công tác xã hội với người khuyết tật tại huyện yên thành- tỉnh nghệ an - Pdf 24

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
000
PHẠM THỊ THỦY
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TẠI HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
KHÓA 34 (2010 – 2014)
HUẾ, 05/2014
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
000
PHẠM THỊ THỦY
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TẠI HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
KHÓA 34 (2010 – 2014)
Cán bộ hướng dẫn:
HỒ SỸ THÁI
HUẾ, 05/2014
Lời Cảm Ơn
Sau một thời gian làm việc hết sức nghiêm túc,
tôi đã hoàn thành báo cáo tốt nghiệp với đề tài: “
công tác xã hội với người khuyết tật tại huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An”. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc của mình đến thầy giáo Hồ Sỹ Thái - giáo viên
hướng dẫn đề tài của tôi, người đã chỉ dẫn cho tôi từng

Báo cáo tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người khuyết tật là lớp công dân, là nguồn nhân lực đặc biệt của đất
nước. Nói đến NKT người ta thường nghĩ ngay đến sự phân biệt, kỳ thị vì họ
cho rằng NKT là người không bình thường. Nhưng không phải thế, họ vẫn là
con người và có quyền được hưởng hạnh phúc, tự do và bình đẳng trong xã
hội. Họ có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế cũng như đóng góp cho xã
hội của đất nước. Và trên hết, họ luôn có một nghị lực sống phi thường.
Kinh tế phát triển giúp đất nước ta ngày càng giàu mạnh, đời sống nhân
dân được nâng cao; NKT vì thế cũng được quan tâm, chăm sóc chu đáo, có
cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều mảnh
đời bất hạnh; còn rất nhiều NKT không được ăn no, không mặc đủ ấm, không
được đến trường, còn bị phân biệt đối xử, kỳ thị và xa lánh.
Theo thống kê, hiện cả nước có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm
8% dân số, trong đó có 400 nghìn người khuyết tật nặng. Mặc dù, trong
những năm gần đây Nhà nước ta đã có rất nhiều những chính sách hỗ trợ
người khuyết tật nhưng vẫn còn những vấn đề mà người khuyết tật đang gặp
phải đó là sự kỳ thị và phân biệt đối xử. Điều đó đã dẫn đến khả năng hòa
nhập và phát triển của người khuyết tật đang bị hạn chế bởi chính những định
kiến xã hội mà họ gặp phải.
Theo như báo cáo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu và Phát triển
xã hội và Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội tại 8 tỉnh thành trong cả nước thì
trong số những người được hỏi có tới 42% đối tượng NKT tự đánh giá tình
trạng sức khoẻ của mình kém hơn rất nhiều so với người không khuyết tật;
khoảng 20% NKT và 95% NKT nặng trong độ tuổi lao động hiện không đi
làm. Tỷ lệ NKT có thu nhập bao gồm lương, trợ cấp và phúc lợi ngoài lương
thấp hơn nhiều so với người không khuyết tật. Khoảng một nửa NKT có mức
lương tháng trung bình từ 1,25 triệu đồng trở xuống.
Vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người khuyết tật vẫn đang diễn ra

luôn mang tính thời sự. Trong những năm qua đã có rất nhiều nghiên cứu về
NKT của Viện nghiên cứu phát triển xã hội như “ giảm kỳ thị và phân biệt với
người khuyết tật”, tập trung chủ yếu vào vấn đề giảm kỳ thị và phân biệt với
NKT, đưa NKT hòa nhập vào cộng đồng.
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 2
Báo cáo tốt nghiệp
Bài viết ”Việc làm cho người khuyết tật: Một số cách tiếp cận ” được
đăng trên Kỷ yếu hội thảo về Việc làm cho người khuyết tật được tổ chức tại
Đại học Văn Lang, TP Hồ Chí Minh, 30/8/2011, nhắc đến vấn đề việc làm
cho người khuyết tật là một nội dung cơ bản được các văn bản quy phạm
pháp luật đề cập cũng như là chủ đề của nhiều chương trình xã hội. Quyền
được làm việc và tạo cơ hội được làm việc của người khuyết tật trở thành một
vấn đề quan trọng và được coi là chìa khóa để giúp người khuyết tật tự thay
đổi cuộc sống của bản thân.
Ngoài ra còn có các hoạt động, chương trình về NKT:
Ngày 7/10/2013, tại Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã
phối hợp với Liên hiệp Hội Người khuyết tật Việt Nam và Trung tâm Hành
động vì sự phát triển cộng đồng tổ chức Lễ khởi động Dự án Liên hợp quốc
về Thúc đẩy quyền của người khuyết tật.
Ngày 20/8/2013 vừa qua Hội thảo “Sống với khuyết tật và cái giá của sự
kỳ thị” đã diễn ra tại Khách sạn Melia, Hà Nội do Viện Nghiên cứu Dư luận
Xã hội và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội tổ chức.
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều những bài viết về người khuyết tật đăng
trên các tờ báo, tạp chí. Cụ thể như:
Bài viết “ Đem lại cuộc sống tự lập cho người khuyết tật” ra ngày
12/5/2014 của tác giả Trịnh Sơn đăng trên báo nhân dân
“ Việc làm cho người khuyết tật: Cần hướng tới thực chất” của tác giả Hồng
Kiều ra ngày 17/4/2014 đang trên báo Việt Nam +.
Điều đó cho thấy rằng, nghiên cứu về NKT hoàn toàn không phải là một
phát kiến. Trong mọi đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu đều muốn đi sâu

