Báo cáo thực tập
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Năm 2006, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương mại Thế Giới
WTO đánh dấu một kỉ nguyên mới cho sự phát triển kinh tế của nước ta.
Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà thiếu các hoạt động
giao lưu kinh tế quốc tế. Cho nên, việc gia nhập WTO sẽ mang lại cho Việt
Nam những cơ hội to lớn không thể phủ nhận. Xuất nhập khẩu chắc chắn trở
thành cầu nối quan trọng để nước ta tận dụng và tìm kiếm những nguồn lực
dồi dào với chi phí thấp nhất, mở rộng được thị trường tiêu thụ, thúc đẩy được
sự phát triển của sản xuất trong nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế.
Cùng với xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá và sự sôi động của hoạt động
xuất nhập khẩu ở mỗi quốc gia, thanh toán quốc tế cũng không ngừng phát
triển và thực sự đóng vai trò rất quan trọng. Trong đó, thanh toán tín dụng
chứng từ đã trở thành phương thức thanh toán không thể thiếu trong thanh
toán quốc tế nói riêng và thương mại quốc tế nói chung, nó đang ngày càng
được cải tiến và hoàn thiện để đảm bảo an toàn, lợi Ých cho các bên tham gia
quan hệ kinh tế quốc tế.
Trong những năm trở lại đây, hoạt động thanh toán quốc tế, đặc biệt là
thanh toán tín dụng chứng từ ở nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc
và thực sự phát huy được những thế mạnh của mình. Tuy nhiên, do nền kinh
tế còn non trẻ cộng với sự phức tạp của nghiệp vụ thanh toán quốc tế, hoạt
động này còn thể hiện nhiều bất cập, nhất là việc nâng cao an toàn trong hoạt
động TTQT nói chung và thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng. Nắm bắt
được những bất cập và tìm ra hướng giải quyết những bất cập đó sẽ giúp cho
TTQT trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và nước ngoài phát triển, hoàn
thiện nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày một đa dạng với phạm
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
1
Báo cáo thực tập
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng thanh toán tín dụng
chứng từ đối với ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động thanh toán tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Móng
Cái
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thanh toán tín
dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh
Móng Cái
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
3
Báo cáo thực tập
Chương 1
những vấn đề cơ bản về chất lượng
thanh toán tín dụng chứng từ đối với ngân hàng thương mại
1.1. Thanh toán quốc tế và sự cần thiết của thanh toán quốc tế:
1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế:
Quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia bao gồm tổng thể các lĩnh vực: kinh
tế, chính trị, hợp tác văn hoá, khoa học kĩ thuật, du lịch… Quan hệ đối ngoại
này cũng có thể được phân chia làm hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi
mậu dịch.
Quan hệ mậu dịch là những mối quan hệ có liên quan trực tiếp, phát sinh
trên cơ sở trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế.
Quan hệ phi mậu dịch thì ngược lại, nó không mang tính chất thương
mại, nh: quan hệ về ngoại giao, văn hoá, du lịch…
Trong các mối quan hệ nêu trên thì quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan
trọng, là cơ sở cho các mối quan hệ khác. Trong quá trình hoạt động, tất cả
các quan hệ Quốc tế đều được đánh giá kết quả hoạt động, do đó cần thiết đến
nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên
cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước
Xu hướng phát triển của hoạt động ngoại thương đòi hỏi hoạt động
TTQT không ngừng việc hoàn thiện nâng cao, đảm bảo phục vụ tốt nhất cho
các quốc gia trên thế giới. Nhu cầu của khách hàng về cả nội tệ lẫn ngoại tệ đã
thúc đẩy các NHTM tiến hành triển khai và hoàn thiện việc thực hiện TTQT.
