MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Doanh nghiệp xã hội: DNXH
Doanh nhân xã hội :DNhXH
Người khuyết tật: NKT
Khuyết tật trí tuệ: KTTT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG BIỂU
Bảng 1: Đặc tính đôi của doanh nghiệp xã hội.Error: Reference source
not found
Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá một doanh nghiệp xã hội 9
HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với mức tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng trong những năm gần
đây, sự gia tăng các vấn đề xã hội và môi trường tại Việt Nam cũng trở thành
mối lo ngại lớn: khoảng 15 triệu người sống dưới mức nghèo đói, hơn 180
nghìn người nhiễm HIV, 5 triệu người khuyết tật, 3 triệu trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn… Bên cạnh đó là sự khiếm khuyết trong hoạt động thị
trường, sự hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ công của nhà nước và sự
hạn chế về nguồn lực tài chính bền vững cũng như nhân sự điều hành chuyên
nghiệp của các tổ chức xã hội truyền thống. Trong bối cảnh ấy, Doanh
nghiệp xã hội là một lời giải phù hợp cho bài toán khó về giải quyết những
vấn đề xã hội, môi trường hướng tới sự phát triển ổn định và bền vững. Có
thể nói Doanh nghiệp xã hội chứa đựng sự linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với
cộng đồng, mang đến sự đa dạng nguồn vốn, khả năng độc lập về doanh thu,
đáp ứng nhu cầu của xã hội về kinh doanh có đạo đức và quan trọng hơn là
cung cấp những dịch vụ, hoạt động cần thiết cho xã hội nhưng ít người dám
làm. Không những đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã
hội nó còn giúp giải quyết nhiều vấn đề xã hội, môi trường, góp phần hướng
tới sự phát triển ổn định và bền vững. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay loại hình
chung của cộng đồng hoặc xã hội.
Doanh nghiệp xã hội không phải là một thực thể, mà chỉ một cách tiếp
cận mới. Nó có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào hệ
thống pháp luật hiện hành, môi trường kinh tế chính trị và hệ thống phúc lợi
tại từng địa phương, cũng như truyền thống và văn hóa của khối phi lợi
nhuận…Khái niệm doanh nghiệp xã hội không để thay thế khái niệm về khối
phi lợi nhuận hay khối kinh tế xã hội. Nó là cầu nối giữa 2 khối này:
Tập trung vào phát huy động lực doanh nhân (entrepreneurial dynamics)
của các sáng kiến xã hội
2
Đưa mục tiêu xã hội và môi trường vào hệ giá trị cốt lõi và vào sứ mệnh
của doanh nghiệp
Hình 1: Doanh nghiệp xã hội- Cầu nối giữa khối phi lợi nhuận và
khối kinh tế xã hội
Cũng giống như các doanh nghiệp – thuộc khu vực thứ hai, họ xây dựng
các tổ chức, doanh nghiệp để sản xuất các sản phẩm hay dịch vụ vì lợi nhuận,
các doanh nghiệp xã hội cũng được tạo lập để hiện thực hóa các ý tưởng, tạo
ra những sản phẩm hay dịch vụ nhằm giải quyết các vấn đề xã hội hay môi
trường. Hiện tại không có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp xã hội mà
khái niệm này tùy thuộc vào điều kiện ở từng địa phương và tùy vào từng góc
độ nhìn nhận về doanh nghiệp xã hội. Tuy vậy, vẫn có một số cách hiểu phổ
biến nhất hiện nay về doanh nghiệp xã hội bao gồm:
“Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp lấy lợi ích xã hội làm mục đích
chính. Giá trị thặng dư tạo ra được chủ yếu để tái đầu tư và thực hiện các
mục tiêu xã hội hoặc môi trường, thay vì để tối đa hóa lợi nhuận của các cổ
đông và chủ sở hữu của doanh nghiệp”
(Bộ Kinh doanh, Doanh nghiệp và Cải cách Thể chế Anh)
Hay:
“Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức thành lập theo nhiều mô hình
khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh
lợi nhuận về tài chính mà cả về mặt xã hội cho đối tượng phục vụ của họ.”
