Lời mở đầu
Ra đời từ năm 1913 tại Mĩ, Dự trữ bắt buộc (DTBB) đã dần trở thành một
công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ ở nhiều quốc gia. Với
cơ chế tác động đến vốn khả dụng và lãi suất trên thị trường tiền tệ, qua đó
ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng, DTBB được NHTW sử dụng như một
công cụ nhằm kiểm soát cung tiền, cùng với sự kết hợp với các công cụ khác,
tiến tói mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.
Ngày nay, với sự ưu việt của công cụ nghiệp vụ thị trường mở, đã xuất
hiện xu hướng Ýt sử dụng công cụ này trong điều tiết tiền tệ. Tuy nhiên, với
trình độ phát triển chưa cao của thị trường tiền tệ ở nhiều quốc gia hiện nay
và do quan điểm điều hành chính sách tiền tệ NHTW từng nước, DTBB vẫn
được sử dụng tích cực trong việc điều chỉnh vốn khả dụng của các tổ chức tín
dụng, từ đó tác động đến cung tiền.
Ở Việt Nam, DTBB được sử dụng trong điều hành chính sách tiền tệ từ khi
có sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước ngày 24/5/1990. Từ đó đến
nay, chính sách quản lí DTBB của NHNN đã có nhiều sửa đổi, bổ sung theo
hướng vừa đảm bảo hiệu quả quản lí, vừa tạo sự thông thoáng cho hoạt động
của các ngân hàng.
Sau khi có sự ra đời của Luật Ngân hàng Nhà nước- hiệu lực từ ngày
1/10/98, đến nay đã có hai lần sửa đổi Quy chế DTBB đối với các TCTD.
Việc đánh giá hiệu quả điều hành công cụ này là hết sức cần thiết, do đó bài
viết này sẽ đề cập đến vấn đề: “ Vận dụng công cụ DTBB để nâng cao hiệu
quả điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam từ khi thực hiện Luật
Ngân hàng”.
1
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ DỰ TRỮ BẮT BUỘC
1.1. Khái niệm và vai trò của Dự trữ bắt buộc
1.1.1. Khái niệm
Nguồn gốc của việc quản lý dự trữ của các ngân hàng trung gian xuất phát
từ Mỹ, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1907. Luật Dự trữ Liên bang Hoa
Kì (1913) giao cho Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ quyền được áp đặt tỉ lệ dự
Do đó NHTW có thể điều tiết vốn khả dụng của các ngân hàng thông qua việc
điều chỉnh tỉ lệ DTBB và độ dài kì duy trì.
- Kiểm soát tăng trưởng tiền tệ.s
Bằng cách áp đặt nhữg tỉ lệ DTBB khác nhau, NHTW tác động đến khả
năng cho vay và khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống ngân hàng, từ đó tác
động đến tổng lượng tiền cung ứng.
- Tạo thu nhập cho NHTW.
NHTW có thể sử dụng tiền gửi DTBB của các ngân hàng thương mại để cho
vay tái cấp vốn, theo hồ sơ tín dụng, cho vay thanh toán…đối với các ngân
hàng thương mại khác. Từ đó tạo nguồn thu, bù đắp các chi phí phát hành
tiền, hoạt động thường xuyên của NHTW.
1.2. Phưong pháp quản lí DTBB.
Tỉ lệ DTBB được đưa ra trên cơ sở:
- Mục tiêu của chính sách tiền tệ từng thời kì
- Chi phí phải trả của các ngân hàng thương mại khi phải duy trì DTBB
- Tính ổn định của các loại tiền gửi.
Mức DTBB = Tỉ lệ DTBB x Số dư bình quân tài khoản thuộc đối tượng
DTBB của kì xác định
Mức DTBB được tính trong kì xác định được dùng làm căn cứ để chấp
hành quy định về DTBB trong kì duy trì. Trong đó, kì duy trì là khoảng thời
gian mà đối tượng thực hiện DTBB phải thực hiện theo mức đã được tính
toán vào cuối kì xác định; kì xác định là số ngày được sử dụng để tính số dư
bình quân của các tài khản phải tính DTBB.
Việc quản lí DTBB được thực hiện theo 3 phương pháp:
- Phương pháp nối tiếp: Kì duy trì và kì xác định nối tiếp nhau.
- Phương pháp trùng một phần: Kì duy trì và kì xác định trùng nhau
một phần
- Phương pháp trùng hoàn toàn: Kì duy trì đồng thời là kì xác định.