Hiện nay, các NHTM đều hoạt động kinh doanh đa năng, tạo ra sự cạnh
tranh lẫn nhau trong các mặt nghiệp vụ trong đó có nghiệp vụ TTQT. Chính
vì vậy nghiệp vụ TTQT tại các NHTM đều đảm bảo an toàn, chất lượng,
nhanh chóng, kịp thời với một mức phí hợp lí. Nghiệp vụ này cũng là nội
dung kinh doanh quan trọng của các NHTM đem lại kết quả đáng kể trong
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
5
Báo cáo thực tập
hoạt động kinh doanh chung.
Đối với hoạt động kinh doanh NH, việc hoàn thiện và phát triển hoạt
động TTQT có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là một dịch
vụ thuần tuý mà còn được coi là không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh
của NH, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của NH.
Hoạt động TTQT giúp cho NH thu hút thêm được khách hàng có nhu
cầu TTQT đến giao dịch trên cơ sở đó mà NH tăng được quy mô hoạt động
của mình.
Nhờ đẩy mạnh hoạt động TTQT mà NH đẩy mạnh được hoạt động tín
dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng nh tăng cường được nguồn vốn huy động tạm
thời, quản lí được nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT
qua NH.
Hoạt động TTQT giúp cho NH phát triển được các nghiệp vụ: Kinh
doanh mua bán ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác.
Hoạt động TTQT cũng giúp cho NH nâng cao uy tín của mình trên
trường quốc tế, trên cơ sở đó có thể khai thác được nguồn vốn tài trợ của các
NH nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu
cầu vay vốn của khách hàng.
Ngày 25/10/2006, ICC thông qua UCP 600 thay cho UCP 500, UCP 600
có hiệu lực từ ngày 01/07/2007. So với UCP 500, UCP 600 có một số thay
đổi cơ bản sau:
- Hình thức: UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản so với 49 điều
khoản của UCP 500, trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật
ngữ mới để làm rõ nghĩa các thuật ngữ gây tranh cãi trong UCP 500. Chẳng
hạn điều 2- Definition của UCP 600 đã nêu ra một loạt các định nghĩa nh:
advising bank (NH thông báo), applycant (người yêu cầu mở thư tín dụng),
beneficiary (người hưởng lợi), confirming bank (NH xác nhận), confirmation
(xác nhận), negotiation (chiết khấu)
- UCP 600 quy định rõ thời gian cho việc từ chối hay chấp nhận các
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
7
Báo cáo thực tập
chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định 5 ngày làm việc của NH.
- UCP 600 đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và
người hưởng lợi thư tín dụng.
- Theo UCP 600, NH được phép từ chối chứng từ và giao bộ chứng từ
cho người yêu cầu mở thư tín dụng khi nhận được xác nhận bộ chứng từ bất
hợp lệ của họ.
1.2.1.2. Quy tắc thống nhất về Nhờ thu ( Uniform Rules For Collections
- URC) :
Với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thống nhất, các
nguyên tắc thực hành nghiệp vụ nhờ thu trong thương mại quốc tế, phạm vi
toàn thế giới, Phòng thương mại Quốc tế (ICC) đã soạn thảo và Ên hành văn
bản mang tên: “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” (URC).
Bản URC đầu tiên đã được phát hành từ năm 1956. Sau đó đã được sửa
đổi vào những năm 1967, 1978. Bản URC được sửa đổi năm 1978 có hiệu lực
từ ngày 1/1/1979 với tên gọi URC 1979 Revision – ICC Publication No. 322.
Để phù hợp với sự phát triển của thương mại quốc tế theo hướng mở rộng và
trên thế giới.
Nhìn chung, các quốc gia sử dụng séc làm phương tiện thanh toán quốc
tế, đều áp dụng những quy định có liên quan tới việc lưu thông séc trong công
ước Geneve 1931 (Geneve conventions for check 1931).