Liên minh Doanh nghiệp Xã hội ở Malaysia -The Malaysian Social
Enterprise Alliance (SEA)
Theo quan điểm của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng
(CSIP), định nghĩa dưới đây có thể coi là hoàn chỉnh và bao quát nhất và phù
hợp nhất :
Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của
các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục
đích và điều kiện hoạt động cụ thể. Doanh nghiệp xã hội lấy lợi ích xã hội
làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt
được cả mục tiêu xã hội/môi trường và mục tiêu kinh tế.
Những phân tích và ví dụ dưới đây sẽ giúp làm rõ hơn về khái niệm
doanh nghiệp xã hội:
Doanh nghiệp xã hội là các hoạt động kinh doanh để giải quyết các vấn
đề xã hội. Lợi nhuận chủ yếu để phục vụ cộng đồng, không tối đa hóa cho chủ
đầu tư. VD: Opendream (Thái Lan), Grameen Bank (Bangladesh), LifeArt
(Vietnam)
4
Hình 2: Doanh nghiệp xã hội
Doanh nghiệp xã hội chỉ các hoạt động mà doanh nhân xã hội thực hiện
để đạt mục tiêu xã hội và/hay môi trường nhất định. Do đó, doanh nghiệp xã
hội có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như tổ chức xã hội phi lợi nhuận,
doanh nghiệp hay tổ chức hỗn hợp.
Hình 3: Các hình thức tồn tại của Doanh nghiệp xã hội
Theo nghĩa rộng hơn, doanh nghiệp xã hội bao gồm cả các tổ chức phi
lợi nhuận đã phát huy yếu tố doanh nhân và có định hướng thị trường, và
doanh nghiệp có định hướng xã hội rõ ràng.
Hình 4: Các hình thức tồn tại của Doanh nghiệp xã hội( Theo nghĩa rộng)
Ví dụ Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam:
CECEM Tủ sách dòng
làm thể làm việc trong doanh nghiệp, cơ quan thuộc chính phủ hoặc công cộng, tổ
chức phi chính phủ bán độc lập hoặc làm việc tình nguyện cho cộng đồng.
(Theo trường đào tạo Doanh nghiệp xã hội, Vương quốc Anh)
Hay một định nghĩa khác:
Doanh nhân xã hội là những người sử dụng các kỹ năng, phẩm chất
như một doanh nhân để tìm kiếm các giải pháp có định hướng thị trường
nhằm giải quyết tận gốc rễ các vấn đề xã hội và môi trường cấp bách như
quyền trẻ em, HIV/ AIDS, biến đổi khí hậu, quyền của người khuyết tật.vv.vv
(Theo Skoll centre Social entrepreneurship, 2010)
Còn với Việt Nam doanh nghiệp xã hội cũng như doanh nhân xã hội là
một khái niệm khá mới mẻ. Nhưng thực tế nó đã xuất hiện từ khá lâu rồi. Đó
là người sử dụng những phẩm chất kỹ năng như các doanh nhân để trực
tiếp xây dưng các tổ chức/doanh nghiệp xã hội nhằm giải quyết một vấn đề
xã hội hay môi trường cụ thể. Khác với doanh nhân kinh tế, doanh nhân
xã hội đánh giá thành công của mình không phải thông qua lợi nhuận mà
bằng những tiến bộ xã hội mà họ đóng góp cho cộng đồng. Doanh nhân xã
hội có thể là doanh nhân, nhân viên xã hội, nhà hoạt động từ thiện điều
đó tùy thuộc mô hình hoạt động của họ. Tuy nhiên, doanh nhân xã hội
khác với những người hoạt động xã hội, từ thiện kiểu truyền thống ở chỗ
họ sở hữu những phẩm chất, kỹ năng như một doanh nhân thực thụ. Họ
nhạy bén trong việc phát hiện, sử dụng các nguồn lực tiềm năng, đam mê,
khát vọng tạo ra sự thay đổi, trực tiếp tạo lập, điều hành các tổ chức/
doanh nghiệp, dám chấp nhận thách thức. Đặc biệt doanh nhân xã hội là
người có đầu óc sáng tạo khi luôn đưa ra cách thức mới, sản phẩm mới để
giải quyết vấn đề, Họ không ngừng mở rộng hoạt động để mang lại những
thay đổi cho cộng đồng.
