trong sách bài tập và sách tham khảo.
Nhìn chung đa số học sinh luôn đam mê, hứng thú với môn học Vật lí. Kết
quả học tập trong học kì I vừa qua 100% học sinh có điểm trung bình môn đạt
điểm trung bình trở lên, không có học sinh yếu, kém. Kết quả khảo sát chất
lượng tăng lên rõ rệch so với khi chưa áp dụng đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu và áp dụng sáng kiến này tôi rút ra được một số
bài học kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy như sau:
- Về phương pháp giảng dạy lý thuyết:
+ Giáo viên phải nắm vững chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí ở
THCS;
+ Giáo viên phải có kĩ năng xác định mục tiêu dạy học đã lượng hoá của
từng bài, từng đơn vị kiến thức;
+ Có kĩ năng tổ chức cho học sinh hoạt động chiếm lĩnh kiến thức. Để làm
tốt công việc này mỗi giáo viên cần tổ chức tốt tình huống học tập, từ đó thu
thập thông tin, xử lí thông tin, thông báo kết quả làm việc, vận dụng, ghi nhớ
kiến thức. Các câu hỏi cần phân loại để phù hợp với từng đối tượng học sinh:
Câu hỏi biết, câu hỏi hiểu, câu hỏi vận dụng, câu hỏi phân tích, câu hỏi tổng
hợp, câu hỏi đánh giá.
- Phương pháp giảng dạy thực hành:
+ Khi làm thí nghiệm cả giáo viên và học sinh cần phải nắm được mục đích
của thí nghiệm;
+ Nắm chắc các bước tiến hành thí nghiệm. Thao tác thí nghiệm cẩn thận,
Cần quan tâm giúp đỡ những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, tạo
điều tốt nhất để học sinh được yên tâm đến trường;
Tổ chức Đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội khác cần tổ chức các hoạt
động ngoại khoá, các buổi nói chuyện chuyên đề nhằm giáo dục lý tưởng cách
mạng, đạo đức lối sống để học sinh luôn có tinh thần, thái độ say mê hứng thú
trong học tập.
3. Đối với gia đình học sinh
Cần tạo điều kiện tốt nhất để học sinh có đủ thời gian nghiên cứu và chuẩn
bị bài trước khi đến lớp;
Thường xuyên quan tâm động viên việc học tập của học sinh, gia đình đóng
vai trò quan trọng trong việc uốn nắn kịp thời những lệch lạc trong suy nghĩ của
học sinh do sự tác động của môi trường sống và những thay đổi của tâm sinh lí.
Duy Nghĩa, tháng 03 năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Phi Hùng
IX. PHỤ LỤC
16
Bài 16: ĐỊNH LUẬT JUN – LEN - XƠ
(Đây là bài nghiên cứu định luật Vật lí và dạy học theo hoạt động nhóm)
Tuần: 8
Tiết: 16
ĐỊNH LUẬT JUN – LEN-XƠ
N.Soạn: 08/10/13
N.Giảng:12/10/13
I. Mục tiêu
1. Kiến thức
Nêu được tác dụng nhiệt của dòng điện: Khi có dòng điện chạy qua vật dẫn
thông thường thì một phần hay toàn bộ điện năng được biến đổi thành nhiệt
năng.
Phát biểu, viết được hệ thức của định luật Jun- Len-xơ và vận dụng được định
biến đổi thành nhiệt năng
17
- HS cá nhân nêu tên các dụng cụ điện.
- GV cho HS quan sát tranh vẽ các dụng cụ
điện như: bóng đèn dây tóc, bóng đèn compac,
đèn Led, nồi cơm điện, bàn là, ấm điện, máy
sấy tóc, máy quạt, máy bơm nước, máy khoan
điện
- GV đặt câu hỏi: Trong số các dụng cụ điện
trên dụng cụ nào biến đổi điện năng đồng thời
thành nhiệt năng và năng lượng ánh sáng?
Đồng thời thành nhiệt năng và cơ năng?
- HS mỗi cá nhân nêu đúng một dụng cụ theo
yêu cầu câu hỏi.
- GV tiếp tục nêu câu hỏi: Dụng cụ nào biến
đổi toàn bộ điện năng thành nhiệt năng?
- HS cá nhân học sinh trả lời theo yêu cầu.
GV trong cấu tạo các dụng cụ điện năng biến
đổi hoàn toàn thành nhiệt năng thì bộ phận nào
quan trọng nhất? Chúng được làm bằng những
vật liệu gì? So sánh điện trở suất của các vật
liệu đó với dây dẫn bằng đồng?
