Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài:
Ngày nay, trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá của nhân loại, hoạt động
kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí quan trọng đặc
biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta. Với tư cách là
chất xúc tác cho sự phát triển của thương mại quốc tế, công tác thanh toán quốc
tế cũng không ngừng được mở rộng và phát triển. Song, khi thương mại quốc tế
càng phát triển thì mối quan hệ giữa người mua và người bán càng trở nên đa
dạng và phức tạp. Điều này đồng nghĩa với nguy cơ rủi ro ngày càng cao trong
buôn bán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng, đặc biệt là đối với
việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ, vì phương thức thanh toán
này đang được sử dụng phổ biến nhất hiện nay vì nó tạo tin tưởng cho nhà xuất
khẩu và tạo dựng uy tín cho nhà nhập khẩu, nhưng phương thức này thanh toán
chỉ dựa vào chứng từ nên nguy cơ rủi ro khi thực hiện là rất lớn. Nếu xét trong
cả nền kinh tế, hàng năm rủi ro trong phương thức này có thể lên tới hàng trăm
triệu USD, đe dọa sự an toàn trong kinh doanh của cả ngân hàng và các doanh
nghiệp.
Trong khi đó, với sự non trẻ và còn ít kinh nghiệm thực tế trong thanh
toán quốc tế, Công ty TNHH Vĩnh Ngọc gặp rất nhiều khó khăn trong việc thích
nghi với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, cũng như tình hình cạnh
tranh ngày càng trở nên gay gắt. Trong thời gian thực tập tại công ty, em nhận
thấy nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ của công
ty là nghiệp vụ thường xảy ra sai sót và rủi ro, gây thiệt hại về tài chính lẫn uy
tín cho công ty, vì vậy em xin chọn đề tài nghiên cứu là: “Hạn chế rủi ro trong
thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ khi nhập khẩu hàng gia
dụng từ thị trường Hàn Quốc tại công ty TNHH Vĩnh Ngọc”.
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 1
Trang 2
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
Nói một cách khác, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán,
theo đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của một khách
hàng (người đề nghị mở thư tín dụng) trả một số tiền nhất định cho một người
khác (người hưởng lợi), hoặc chấp nhận hối phiếu do người xuất khẩu kí phát
trong thời gian quy định và trong phạm vi số tiền của L/C khi người xuất khẩu
xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy
định trong thư tín dụng.
1.5.1.2 Thư tín dụng – công cụ đặc trưng của phương thức tín dụng
chứng từ:
a. Khái niệm:
Thư tín dụng là một phương tiện rất quan trọng của phương thức tín dụng
chứng từ. Nếu không mở thư tín dụng thì phương thức thanh toán này không thể
xác lập được và người xuất khẩu sẽ không giao hàng cho người nhập khẩu.
Vậy thư tín dụng là gì?
“Thư tín dụng là một bức thư do ngân hàng lập ra trên cơ sở yêu cầu của
khách hàng, trong đó Ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu họ
xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thư tín dụng.
b. Nội dung của thư tín dụng
Một thư tín dụng có thể có những điều khoản sau:
(1): Số hiệu, địa điểm, và ngày mở L/C
(2): Tên và địa chỉ của những người có liên quan tới phương thức tín dụng
chứng từ
(3): Số tiền của L/C
Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ và phải
thống nhất với nhau. Đồng thời, tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng.
(4): Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C.
Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả
c. Phân loại thư tín dụng (L/C):
Có rất nhiều cách phân loại thư tín dụng. Tùy theo từng tiêu thức khác nhau
người ta có thể phân loại khác nhau.
Theo loại hình, chia thành 2 loại:
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 4
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
• L/C có thể hủy ngang
• L/C không thể hủy ngang
Theo phương thức sử dụng ta có các loại L/C sau:
• L/C không hủy ngang có giá trị trực tiếp.
• L/C không hủy ngang, miễn truy đổi
• L/C không hủy ngang và có xác nhận.
• L/C tuần hoàn.
• L/C với điều kiện “Đỏ”.
• L/C dự phòng.
• L/C chuyển nhượng.
• L/C giáp lưng.
• L/C đối ứng.