- Giới hạn nghiên cứu: đề tài nghiên cứu các nội dung sau thực trạng đời
sống của người khuyết tật và khó khăn của NKT trong đời sống; đề xuất các
giải pháp nhằm hổ trợ, giúp đỡ và đảm bảo cuộc sống cho NKT.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài sẽ sử dụng một cách linh hoạt cả
hai phương pháp: phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên
cứu định lượng. Trong đó có các phương pháp cụ thể như sau:
5.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp:
Tiến hành thu thập và phân tích những tài liệu về NKT để tìm hiểu thực
trạng đời sống cũng như nhu cầu của NKT.
5.2. Phương pháp quan sát:
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi tiến hành quan sát đời sống của
NKT. Đặc biệt là quan sát thân chủ trong Công tác xã hội với cá nhân.
5.3. Phương pháp phỏng vấn:
Bao gồm phỏng vấn với bảng hỏi và phỏng vấn sâu, để thu thập thông
tin liên quan đến NKT và những người liên quan.
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 4
Báo cáo tốt nghiệp
5.4. Phương pháp thảo luận nhóm:
Nhằm tìm hiểu những mong muốn, nhu cầu của NKT và tạo sự đồng
cảm chia sẻ giữa những NKT.
5.5. Phương pháp đóng vai:
Nhằm hình thành khả năng giao tiếp, rèn luyện tính tự tin cho người
khuyết tật. Qua đó giúp NKT vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 5
Báo cáo tốt nghiệp
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên

bồi tụ đồng bằng lại hẹp ngang, lũ lụt nhanh mang theo ra biển những phần
đất mịn chưa kịp lắng đọng. Vì vậy đất nhẹ nên giữ đất, giữ nước kém, độ
màu mỡ không bằng đồng bằng sông Mã, kém xa đồng bằng Bắc Bộ và Nam
Bộ, ở giữa cánh đồng lại xuất hiện những nhánh núi, quả đồi, lèn đá lẻ; một
số cánh đồng ở vùng trũng bị nhiễm mặn. Tuy vậy, mấy nghìn năm nay, đây
là địa bàn quan trọng để sản xuất lúa và hoa màu, là nơi cung cấp nhiều tôm,
cá… Và là nơi tập trung đông dân cư của tỉnh.
Núi rừng và đồi ở Yên Thành là dạng địa hình chiếm hầu hết diện tích ở
phía Bắc, phía Tây và phía Nam huyện. Tổng diện tích lâm nghiệp 21.660,77
ha, trong đó có 11.521,5 ha đất rừng sản xuất, và 10.139,27 ha đất rừng phòng
hộ. Dãy núi phía Bắc được hình thành do dãy núi ở phía Đông Bắc Bộ chạy
về Quỳnh Lưu tới Yên Thành, hình thành một bức màu xanh của dãy núi Bồ
Bồ. Dãy núi phía Tây và phía Nam huyện do dãy núi Phu Hoạt ở Tây Bắc
Nghệ An chạy về, hầu hết là rừng núi và đồi thấp, nhưng có độ nghiêng dốc
lớn. Ở đây xưa kia có thảm rừng xanh bao phủ, rừng có nhiều gỗ quý như lim,
sến, kền kền, gụ, dổi….Có nhiều động vật quý như voi, hổ, bò rừng, lợn rừng,
…. Nhiều dược liệu quý như sâm nam, hà thủ ô,….Hiện nay, nguồn tài
nguyên này đang ngày càng cạn kiệt. Có nhiều khu rừng bị trọc hóa, một số
khu rừng còn giữ được màu xanh cũng là rừng thứ sinh. Đáng kể có rừng lim
ở Lăng Thành, gụ ở xã Xanh Găm. Ở đây có các đỉnh núi cao như Vàng Tâm
544m, Bồ Bồ 459m, đồi Mồng Gà 385m, động huyệt 301m…. Ở giữa các dãy
núi có nhiều thung lũng kín đáo như thung Lăng, thung Mây, thung Buồng….
Một dạng địa hình khác ở Yên Thành là do hiện tượng lắng đọng trầm
tích, đá vôi ở Nham Tướng vào thế kỷ Carbon, cách đây khoảng 287 triệu
năm, hình thành nhiều lèn đá vôi ở Đồng Thành, Nam Thành, Lý Thành, Bảo
Thành, Vĩnh Thành…. Nơi đây có nhiều hang động kín đáo, có nhiều mạch
nước ngầm và khoáng sản. Núi đồi, lèn đá, thung lũng và đồng bằng đã tạo
nhiều cảnh quan đẹp cũng là vốn đất chủ yếu của huyện Yên Thành.
Hiện nay, địa hình Yên Thành có ba vùng rõ rệt: vùng đồi núi bán sơn
địa 20815 ha, vùng đồng bằng thâm canh 16954 ha, vùng đồng trũng.