Khi kì duy trì và kì xác định càng trùng nhau thì tính hiệu quả của việc
điều hành DTBB càng tăng lên, và làm giảm tác động gây biến động lãi suất
cung ứng.
- DTBB còn được coi là môt vô hình đối với các NHTM vì các ngân
hàng phải giữ lại một bộ phận tiền gửi cho yêu cầu DTBB mà không được sử
dụng để kiếm lời trong khi vẫn phải trả lãi huy động cho bộ phận này.
Vói phân tích trên, dường như nhược điểm của công cụ này có phần lớn
hơn ưu điểm. Và đó là nguyên nhân chính của xu hướng ngày càng Ýt sử
4
dụng công cụ này trong điều tiết tiền tệ. Tuy nhiên, với điều kiện hiện nay ở
nhiều quốc gia, công cụ này vẫn được coi như một công cụ đắc lực trong điều
hành chính sách tiền tệ trong sự kết hợp hiệu quả với các công cụ khác.
PHẦN 2: QUẢN LÍ DTBB CỦA NHNN VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.
DTBB được sử dụng trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ khi
có sù ra đời của Pháp lệnh NHNN ngày 24/ 5/1990. Mục đích chính của việc
áp dụng DTBB ở VN là nhằm kiểm soát cung tiền (M2); Bơm hút vốn khả
dụng; Tác động đến chi phí của các TCTD và cuối cùng là đảm bảo khả năng
thanh toán cho TCTD.
Từ đó đến nay, công cụ này đã dần nâng cao hiệu quả thông qua những
sửa đổi bổ sung trong chính sách quản lí. Diễn biến của cơ chế quản lí DTBB
có thể phân thành hai giai đoạn sau:
2.1. Giai đoạn từ khi có Pháp lệnh Ngân hàng đến trước khi Luật
Ngân hàng có hiệu lực (5/1990 – 10/1998).
Trong thời gian này, cơ chế DTBB đã có những thay đổi nhất định. Bắt
đầu từ Quyết định số108/QĐ-NH5 về “Qui chế DTBB đối với các ngân hàng
và TCTD” và Quyết định 117 về tỉ lệ DTBB tháng 6/1992, cho đến QĐ 260,
QĐ 261 tháng 10/1995, và cuối cùng là QĐ 396 - 1998/QĐ/NHNN1 ngày
1/12/98. Qua những Quyết định trên, quy chế DTBB đã thay đổi về đối tượng
thi hành, tài khoản phải DTBB, cơ cấu DTBB, tỉ lệ DTBB và phương pháp
quản lí theo hướng linh hoạt hơn, thông thoáng hơn cho hoạt động kinh doanh
ngân hàng.
Đến thời điểm năm 1998 thì cơ cấu DTBB gồm 2 bộ phận là tiền mặt tại
Nguyên nhân do lãi suất huy động USD tăng cao, nguồn tiền gửi USD trong
các TCTD tăng mạnh dẫn đến hiện tượng đô la hóa. Trước tình hình đó,
NHNN đã tăng tỉ lệ tiền gửi DTBB ngoại tệ từ 5% lên 8% , rồi 12% và cao
nhất là 15%.
Sau đó khi lãi suất USD diễn biến giảm xuống thì tỉ lệ DTBB tiền gửi
ngoại tệ cũng giảm xuống, đến tháng 12/2002 là 5% và từ tháng 8/2003 còn
4%.
Tỉ lệ DTBB tiền gửi nội tệ tiếp tục giảm. Đến tháng 5/2001 giảm từ 5%
xuống 3%, riêng đối với NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN là 2%.
Như vậy, việc điều hành công cụ DTBB của NHNN đã có tác động lớn
trong điều hành tỉ giá và lãi suất, góp phần quan trọng để cân bằng thu nhập kì
vọng giữa tiền gửi VND và tiền gửi USD, hạn chế tình trạng đô la hoá trong
tài sản có của hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện phát huy hiêu quả điều tiết
của chính sách tiền tệ.
6
Quy chế DTBB ban hành theo Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày
9/6/2003 có sự thay đổi nổi bật so với trước đây là tiền gửi kì hạn từ 12 – 24
tháng bằng cả VND và ngoại tệ đã được đưa vào diện phải tính DTBB. Theo
Quyết định số 582/2003/QĐ-NHNN thì tỉ lệ DTBB duy trì đối với tiền gửi
loại này là 1%.Việc này đã làm tăng phạm vi kiểm soát lượng tiền cung ứng
của DTBB, nâng cao quyền lực điều hành của công cụ này.