Công ước này được thoả thuận và ký kết bởi các nước Tây Âu tại
Geneve năm 1931. Nội dung chủ yếu đề cập tới những quy định thống nhất
về: hình thức, nội dung, tính chất, việc phát hành và lưu thông séc, quyền lợi
và nghĩa vụ của các bên có liên quan tới séc.
Ngoài công ước séc Geneve 1931, hiện nay trong thương mại quốc tế
cũng tồn tại hệ thống luật về séc Anh, Mỹ.
1.2.1.5. Thoả ước ngân hàng :
Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện thanh toán
các hợp đồng do chủ thể trong nước ký kết với chủ thể nước ngoài, ngoài việc
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
9
Báo cáo thực tập
áp dụng những văn bản pháp lý quốc tế chung, ngân hàng các nước thường ký
kết với nhau những Thoả ước, thống nhất về các vấn đề có liên quan đến hoạt
động tiền tệ, tín dụng, thanh toán.
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
10
Báo cáo thực tập
1.2.2. Các phương thức thanh toán quốc tế:
a. Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit).
* Định nghĩa Tín dụng chứng từ:
Theo “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (điều 2
UCP No. 500) tín dụng chứng từ được định nghĩa nh sau:
Nhằm phục vụ mục đích của những điều khoản này, những thuật ngữ
“tín dụng chứng từ” và “tín dụng dự phòng” (dưới đây gọi là tín dụng), có
nghĩa là bất cứ mét sự thoả thuận nào, dù cho được gọi hoặc mô tả như thế
Ngoài các thành phần tham gia thanh toán nêu trên, trong thực tế tuỳ
thuộc vào từng loại thư tín dụng có thể xuất hiện thêm một số ngân hàng
khác:
Ngân hàng xác nhận (confirming bank): là ngân hàng được chỉ định
trong tín dụng chứng từ, thực hiện xác nhận (đảm bảo) tín dụng chứng từ theo
yêu cầu của ngân hàng phát hành
Ngân hàng được chỉ định (Nominated bank): ngân hàng này được chỉ
định trong thư tín dụng. Tuỳ theo từng loại thư tín dụng mà ngân hàng này có
thể thực hiện một trong các nghiệp vụ sau:
+ Ngân hàng chỉ định thanh toán (Nominated Paying Bank)
+ Ngân hàng chỉ định chấp nhận (Nominated Accepting Bank)
+ Ngân hàng chỉ định chiết khấu (Nominated Negotiating Bank)
Ngân hàng bồi hoàn (Reimbursing Bank): là ngân hàng được ngân hàng
phát hành uỷ nhiệm thực hiện thanh toán giá trị tín dụng thư cho ngân hàng
được chỉ định thanh toán hoặc chiết khấu. Ngân hàng bồi hoàn thường tham
gia trong trường hợp giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng được chỉ định
không có quan hệ tài khoản trực tiếp với nhau.
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
12
Bỏo cỏo thc tp
S trỡnh t thc hin nghip v thanh toỏn Tớn dng chng t
S 1.1: Quy trỡnh thanh toỏn TDCT
(8)
(7)
(2)
(3) (5) (6) (1) (9)
(10)
(4)
(7) Sau khi đã thanh toán, NH chuyển bộ chứng từ sang NHPH để đòi
tiền.
(8) NHPH kiểm tra bộ chứng từ, nếu đáp ứng những điều kiện của L/C
thì tiến hành hoàn lại tiền cho NH đã thanh toán.
(9) NHPH báo cho người NK biết bộ chứng từ đã đến, đề nghị họ làm
thủ tục thanh toán.
(10) Người NK kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp thì tiến hành trả tiền
(hoặc chấp nhận), NH sẽ trao chứng từ để họ đi nhận hàng. Trong trường
hợp người NK không thanh toán thì NH không trao chứng từ cho họ.
* Quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia phương thức thanh
toán Tín dụng chứng từ:
Người nhập khẩu.