- Về giao thông, do địa hình là một vùng chảo không cân, ba phía là núi,
ở giữa là đồng trũng nên ngoài các tuyến đường sông từ cửa Lạch Vạn, sông
Bùng Lên, Yên Thành chỉ có tuyến đường liên hương, liên tổng, liên huyện.
Các con đường làng thường nhỏ hẹp. Mãi đến thế kỷ 20, đường quốc lộ 7A và
đường Tỉnh Lộ 538 mới được khai thông, nhưng cũng đi qua huyện Yên
Thành 15km.
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 8
Báo cáo tốt nghiệp
Bản đồ hành chính huyện Yên Thành
1.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội.
Yên Thành là một huyện đồng bằng bán sơn địa, bao gồm 39 xã, thị trấn
được chia làm ba vùng: vùng thâm canh, vùng phía nam, vùng đồi núi; trong
đó có 16 xã miền núi chiếm 69% diện tích đất tự nhiên với 43% dân số, 20 xã
đồng bằng, thị trấn chiếm 31% diện tích đất tự nhiên, chiếm 57% dân số.
Bảng 1. Danh sách các xã trực thuộc huyện Yên Thành
1. Bảo Thành
2. Bắc Thành
3. Công Thành
4. Đô Thành
5. Đồng Thành
6. Đức Thành
7. Hồng Thành
8. Hậu Thành
9. Hùng Thành
10. Hợp Thành
11. Hoa Thành
12. Khánh Thành
13. Lăng thành
14. Long Thành
15. Liên Thành

Báo cáo tốt nghiệp
2.1.3.Tình hình phát triển kinh tế- xã hội.
Kinh tế của huyện Yên Thành trong những năm gần đây có bước phát
triển khá toàn diện về cả nhịp độ, sản lượng và cơ cấu. giá trị sản phẩm năm
2007 đạt 996 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm là
13.1%.
Thực hiện chủ trương Nhà Nước và nhân dân cùng làm, trong những
năm đổi mới, Đảng Bộ và nhân dân Yên Thành đã phấn đấu không mệt mỏi,
vượt qua khó khăn để xây dựng một cơ sở hạ tầng điện, đường, trường,
trạm…tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ đã làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng
đổi mới, thêm phần khởi sắc, tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế mức sống của nhân
dân ngày càng được nâng cao. Công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm
nghèo đạt mục tiêu mà Đại hội Đảng Bộ lần thứ XXIV đã đề ra.
2.1.4. Đánh giá chung.
Yên Thành là một vùng quê giàu truyền thống hiếu học và sớm có phong
trào cách mạng. Bởi vậy, trong những năm kháng chiến, xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc, dù ở thời kỳ nào đều có sự góp mặt của người dân Yên Thành. Vậy
nên đến nay, Yên Thành có tới 7050 người được hưởng trợ cấp xã hội với số
tiền hàng tháng chi trả lên đến hàng tỷ đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi vẫn còn nhiều khó khăn ảnh hưởng
đến việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và gây ra tình trạng đói nghèo
trong địa bàn huyện nói riêng.
Là một huyện có số dân đông so với các huyện đồng bằng khác trong
tỉnh, dân trí thấp, không có các công trình công nghiệp lớn của tỉnh đóng trên
địa bàn huyện, là một huyện trọng điểm lúa nước nhưng giá cả nông sản, thị
trường tiêu thụ nông sản còn gặp nhiều khó khăn. Tiềm năng vùng đồi chưa
có điều kiện khai thác, các tuyến giao thông tỉnh bị xuống cấp trầm trọng.
Thời tiết những năm gần đây diễn biến rất phức tạp, hạn hán, rét đậm kéo dai
ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, diện tích nông

tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ
thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống
1.2.2. Khái niệm công tác xã hội:
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 11
Báo cáo tốt nghiệp
Cho đến nay đã có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau về công
tác xã hội (CTXH). Tuy không đối lập nhưng cũng chưa có được một định
nghĩa thống nhất.
Theo Foundation of Social Word Pratice: CTXH là một môn khoa học
ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được
một vị trí ở mức đô phù hợp trong xã hội. CTXH được coi như một môn khoa
học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã
được chứng minh. Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và
xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa.
Joanf Robertson – chủ nhiệm khoa CTXH trường đại học Winconsin,
Hoa Kỳ: CTXH là quá trình giải quyết những vấn đề hợp lý nhằm thay đổi
theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm,
tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội.
Theo liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế - IFSW (Đưa ra tại Đại
hội Montreal – tháng 7/2000):
CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các
vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng
người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu. Vận
dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp
ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và
công bằng xã hội là các nguyên tác cơ bản của nghề (Theo định nghĩa này thì
CTXH sẽ không được công nhận tại các nước chưa có nền giáo dục phát triển
cao về CTXH).
Theo Nguyễn Thị Oanh (Đại học Mở bán công TPHCM):
CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực theo

TẠI HUYỆN YÊN THÀNH- TỈNH NGHỆ AN
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 13
Báo cáo tốt nghiệp
2.1. Thực trạng
Huyện Yên Thành là một đồng bằng bán sơn địa. Dân số hiện nay có
275.165 người, trong đó số người khuyết tật chiếm 6.300 người, trong đó
khuyết tật vận động là 2.100 người, khuyết tật thị giác là 1.210 người, khuyết
tật thính giác là 900 người, khuyết tật ngôn ngữ là 890 người và khuyết tật trí
tuệ là 1.200 người. Người khuyết tật chiếm một tỷ lệ rất cao trong dân số của
Huyện.
Tuy nhiên để dễ dàng trong việc phân loại trợ cấp cho người khuyết tật,
UBND huyện phân ra các loại khuyết tật như: người cao tuổi khuyết tật chiếm
30% trong tổng số NKT; thương binh, bệnh binh chiếm 25% tổng số NKT,
trẻ em khuyết tật các loại có trên 1.300 em, thanh niên khuyết tật chiếm 20%
tổng số người khuyết tật.
Bảng 5: Phân Loại NKT trên địa bàn nghiên cứu
Phân loại người khuyết tật Số lượng ( người) Tỷ lệ (%)
Tổng số 6.300 100
Khuyết tật vân động 2.100 33.3
Khuyết tật thị giác 1.210 19,2
Khuyết tật thính giác 900 14,3
Khuyết tật ngôn ngữ 890 14,1
Khuyết tật trí tuệ 1.200 19,1
( Nguồn: Báo cáo tổng hợp về NKT huyện Yên Thành 2012)
Trong tổng số NKT ở Huyện Yên Thành còn có nhiều người gặp hoàn
cảnh éo le.
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 14
Báo cáo tốt nghiệp
Bảng 6: Sự gia tăng NKT trên địa bàn huyện từ năm 2009- 2013
Stt Tên xã

11 Đức Thành 201 101 52 18 15 15
12 Mỹ Thành 178 78 17 23 30 30
13 Bắc Thành 180 90 54 15 10 10
14 Long Thành 138 58 35 35 5 5
15 Hoa Thành 200 70 60 55 5 10
16 Đô Thành 215 115 47 23 20 10
17 Bảo Thành 80 36 14 5 20 5
1
8
Nam Thành 112 82 14 8 7 1
19 Lý Thành 190 90 55 25 20 0
2
0
Nhân Thành 120 50 43 17 10 0
21 Hợp Thành 130 71 19 16 14 10
22 Mạ Thành 145 65 45 16 15 4
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 15
Báo cáo tốt nghiệp
23 Phúc Thành 210 120 56 14 10 10
24 Minh Thành 89 57 13 9 10 0
25 Lăng Thành 300 211 39 35 15 0
26 Xuân Thành 190 100 34 26 20 10
27 Đồng Thành 150 65 43 27 10 5
2
8
Khánh Thành 100 35 12 28 17 8
29 Phú Thành 160 75 23 37 10 15
3
0
Quang Thành 170 83 32 18 17 10