- HS thảo luận nhóm đại diện nhóm trả lời.
- GV vậy vì sao dây đốt nóng của nồi cơm điện
thường làm bằng vật liệu có điện trở suất lớn?
Chúng ta tiếp tục nghiên cứu phần tiếp theo để
giải thích câu hỏi trên.
1. Một phần điện năng được
biến đổi thành nhiệt năng.
a) Bóng đèn dây tóc, bóng đèn
.R.t
- GV treo hình vẽ 16.1 yêu cầu HS đọc kỹ mô
tả thí nghiệm xác định điện năng sử dụng và
nhiệt lượng toả ra.
- HS đọc phần II.2 “Xử lí kết quả của thí
nghiệm kiểm tra”
- GV yêu cầu HS thảo luận nhóm để trả lời câu
hỏi C1,C2,C3.
- HS thảo luận nhóm hoàn thành hoàn thành
câu C1, C2, C3 vào bảng nhóm.
- GV nhận xét phần thảo luận nhóm của HS
- GV do có một phần nhỏ nhiệt lượng truyền ra
môi trường bên ngoài, nếu bỏ qua phần nhiệt
lượng tỏa ra môi trường bên ngoài thì Q = A.
Như vậy hệ thức định luật Jun - Len –Xơ mà
đã suy luận ở phần 1 đã khẳng định đúng kết
quả thí nghiệm, kiểm tra.
- GV hãy dựa vào hệ thức trên phát biểu thành
định luật? Chú thích các đại lượng trong công
thức.
- HS phát biểu định luật Jun - Len –Xơ.
- GV giới thiệu định luật trên được nhà Vật lí
học người Anh J.P.Jun và nhà vật lí người Nga
H.Len-xơ độc lập tìm ra bằng thực nghiệm nên
định luật này mang tên của hai ông.
- GV ngoài đơn vị Jun còn sử dụng đơn vị gì
để đo nhiệt lượng? Khi đó hệ thức được viết
như thế nào?
- HS cá nhân học sinh suy nghĩ trả lời.
* Kiến thức môi trường:
= 7980J
Nhiệt lượng do ấm nhôm thu
vào:
Q
2
= C
2
m
2
∆
t = 880.0,078.9,5
= 652,08J
Nhiệt lượng do nước và ấm
nhận được là:
Q = Q
1
+ Q
2
= 7980 + 652,08
= 8632,08J.
C
3
: Nếu bỏ qua phần nhỏ nhiệt
lượng truyền ra môi trường
xung quanh thì Q
≈
A.
3. Phát biểu định luật (SGK)
Hệ thức của định luật
+ Viết công thức tính nhiệt lượng cần cung cấp
để đun sôi lượng nước đã cho theo khối lượng,
nhiệt dung riêng và độ tăng nhiệt độ.
+ Công thức tính điện năng tiêu thụ trong thời
gian t để tỏa ra nhiệt lượng cần cung cấp trên
đây.
+ Từ đó áp dụng định luật bảo toàn và chuyển
hóa năng lượng tính thời gian t cần dùng để
đun sôi nước.
III. Vận dụng
C
4
: Dây nối bóng đèn bằng
đồng có R bé nên Q nhỏ
→
nhiệt lượng tỏa ra ít.
Dây tóc đèn được làm bằng
hợp kim có R lớn nên Q lớn
→
nhiệt lượng tỏa ra lớn
→
dây
tóc nóng và phát sáng.
C
5
: Theo định luật bảo toàn và
chuyển hóa năng lượng.
Q = m.c.t = P.t
Bồi dưỡng Vật lí 9 NXB
Đà Nẵng
2005
5
Phan Hoàng Văn
(Chủ biên)
500 Bài tập Vật lí THCS Đại học
Quốc gia TP.
HCM
2007
6
Nguyễn Đức Thâm
(Chủ biên)
Phương pháp dạy học
Vật lí ở trường phổ
thông
Đại học
Sư phạm -
Hà Nội
2004
XI. MỤC LỤC
21
STT Tiêu đề từng phần của mục lục Trang
1 I. TÊN ĐỀ TÀI 1
2
II. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
2. Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
3. Những thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên
cứu
11
6 VI. KẾT QUẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 12
7 VII. KẾT LUẬN 13
8
VIII. NHỮNG ĐỀ NGHỊ, ĐỀ XUẤT
1. Đối với nhà trường và GV giảng dạy
2. Đối với địa phương
3. Đối với gia đình HS
15
15
15
15
9 IX. PHỤ LỤC 16
9 X. TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
10 XI. MỤC LỤC 21