Tuy nhiên xem xét lại bối cảnh thị trường tiền tệ thời điểm đó, trong tình
trạng lãi suất thị trường ở mức cao, các NHTM đang thừa vốn khả dụng, thừa
vốn ngắn hạn, tạm thời đầu tư vào Tín phiếu Kho bạc, chịu chấp nhận lỗ còn
hơn là để không trong khi vẫn phải trả lãi cho khách hàng. Vốn trung-dài hạn
lại thiếu, làm mất cân đối về thời hạn trong kết cấu nguồn vốn, dẫn đến phải
tăng lãi suất huy động vốn trung-dài hạn. Do đó, việc đưa loại tiền gửi trên
vào diện tính DTBB đã làm tăng áp lực về giá nguồn vốn trung-dài hạn và
thực sự gây khó khăn cho các NHTM khi làm thu hẹp chênh lệch lãi suất của
các khoản tín dụng trung-dài hạn, vô tình gây sức Ðp tăng lãi suất đầu ra vốn
cuối cùng của chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát thì việc phân tích ,
đánh giá đúng các nhân tố tác động làm tăng chỉ số CPI cũng như bản chất
của việc tăng giá có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đề ra các giảI pháp điều
hành chính sách tiền tệ có hiệu quả và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Qua phân tích tình hình thực tiễn cho thấy giá cả tăng là do các nhân tố
khách quan như dịch cúm gia cầm những tháng đầu năm cộng hưởng cùng dịp
Tết Nguyên Đán, giá dầu mỏ, thép, nhựa…trên thị trường thế giới tăng cao,
ảnh hưởng đến giá thành phẩm trong nước v.v…; cùng với nguyên nhân chủ
quan như nhu cầu tiêu dùng xã hội tăng, Chính phủ tăng cước phí vận chuyển
hàng không, đường sắt, tâm lí người dân…
Còn về nhân tố tiền tệ, qua xem xét số liệu cho thấy tổng phương tiện
thanh toán (TPTTT) 10 năm qua tăng không nhiều, không có tính đột biến và
không có mối liên hệ rõ ràng với CPI. Số liệu tăng trưởng TPTTT, tiền gửi ,
dư nợ tín dụng 6 tháng đầu năm đều thấp hơn tốc độ tăng cùng kì năm 2003,
trong khi CPI lại tăng 7,2%, cao hơn mức tăng cùng kì năm ngoáI là 2,1%.
Như vậy thì việc CPI 6 tháng đầu năm tăng đột biến không phải bắt nguồn do
chủ yếu từ nân tố tiền tệ và việc điều hành chính sách tiền tệ.
Do đó, NHNN đã xác định giảI pháp điều hành chính sách tiền tệ là linh
hoạt và thận trọng nhằm ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Riêng
về điều hành công cụ DTBB, trước sức Ðp của nguy cơ lạm phát cao 6 tháng
đầu năm, NHNN vẫn không nóng vội trong việc sử dụng DTBB với mục tiêu
kiểm soát lượng tiền cung ứng, thể hiện là tỉ lệ DTBB vẫn được duy trì từ
tháng 8/2003 đến 30/6/2004 ở mức thấp nhằm khuyến khích các TCTD huy
8
động vốn trung dài hạn và mở rộng cho vay góp phần tăng trưởng kinh tế,
đồng thời góp phần làm giảm áp lực tăng lãi suất chưa thật cần thiết trên thị
trường tiền tệ. Như vậy, việc điều hành DTBB trong những tháng đầu năm đã
tỏ ra khá hiệu quả và thận trọng, kết hợp linh hoạt và đồng bộ với các công cụ
khác trong điều hành chính sách tiền tệ.
Nhận thấy tình hình chỉ số giá cả sẽ tiếp tục tăng trong những tháng tiếp
thể, NHNN thực hiện trả lãi đối với tiền gửi DTBB bằng VND với mức lãi
suất 0,1%/tháng, đồng thời không thực hiện trả lãi tiền gửi vượt DTBB bằng
VND của TCTD tại NHNN nhằm hỗ trợ một phần chi phí hoạt động cho các
TCTD và khuyến khích các TCTD sử dụng triệt để nguồn vốn, tránh tăng lãi
suất huy động không cần thiết, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Qua những động tháI trên của NHNN trong việc điều hành DTBB, cùng
với sự kết hợp với các biện pháp khác như: giữ nguyên các mức lãi suất cơ
bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu từ đầu năm; vẫn sẵn sàng hỗ trợ
vốn cho các TCTD đảm bảo khả năng thanh toán với lãi suất thấp; tiếp tục sử
dụng nghiệp vụ thị trường mở như một công cụ chủ đạo trong điều tiết tiền tệ,
đã giúp cho việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN thời gian qua đạt
được những kết quả tích cực trong việc thực hiện mục tiêu kiềm soát tăng
trưởng tín dụng, qua đó kiềm chế lạm phát; ổn định lãi suất thị trường và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thời gian tới, NHNN vẫn tiếp tục theo giõi sát diễn biến thị trường, trường
hợp có nhiều yếu tố bất lợi làm lạm phát tăng khỏi tầm kiểm soát thì tiếp tục
áp dụng các giảI pháp thắt chặt tiền tệ nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô để tăng
trưởng bền vững. Công cụ DTBB được sử dụng trong việc kiểm soát gia tăng
của tín dụng và đảm bảo cân đối hợp lí giữa nguồn vốn nội và ngoại tệ trong
sự kết hợp đồng bộ, linh hoạt với các công cụ khác.