thể những bất lợi chung của người khuyết tật.
Về học tập:
Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở người khuyết tật về trí tuệ hoặc
cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức
là khá khó khăn, khuyết tật vận động thì bị ảnh hưởng ít hơn. Người khuyết
tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết
của mình - điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với
giáo dục thông thường, do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo
dục và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu như
là bất khả thi.
Về việc làm:
Khó khăn trong học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc, trình
độ học vấn chung của người khuyết tật thấp hơn tương đối so với cộng đồng.
Ngoài ra một số công việc có những yêu cầu mà người khuyết tật khó thực
hiện tốt được, điều này có thể được giảm thiểu bằng cách tránh những việc
liên quan đến hạn chế của mình, chẳng hạn khuyết tật ở chân thì không nên
tìm những việc phải đi lại quá nhiều. Một số khác thì yêu cầu ngoại hình và
sức khỏe tốt, đây cũng là những công việc mà họ khó có thể tiếp cận.
Về hôn nhân:
Người khuyết tật khó lập gia đình hơn người bình thường, điều này có
nhiều nguyên nhân. Theo nguyên lý chung thì con người có xu hướng lựa
chọn bạn đời có bộ gen tốt, do vậy người khuyết tật thường bị cho là lựa chọn
"dưới tiêu chuẩn". Thứ nữa nếu một người lành lặn yêu người khuyết tật, gia
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 17
Báo cáo tốt nghiệp
đình - đặc biệt là bố mẹ của người không khuyết tật thường phản đối vì họ sợ
rằng nếu lấy con họ sẽ khổ. Ngoài ra là những lo sợ về di truyền, khả năng
chăm sóc con cái yếu kém và khó khăn sau này do bệnh nặng thêm, kinh tế
khó khăn, xấu hổ với xã hội Người khuyết tật cũng thường có mặc
cảm mình làm khổ người yêu với suy nghĩ sai lầm kiểu như: Đáng ra anh (cô)

thế trong xã hội.
Khó khăn về vật chất:
Đa số NKT ở trên địa bàn Huyện đang sống trong cảnh thiếu thốn và
nghèo nàn, họ bị khuyết tật nên khả năng lao động để đảm bảo cuộc sống của
mình là việc làm khó khăn, họ cần sự giúp đỡ của người khác. Nhiều người
không được ăn no, quần áo không đủ mặc, phải sống trong những ngôi nhà
rách nát tạm bợ. Với một miền quê còn nghèo, kinh tế chủ yếu dựa và cây lúa
như Yên Thành , đời sống nhân dân còn nghèo, do đó sự giúp đỡ của cộng
đồng cũng chưa đủ đáp ứng nhu cầu của NKT. Với mức trợ cấp của nhà nước
từ 180 ngàn đến 240 ngàn đồng ( tùy từng đối tượng cụ thể ) trên một tháng
cho từng NKT thì số tiền đó không đủ đảm bảo cuộc sống hằng ngày cho họ.
Nhiều NKT bị ốm đau bệnh tật kéo dài nhưng không có tiền để chữa
chạy. Để duy trì cuộc sống của mình nhiều người khuyết tật phải tự lăn lộn
với cuộc sống, có người phải đi ăn xin để kiếm miếng cơm manh áo…
Khó khăn về tinh thần:
NKT là đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, họ phải chịu nhiều thiệt
thòi trong cuộc sống. Họ thiếu thốn tình thương của cha mẹ, người thân và
cộng đồng; không được sống cuộc sống hạnh phúc như bao người khác. NKT
dễ rơi vào khủng hoảng tinh thần hoặc mắc các bệnh về tâm lý khiến họ trở
thành những người trầm tính, nhút nhát, sợ hãi trước cuộc sống.
Người khuyết tật thường có cảm giác mặc cảm, tự ti và thấy bất an trước
cuộc sống. Họ rất ngại hòa nhập cộng đồng xã hội, họ thườn thấy mình bất tài
và thua thiệt với người bình thường khác.
Tại địa phương hầu hết NKT chưa được đến trường học, chỉ có một số
em bị khuyết tật nhẹ mới được đến trường học tập. Tuy nhiên việc học của
các em gặp rất nhiều khó khăn bởi khuyết tật của mình, tâm lý tự ti, e dè, sợ
bạn cười nhạo.
SVTH: Phạm Thị Thủy - Lớp: CTXH K34 19

Trích đoạn Kết quả hoạt động CTXH với người khuyết tật tại địa phương. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status