Trong hợp đồng thương mại, người nhập khẩu và người xuất khẩu đã
thoả thuận về điều khoản thanh toán là áp dụng phương thức TDCT. Trước
khi người xuất khẩu giao hàng, người nhập khẩu phải làm thủ tục mở thư tín
dụng trước một thời gian hợp lý. Người nhập khẩu dựa vào hợp đồng thương
mại đã kí, viết đơn đề nghị mở thư tín dụng ( theo mẫu quy định của ngân
hàng) gửi tới ngân hàng phục vụ mình.
Theo yêu cầu của ngân hàng, có thể người nhập khẩu phải gửi kèm theo
đơn một số giấy tờ cần thiết nh: bản sao hợp đồng thương mại, quota, giấy uỷ
quyền trích ngoại tệ…
Tuỳ theo quan hệ giữa người nhập khẩu và ngân hàng, tính chất của từng
nghiệp vụ giao dịch; người nhập khẩu thường phải kí quỹ một số tiền của thư
tín dụng. Tỉ lệ kí quỹ này có thể tới 100% giá trị của tín dụng.
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
14
Báo cáo thực tập
Người nhập khẩu phải trả một khoản thu phí cho ngân hàng (theo tỉ lệ
phụ thuộc số tiền và thời hạn của tín dụng, do ngân hàng quy định).
Người nhập khẩu cũng có quyền đề nghị ngân hàng phát hành bổ sung,
quyết định việc kí quỹ, tỷ lệ kí quỹ đối với người nhập khẩu. Ngân hàng còn
phải căn cứ vào UCP và thoả ước ngân hàng để phát hành thư tín dụng. Tín
dụng thư được phát hành thông qua ngân hàng thông báo để chuyển tới người
thụ hưởng.
Khi người nhập khẩu yêu cầu và có sự nhất trí của các bên, ngân hàng
tiến hành bổ sung sửa đổi thư tín dụng. Sau đó thông báo ngay những nội
dung đã được sửa đổi cho người xuất khẩu biết, qua ngân hàng thông báo.
Khi ngân hàng thanh toán gửi bộ chứng từ đến, ngân hàng phát hành
phải kiểm tra xem có phù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng
không. Nếu phù hợp thì trả tiền cho ngân hàng thanh toán, nếu không phù
hợp, ngân hàng có quyền từ chối việc hoàn lại số tiền đã thanh toán.
Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm chính về việc thanh toán giá trị
của tín dụng. Khi người nhập khẩu đã thanh toán, ngân hàng giao chứng từ để
họ có cơ sở nhận hàng. Ngân hàng cũng được miễn trách nhiệm trong những
trường hợp bất khả kháng như: chiến tranh, đình công, bạo loạn, động đất, lụt
bão…
Ngân hàng thông báo (Advising bank).
Khi nhận được thư tín dụng từ ngân hàng phát hành gửi tới, phải kiểm
tra mẫu chữ ký (hoặc mã điện tín) để tránh sự gian lận. Sau đó cần khẩn
trương chuyển thư tín dụng và thông báo tới người xuất khẩu.
Khi nhận được bộ chứng từ thanh toán do người xuất khẩu xuất trình,
phải kiểm tra và chuyển ngay toàn bộ chứng từ đó tới ngân hàng phát hành
(hoặc ngân hàng được chỉ định thanh toán). Ngân hàng không chịu trách
nhiệm về những hậu quả phát sinh do sự chậm trễ, mất mát chứng từ trên
đường gửi tới ngân hàng phát hành.
Ngân hàng thanh toán (Paying bank).
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
16
Báo cáo thực tập
Ngân hàng thanh toán có thể là ngân hàng phát hành thư tín dụng hoặc là
Địa điểm phát hành thư tín dụng là nơi ngân hàng phát hành mở thư tín
dụng để cam kết trả tiền cho người thụ hưởng. Địa điểm còn có ý nghĩa quan
trọng, liên quan đến việc tham chiếu luật lệ để giải quyết khi có những bất
đồng.