6
1.2. Bản chất của doanh nghiệp xã hội và doanh nhân xã hội
Doanh nghiệp xã hội (có lợi nhuận và không có lợi nhuận) giống với các
doanh nghiệp khác vì đều tổ chức và quản lý dưới hình thức doanh nghiệp.
nghiệp xã hội) và "Làm từ thiện TRONG KHI làm kinh doanh" (cho doanh
nghiệp có hoạt động từ thiện nhưng không là doanh nghiệp xã hội).
Doanh nghiệp xã hội mang đặc tính đôi, đó là đặc tính của doanh nghiệp
và đặc tính xã hội. Điều đó được thể hiện cụ thể dưới bảng sau:
Bảng 1: Đặc tính đôi của doanh nghiệp xã hội
Đặc tính doanh nghiệp Đặc tính xã hội
Có hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc
dịch vụ liên tục theo định hướng thị
trường
Được khởi tạo bởi nhóm công dân
Mức độ tự chủ, sáng tạo cáo
Quyền ra quyết định không phụ thuộc
vào sở hữu tài chính. Hướng tới mục
tiêu xã hội. Tối ưu nhưng không tối đa
hóa lợi nhuận
Chấp nhận mức độ rủi ro kinh tế
Có sự tham gia của đối tượng có ảnh
hưởng trực tiếp từ hoạt động của doanh
nghiệp.
Hạn chế số lượng lao động trả lương
hành chính
Hạn chế việc phân phối lợi nhuận cho
người sở hữu tài chính.
Lợi nhuận dùng để tái đầu tư cho các
mục tiêu xã hội
Đánh giá về hiệu quả tác động rõ ràng
Mục tiêu mang lại lợi ích cho cộng
đồng được thể hiện rõ và nhất quán
Có câu hỏi đặt ra là liệu những người hoạt động từ thiện, các nhà hoạt
động xã hội có phải là doanh nhân xã hội không? Thực tế, một số người trong
Sản phẩm, dịch vụ (i) Hướng tới giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường cụ thể mà
chưa được đáp ứng hoặc chưa được đáp ứng hiệu quả.
(ii) Cung cấp các dịch vụ công.
(iii) Phát triển kinh tế địa phương và tạo việc làm cho nhóm lề hóa.
Quản trị Theo cơ chế thành viên hay cơ chế đại diện cho các bên liên
quan khác nhau.
Nguồn lực tài chính Đa dạng hóa nguồn lực ( từ hoạt động dịch vụ thị trường, từ
nguồn tài trợ, từ nguồn trao đổi).
+ Mục tiêu tổ chức : Doanh nghiệp xã hội hoạt động tạo ra lợi nhuận và
9
sử dụng chính khoản lợi nhuận thu được đó để tái đầu tư và thực hiện các mục
tiêu xã hội hoặc môi trường, trong đó mục tiêu xã hội được đặt lên hàng đầu.
Một doanh nghiệp xã hội hoạt động có hiệu quả là một doanh nghiệp thực
hiện đúng các mục tiêu mà đã đưa ra, giải quyết được các vấn đề xã hội, môi
trường, mang lại lợi ích cho cộng đồng.
+ Sản phẩm, dịch vụ:
- Hướng tới giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường cụ thể mà chưa
được đáp ứng hoặc chưa được đáp ứng hiệu quả. Đó là những vấn đề chưa
được nhà nước quan tâm tới hoặc giải quyết nhưng chưa triệt để.