Tháng 10 vừa qua là tháng có tín hiệu tốt cho nền kinh tế, đó là lần đầu
tiên trong năm, CPI không tăng. Đây là cơ sở để cho các nhà quản lÝ kinh tế
vĩ mô cũng như NHNN có những biện pháp và dự định cần thiết trong việc
điều hành chính sách quản lí của mình.
10
Phần 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều hành của công
cụ DTBB
Có thể nói, từ khi ra đời, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện Luật Ngân
hàng cho đến nay, công cụ DTBB đã dần được nâng cao hiệu quả điều hành
qua những sửa đổi bổ sung trong chính sách quản lí, góp phần thực thi tốt
vốn cho tăng trưỏng kinh tế.
* Về mặt dài hạn, để nâng cao hiệu quả hoạt động của công cụ DTBB,
NHNN cũng cần phải khẩn trương nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện cần
thiết để có thể chuyển đổi phương pháp quản lí DTBB từ phương pháp nối
tiếp sang phương pháp trùng một phần, vì phương pháp quản lí nối tiếp có
nhựơc điểm lớn như: khả năng kiểm soát tín dụng của DTBB theo phương
pháp này thấp, hơn nữa nó có thể dẫn đến sự biến động lớn về lãi suất ngắn
hạn, gây bất ổn định cho thị trường tiền tệ, do đó giảm hiệu quả điều hành của
DTBB.
Đồng thời chưa nên rút ngắn độ dài kì duy trì và kì xác định xuống 15
ngày, vẫn giữ độ dài là 1 tháng, mà để kì duy trì và kì xác định trùng nhau 15
ngày. Vì với điều kiện phát triển hiện nay ở VN, thực hiện ngay việc rút ngắn
độ dài kì duy trì và kì xác định là việc làm Ýt có tính khả thi. Việc thay đổi
phương pháp quản lí như vậy sẽ làm giảm tác động gây biến động mạnh về lãi
suất thị trường liên ngân hàng, vì trong 15 ngày đầu của kì duy trì, các TCTD
chưa biết chính xác mức DTBB phải duy trì bình quân trong kì nên sẽ thận
trọng hơn trong việc sử dụng dự trữ, do đó yêu cầu DTBB của NHNN được
tôn trọng hơn và số dư tiền gửi để tính DTBB cũng như lãi suất thị trương Ýt
biến động hơn trong 15 ngày sau đó.
Và khi đã thực hiện tốt phương pháp quản lí như trên, đến thời điểm
thích hợp và khả thi thì NHNN sẽ xem xét rút ngắn độ dài kì duy trì vá kì xác
định lại còn 15 ngày như phần lớn các quốc gia trong khu vực. Theo ý kiÕn
cá nhân thì đây là lộ trình đổi mới thích hợp nhất cho công tác quản lí DTBB
ở Việt Nam hiện nay, từng bứơc nâng cao hiệu quả điều hành của công cụ
DTBB trong thực thi chính sách tiền tệ.
* Ngoài ra, để phục vụ cho công tác điều hành DTBB của NHNN được
tốt hơn, cần phải thực hiện cảI tiến hệ thống thông tin báo cáo để có thể xác
định chính xác tổng dự trữ của các TCTD phân tán tại các chi nhánh NHNN
12
tỉnh thành phố vào từng thời điểm làm căn cứ để kiểm soát lượng DTBB định
3. Tạp chí tài chính.
4. Báo cáo thường niên 2002, 2003 – NHNN Việt Nam.
5. Tạp chí Khoa học và đào tạo Ngân hàng.
6. Hệ thống các Quyết định của NHNN Việt Nam về Dự trữ bắt buộc từ
năm 1990 đến nay.
14