Ngày phát hành thư tín dụng, là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực
về sự cam kết của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người thụ hưởng.
Là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực thư tín dụng và cũng là căn cứ để
người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu có thực hiện mở thư tín dụng
đúng thời hạn nh đã thoả thuận trong hợp đồng thương mại.
- Loại thư tín dụng:
Trong đơn đề nghị mở thư tín dụng người nhập khẩu phải nêu rõ loại thư
tín dụng cần mở.
Tên, địa chỉ của những thành phần liên quan đến phương thức thanh toán
tín dụng chứng từ.
- Số tiền của thư tín dụng ( kim ngạch).
Số tiền của thư tín dụng phải được ghi rõ bằng số và bằng chữ và phải
thống nhất với nhau. Đơn vị tiền tệ phải rõ ràng không nên ghi số tiền dưới
dạng một số tuyệt đối vì nh vậy sẽ gây khó khăn trong việc giao hàng và
thanh toán cho người xuất khẩu. Trong thư tín dụng thường ghi số tiền ở một
số lượng giới hạn mà người xuất khẩu có thể thực hiện được.
- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng.
Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là khoảng thời gian mà ngân hàng
phát hành cam kết trả tiền cho người thụ hưởng, khi người này xuất trình bộ
chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng.
Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng có liên quan đến một số thời hạn sau:
+ Ngày giao hàng. Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của
thư tín dụng và không được trùng với ngày cuối cùng hết hiệu lực của tín
dụng.
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
18
19
Báo cáo thực tập
hàng, nơi gửi hàng, giao hàng, cách thức vận chuyển, cách giao hàng ( cho
phép hay không cho phép giao hàng từng phần, chuyển tải được phép hay
không).
- Các chứng từ phải xuất trình khi thanh toán.
Bộ chứng từ thanh toán có một ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên
liên quan: người nhập khẩu, người xuất khẩu, ngân hàng…
Tuỳ theo từng loại tín dụng, quy định các chứng từ cụ thể trong bộ
chứng từ, số lượng từng loại, yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ.
Thông thường bộ chứng từ gồm có những chứng từ chủ yếu sau:
+ Hối phiếu thương mại.
+ Hoá đơn thương mại đã ký.
+ Vận đơn đường biển.
+ Bảng kê đóng gói chi tiết.
+ ……….
- Cam kết của ngân hàng phát hành thư tín dụng.
Để đảm bảo sự thống nhất, tính chất pháp lý của thư tín dụng; ở phần
cuối của thư tín dụng thường dẫn chiếu: thư tín dụng này áp dụng theo UCP
sè 500 do Phòng thương mại quốc tế Pari phát hành bản sửa đổi năm 1993
(The Credit will be subject to the Unifrom Customs and Practice for
Documentary Credit – 1993 Revision Publication No 500 of ICC, Pari ).
Các loại thư Tín dụng:
Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): là loại L/C mặc dù đã
được NH phát hành ra, trong khi người XK chuẩn bị giao hàng, nó vẫn có thể
sửa đổi một số điều khoản hoặc huỷ bỏ toàn bộ mà không cần báo trước cho
người thụ hưởng biết. Việc sửa đổi, huỷ bỏ L/C chỉ được thực hiện trước khi
hàng hoá được giao hoặc vận đơn chưa được chuyển nhượng. Loại L/C này
không đảm bảo quyền lợi cho người XK vì vậy hiện nay hầu nh nó không
được sử dụng trong TMQT mà chỉ tồn tại trên lí thuyết.
Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại L/C không thể huỷ bỏ,
sau khi sử dụng xong hoặc hết thời hạn hiệu lực thì nó tự động có giá trị như
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
21
Báo cáo thực tập
cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực
hiện. L/C tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số lần tuần
hoàn với giá trị tối thiểu của mỗi lần đó.