- Cung cấp các dịch vụ công : Là các hoạt động phục vụ các lợi ích
chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân nhằm
thực hiện mục tiêu hiệu quả và công bằng.
- Phát triển kinh tế địa phương là tạo việc làm cho nhóm lề hóa: Các
doanh nghiệp xã hội hoạt động nhằm tạo ra điều kiện tốt hơn cho quá trình
tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người dân nhằm nâng cao
chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Trong số đó, một số doanh nghiệp xã
hội đã hướng vào nguồn lao động khá đặc biệt, đó là nhóm người bị lề hóa,
tạo điều kiện cho họ có công ăn việc làm và tái hòa nhập với cộng đồng.
+ Quản trị: Được xác định bởi sự lãnh đạo hiệu quả của các doanh nhân
xã hội giúp thực hiện tốt các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đưa ra.
tài trợ mới nhằm vượt qua thời kỳ suy thoái và duy trì các chương trình của
mình để có thể cung cấp dịch vụ và mang lại cơ hội cho nhưng người có hoàn
cảnh khó khăn, còn các doanh nghiệp xã hội sử dụng phương pháp tiếp cận
kinh doanh và thường nỗ lực để đảm bảo cả ba nội dung chủ chốt : tài chính,
đáp ứng tiêu chuẩn của một khu vực tư nhân và xã hội. Doanh nghiệp xã hội
khuyến khích sự thay đổi tích cực và tái hòa nhập xã hội. Doanh nghiệp xã
hội hỗ trợ các tổ chức dân sự xã hội, nâng cao khả năng kinh tế cho những
người có hoàn cảnh khó khăn và phát triển kinh tế. Doanh nghiệp xã hội cho
phép các cộng đồng tự chịu trách nhiệm về mình.
Các doanh nghiệp xã hội có thể cải thiện kinh tế cho cộng đồng, tạo việc
11
làm và giải quyết các vấn đề xã hội. Các doanh nghiệp xã hội tiến hành phản
biện và hỗ trợ chính phủ cái thiện cách thức thiết kế và cung cấp dịch vụ công
+ Lợi ích cho môi trường :
Khắc phục vấn nạn ô nhiễm môi trường, xử lỹ chất thải, biến chúng
thành các sản phẩm tái sử dụng có ích, các doanh nghiệp xã hội đã góp phần
giải quyết một số vấn đề chưa được nhà nước đầu tư. Từ những chất thải gây
ô nhiễm môi trường, các doanh nghiệp xã hội đã sản xuất ra các sản phẩm
phục vụ cho nhân dân, tạo doanh thu, việc làm. Hầu hết các doanh nghiệp xã
hội đều quan tâm đặc biệt tới môi trường, và không vì lợi ích trước mắt mà bỏ
qua ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, tới con người.
Như vậy, các doanh nghiệp xã hội có vai trò rất quan trọng đối với việc
kinh doanh trong tương lai. Bằng cách mang lại kinh tế cho những người khó
khăn, hoặc bằng cách cải thiện môi trường hoặc xã hội, các doanh nghiệp xã
hội đang nâng cao sự thịnh vượng và công bằng xã hội cùng một lúc( theo
(Gordon Brown)The United Kingdom’s international organisation for
cultural relations and educational opportunities).
Doanh nghiệp xã hội và doanh nhân xã hội có tầm quan trọng rất lớn cho
một xã hội đang phát triển như bây giờ vì nó phát triển theo xu hướng ổn định và
bền vững. Họ sẽ áp dụng những mô hình kinh doanh bền vững nhưng xuất phát
- Tăng cường quyền năng của qua hoạt động xây dựng lớp người tiêu
dùng thông thái có trách nhiệm.
- Hỗ trợ khu vực tình nguyện tăng cường tính bền vững qua nỗ lực tạo ra một
phương hướng mới để tăng cường tính độc lập thông qua hoạt động doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp xã hội Anh hoạt động dưới những hình thức nào?
13
Các mô hình hợp tác truyền thống ở Tây Ban Nha, Italia và Phần Lan:
Các hợp tác xã công nghiệp và nông nghiệp.
Tại Italia : Có hơn 15,000 doanh nghiệp xã hội hoạt động, tạo việc làm
cho rất nhiều công nhân.
Doanh nghiệp xã hội tại Pháp: giúp những người thất nghiệp dài hạn
hoặc bị cô lập về mặt xã hội trở lại làm việc.
1.6.2 Doanh nghiệp xã hội ở Châu Á
Hồng Kông :
- Tập trung vào hỗ trợ hòa nhập và đào tạo cho người thất nghiệp.
- Nhu cầu xây dựng Doanh nghiệp xã hội từ cấp cơ sở lên.
- Trung tâm tạo nguồn Doanh nghiệp xã hội Hồng Kông: hỗ trợ và đào tạo.
Thái Lan:
- Chính phủ thành lập Văn phòng Phát triển Doanh nghiệp xã hội Thái
Lan (có văn phòng, ngân sách riêng).
- Chiến lược hỗ trợ: nâng cao nhận thức và năng lực, xây dựng chính
sách hỗ trợ phù hợp, kết nối nguồn lực.
- Ước tính có 116,298 doanh nghiệp xã hội thuộc 6 nhóm chính:
+ Doanh nghiệp xã hội dựa vào cộng đồng (HTX, tổ chức tài chính địa
phương…)
+ Doanh nghiệp xã hội do nước ngoài thành lập/ hỗ trợ
14
+ Doanh nghiệp xã hội do nhà nước thành lập
+ Doanh nghiệp xã hội do Doanh nhân xã hội thành lập
đã được bắt đầu từ những thập kỷ trước. Tuy là mới chỉ là số ít nhưng họ
xứng đáng là những người tiên phong đi đầu trong phong trào doanh nghiệp
xã hội còn mới mẻ ở Việt Nam. Điển hình phải kể đến KOTO Quốc Tế; Mai
Handicraft; Craftlink; Sao Mai…. Họ chính là những mô hình doanh nghiệp
linh hoạt, sáng tạo, phù hợp cộng đồng, chủ động,đa dạng và kiểm soát được
nguồn thu giúp tăng khả năng đảm bảo tính bền vững, từ đó giúp doanh
nghiệp/ tổ chức của mình theo đuổi đến cùng tầm nhìn chiến lược của mình.
Họ đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn tại
những cộng đồng yếu thế. Doanh nghiệp xã hội đã có nhiều dịch vụ và hoạt
động được thực hiện rất sáng tạo và bền vững mà các tổ chức kinh tế thương
mại khác không muốn tham gia vì do khả năng tiếp cận khó khăn và hiệu quả
sinh lời thấp. Doanh nghiệp xã hội là một phương thức hiệu quả để kết hợp
mục tiêu xã hội với mục tiêu kinh tế thông qua việc triển khai thực hiện các
hoạt động thương mại trực tiếp liên quan đến giải quyết vấn đề xã hội; các lợi
nhuận được chuyển một phần lớn trở lại phục vụ cho mục tiêu xã hội của tổ
chức; cơ chế giá linh hoạt: giảm giá cho nhóm đối tượng bị thiệt thòi và tăng
giá thay mặt nhóm đối tượng này tại các thị trường chung; tạo việc làm, đào
tạo và cơ hội phát triển cho nhóm thiệt thòi…
Cũng giống như phong trào doanh nghiệp xã hội trên thế giới, ngày càng
có nhiều Doanh nghiệp đưa các giá trị và mục tiêu xã hội vào sứ mệnh của
16
doanh nghiệp và hình thành nên các tổ chức doanh nghiệp xã hội của riêng
mình, không chỉ dừng lại làm hoạt động về trách nhiệm xã hội (CSR) truyền
thống. Các hình thức phổ biến hiện nay gồm:
Thương mại công bằng (VD: Mai Vietnam Handicraft- VN, Divince
Chocolate _ UK)
Các doanh nghiệp hướng tới thị trường đáy (VD: Danon-Grameen,
Adidas-Grameen…)
Các doanh nghiệp định hướng giải quyết các vấn đề liên quan đến xã hội