L/C tuần hoàn được chia làm hai loại:
L/C tuần hoàn có tích luỹ (Cummulative revolving L/C): là loại L/C cho
phép chuyển kim ngạch L/C trước vào L/C sau và cứ như vậy cho tới L/C
cuối cùng.
L/C tuần hoàn không tích luỹ (Non cummulative revolving L/C): là loại
L/C tuần hoàn không cho phép chuyển số dư của L/C trước vào L/C sau.
Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): sau khi nhận được một L/C
(L/C gốc) của NH nước ngoài phát hành, người XK sử dụng L/C này để thế
chấp mở một L/C khác cho người thụ hưởng khác ở nước ngoài, với nội dung
tương tự với L/C ban đầu, L/C mở sau đó gọi là L/C giáp lưng. Nhìn chung
L/C giáp lưng và L/C gốc có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có một số
điểm khác biệt:
Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn số chứng từ của L/C gốc.
Kim ngạch của L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc.
Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc.
Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại L/C chỉ có hiệu lực khi
L/C đối ứng của nó được mở ra. Trong L/C ban đầu thường phải ghi L/C này
chỉ có giá trị khi người thụ hưởng đã mở một L/C đối ứng với nó để cho
người mở hưởng và trong L/C đối ứng phải ghi câu “L/C này đối ứng với L/C
số mở ngày qua NH”.
Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C): là L/C được mở ra để NH mở
L/C cam kết với người NK sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người
NH nhận uỷ nhiệm chuyển tiền (Remitting Bank): là NH phục vụ người
chuyển tiền.
NH trả tiền (Paying Bank): là NH trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng.
Thường là NH đại lí hay chi nhánh của NH chuyển tiền và ở nước người thụ
hưởng.
* Các hình thức chuyển tiền:
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
23
Báo cáo thực tập
Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Tranfer – T/T):
Là hình thức trong đó lệnh thanh toán của NH chuyển tiền được thể hiện
trong nội dung một bức điện gửi tới NH thanh toán qua mạng liên lạc viễn
thông SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecomunication
– Hiệp hội liên lạc viễn thông tài chính liên NH thế giới).
Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T):
Là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của NH chuyển tiền
được thể hiện trong nội dung một bức thư mà NH này gửi cho NH thanh toán
qua bưu điện.
Thư chuyển tiền là chỉ thị của NH chuyển tiền đối với NH thanh toán,
yêu cầu NH này trả một khoản tiền nhất định cho người thụ hưởng được chỉ
định trong thư.
Tóm lại, chuyển tiền là một phương thức thanh toán quốc tế đơn giản
nhất về thủ tục và thực hiện nhanh chóng. Phương thức này được thực hiện
trực tiếp giữa người chuyển tiền và người nhận tiền, NH đóng vai trò trung
gian thanh toán theo sự uỷ nhiệm và hưởng hoa hồng. Vì vậy khi áp dụng
phương thức thanh toán chuyển tiền yêu cầu các bên liên quan phải có sự tín
nhiệm cao.
c. Phương thức thanh toán nhờ thu:
* Khái niệm:
Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người XK (người bán) sau
Nhờ thu kèm chứng từ gồm hai loại:
Nhờ thu D/P (Documents against Payment – trả tiền trao chứng từ):
phương thức này được áp dụng trong trường hợp mua bán trả tiền ngay. NH
yêu cầu người NK phải trả tiền ngay sau đó NH mới trao bộ chứng từ cho
người NK.
Nhờ thu D/A (Documents against Acceptance – chấp nhận trả tiền trao
chứng từ): phương thức này được áp dụng trong trường hợp mua bán chịu (sử
dụng hối phiếu có kì hạn). Người NK phải kí chấp nhận trả tiền lên hối phiếu
kì hạn thì sẽ được NH trao cho bộ chứng từ hàng hoá.
Tóm lại, phương thức thanh toán Nhờ thu hoàn toàn dựa vào sự tín
Lê Thị Huyền Trang Líp: K2A
25