và môi trường (Các sản phẩm tiết kiệm điện của GE đạt doanh thu 25 tỉ USD
nhằm mục đích hỗ trợ hòa nhập toàn diện cho người khuyết tật( NKT) thông
qua các hoạt động đào tạo công nghệ thông tin, hướng nghiệp, giới thiệu việc
làm, kết nối các cơ sở sản xuất tìm đầu ra cho sản phẩm của NKT. Nghị Lực
sống gồm hai hợp phần chủ chốt là trung tâm Nghị lực sống và công ty cổ
phần Nghị Lực Sống. Trung tâm Nghị Lực sống là một tổ chức xã hội phi lợi
nhuận đào tạo miễn phí công nghệ thông tin cho NKT và thực hiện các
chương trình hỗ trợ người khuyết tật, và cộng đồng, cũng như các hoạt động
gây quỹ, vận động tài trợ từ các cá nhân, tổ chức quan tâm. Bên cạnh đó, công
ty cổ phần Nghị Lực Sống thực hiện các hoạt động kinh doanh vừa tạo được
việc làm cho NKT ngay chính tại trung tâm, vừa tạo nguồn thu hướng đến bền
vững tài chính của Nghị Lực Sống
+ Doanh nghiệp hoạt động nhằm cung cấp dịch vụ cho nhóm hay cộng
đồng bị lề hóa :
Với mục đích phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng nghiện Internet ở
thanh thiếu niên, dự án “Hỗ trợ thanh thiếu niên nghiện Internet” do hai doanh
nhân xã hội là Lê Minh Công và Ngô Minh Uy xây dựng, mô hình ứng dụng
tâm lý học chuyên sâu vào việc đánh giá, can thiệp trị liệu cho thanh thiếu
niên nghiện Internet, đồng thời với việc xây dựng các chương trình huấn
luyện sử dụng Internet hiệu quả. Trong dài hạn, dự án hướng tới thành lập
một Trung tâm hỗ trợ thanh thiếu niên nghiện Internet chuyên biệt đầu tiên ở
Việt Nam.Mô hình Trung tâm sẽ được xây dựng theo hướng:
18
* Xây dựng các chương trình huấn luyện/ đào tạo cho cha mẹ, các em
học sinh nhằm nâng cao nhận thức và phòng tránh tình trạng nghiện Internet ở
các em.
* Phát triển mô hình cơ sở đánh giá và can thiệp với thanh thiếu niên
nghiện Internet chuyên biệt. Mô hình của cơ sở này theo hướng đa ngành, đa
trị liệu (bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý trị liệu, công tác xã hội, ), phù hợp với
một số mô hình tiên tiến.
Trong 12 tháng thử nghiệm, Minh Công ( Phó trưởng khoa Tâm lý lâm
2.2.1. Những thuận lợi khi phát triển mô hình doanh nghiệp xã hội
ở Việt Nam
Trên thực tế ta thấy, cho đến nay đã có rất nhiều doanh nghiệp xã hội
hoạt động hiệu quả và đứng vững trong vòng xoáy thị trường, điều đó đã
chứng tỏ phần nào tính tự vững, chất sáng tạo của các doanh nhân xã hội và
sự phụ hợp với môi trường ở nước ta. Tại thời điểm doanh nghiệp xã hội còn
là khái niệm khá mới mẻ ở nước ta, việc phát triển mô hình doanh nghiệp xã
hội có nhiều yếu tố thuận lợi :
(i) Hoạt động của doanh nghiệp xã hội được kết hợp hài hòa giữa mục
tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội: Khác với các doanh nghiệp hoạt động theo
đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận hay những doanh nghiệp phi lợi nhuận,
doanh nghiệp xã hội sẽ đảm bảo được cả hai mục tiêu tạo ra lợi nhuận và
dùng lợi nhuận thu được đó phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề xã hội,
môi trường và đó là vấn đề đang rất được quan tâm.
(ii) Thị trường đặc biệt: Không giống với các loại hình doanh nghiệp
khác, doanh nghiệp xã hội có thị trường hoạt động khá đặc biệt mà ở đó nhu
cầu của thị trường đó chính là nhu cầu của xã hội, và nó được các doanh
nghiệp xã hội coi là mục tiêu, là tiêu chí, là sứ mệnh mà các doanh nghiệp xã
hội theo đuổi. Doanh nghiệp sẽ sử dụng những kỹ năng, kiến thức để hiện
thực hóa những ý tưởng, sáng tạo của mình nhằm bền vững hóa về mặt kinh
tế, tạo ra các tác động tích cực cho xã hội.
20
(iii) Yếu tố cạnh tranh: Doanh nghiệp xã hội hoạt động ở Việt Nam
chúng ta chưa nhiều và cạnh tranh chủ yếu là về mặt xã hội, vì vậy các đối thủ
cạnh tranh không nhiều, ít cạnh tranh trong yếu tố kinh tế.
(iv) Bộ phận lãnh đạo: Các doanh nghiệp xã hội thường được dẫn dắt
bởi các cá nhân có uy tín, có tầm nhìn, có trình độ cao, nhiệt huyết, có đầu óc
và có tâm.
(v) Ngoài những nguồn tài chính thông thường, các doanh nghiệp xã
hội với đặc tính xã hội nên còn được nhận các nguồn tài trợ ưu đãi nhằm hỗ
Tuy vậy, hiện nay các tổ chức doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam đang
gặp phải không ít các thách thức để thực thi sứ mệnh và mục tiêu hoạt động
đầy ý nghĩa của mình. Những thách thức chính mà họ gặp phải là :
(i) khung pháp lý chưa hoàn chỉnh để tạo điều kiện phát triển cho khu
vực này.
Cho đến nay, chưa có một khuôn khổ pháp lý rõ ràng để điều tiết hoạt
động của các tổ chức phi chính phủ / xã hội dân sự ở Việt Nam. Các văn bản
dưới luật riêng lẻ liên quan đến các yếu tố khác nhau của xã hội dân sự mới
được ban hành gần đây. Tuy nhiên, các quy định rời rạc trên chưa tạo thành
một khuôn khổ pháp lý rõ ràng và đầy đủ cho việc hình thành và hoạt động
của các tổ chức phi chính phủ/ các tổ chức thuộc xã hội dân sự. Luật về Hiệp
hội đã thảo luận từ hơn 10 năm nay nhưng vẫn chưa hoàn thiện. Điều này
cũng cho thấy rằng vấn đề độc lập của các tổ chức chính trị xã hội vẫn còn
mang tính nhạy cảm về chính trị.
Nói chung, hiện có 5 điều luật / nghị định quan trọng làm cơ sở quản lý
nhà nước về các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam. Nghị định Dân chủ cơ sở
79 (2003) thể chế hoá sự tham gia của người dân địa phương, của các tổ chức
ở cộng đồng, các tổ chức của người nghèo trong các hoạt động phát triển ở
cấp xã. Luật hợp tác xã thừa nhận hợp tác xã là tổ chức tình nguyện hoạt động
như một đơn vị kinh tế độc lập. Luật Khoa học Công nghệ thừa nhận các Hiệp
hội chuyên ngành như các cơ quan dịch vụ độc lập, đây là mô hình lựa chọn
duy nhất đối với phần lớn các tổ chức phi chính phủ. Nghị định
148/2007/ND-CP quy định về việc thành lập và hoạt động của các quỹ từ
22