1.5.1.3 Đặc điểm của giao dịch L/C
L/C là hợp đồng kinh tế hai bên:
Nhiều người lầm tưởng cho rằng, L/C là hợp đồng kinh tế ba bên gồm:
người yêu cầu, NHPH và người thụ hưởng. Thực tế, L/C là hợp đồng kinh tế độc
lập chỉ của hai bên là NHPH và người thụ hưởng. Mọi yêu cầu và chỉ thị của
người xin mở L/C đã do NHPH đại diện, do đó, tiếng nói chính thức của người
xin mở L/C không được thể hiện trong L/C.
L/C độc lập với hợp đồng và cơ sở hàng hóa:
L/C được hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng về bản
chất, sau khi được thiết lập, nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi
(4) (4)
(1): Người mua làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng mở L/C, yêu cầu
mở L/C cho người bán hưởng.
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 6
Ngân hàng thông báo
L/C
Ngân hàng mở L/C
Người bán Người mua
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
(2): Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và
thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người bán thông báo về việc mở
L/C và chuyển L/C đến người bán.
(3): Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người bán toàn bộ nội dung thông báo về việc mở L/C, và khi nhận được bản
gốc L/C thì chuyển ngay cho người bán.
(4): Người bán nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không thì đề
nghị người mua và ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với
hợp đồng, đến khi chấp nhận mới giao hàng.
(5): Sau khi giao hàng, người bán lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất
trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền.
(6): Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp với L/C thì trả
tiền cho người bán. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn
bộ chứng từ cho người bán.
(7): Ngân hàng mở L/C đòi tiền người mua và chuyển bộ chứng từ hàng hóa
cho người mua.
(8): Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền
lại cho ngân hàng mở L/C, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền.
1.5.2 Một số vấn đề chung về rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc
• Rủi ro kinh tế: do các yếu tố kinh tế gây ra
Rủi ro chính trị: do các yếu tố thuộc về thể chế chính trị gây ra.
• Rủi ro pháp lý: do sự thay đổi luật pháp, các quy tắc, tập quán,…
• Rủi ro cạnh tranh: do sự thay đổi thị hiếu, sự xuất hiện sản phẩm mới,…
• Rủi ro thông tin: thông tin sai lệch, thiếu,…
Dựa vào phạm vi được bảo hiểm:
• Rủi ro được bảo hiểm: là những rủi ro được ghi trong các hợp đồng bảo
hiểm, trong đó lại được chia nhỏ hơn thành rủi ro thông thường và rủi ro đặc
biệt.
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 8
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
• Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro sẽ không được các công ty
bảo hiểm bồi thường khi có tổn thất xảy ra, lại được chia nhỏ hơn thành rủi ro
loại trừ và rủi ro không thỏa thuận.
Dựa vào thời điểm phát sinh rủi ro trong quy trình tác nghiệp thương mại
quốc tế:
• Rủi ro trong lựa chọn đối tác đàm phán và kí kết hợp đồng: là những rủi
ro xảy ra trong giai đoạn lựa chọn đối tác, dàm phán và kí kết hợp đồng thương
mại quốc tế.
• Rủi ro trong chuẩn bị hàng xuất khẩu: là những rủi ro xảy ra trong giai
đoạn chuẩn bị hàng xuất khẩu, gồm cả thu gom, sản xuất, gia công, tái chế.
• Rủi ro trong giao nhận hàng hóa: là những rủi ro xảy ra trong quá trình
giao nhận đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
• Rủi ro trong vận chuyển mua bảo hiểm cho hàng hóa
• Rủi ro trong thanh toán tiền hàng: là những rủi ro xảy ra trong quá trình
thực hiện các nghiệp vụ thanh toán tiền hàng, tiền bảo lãnh, tiền đặt cọc,…
• Rủi ro trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại
• Các rủi ro khác
Đây là rủi ro chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong các rủi ro trong lựa chọn
đối tác và đàm phán hợp đồng, mà có thể là đối tác gặp khó khăn về khung khổ
pháp lý; khả năng thanh toán tiền hàng hoặc cung ứng hàng hóa; nhân lực và
thời gian cho triển khai các bước tiếp theo trong quy trình nghiệp vụ,…
Các nội dung về hàng hóa và giá cả không được chặt chẽ, không tính hết
các yếu tố biến động của thị trường thế giới và khu vực. Cũng không loại trừ các
trường hợp do chủ quan, các doanh nghiệp Việt Nam đã xem nhẹ vai trò của hợp
đồng, thiết lập hợp đồng mang tính chiếu lệ trong khi tập trung tôn trọng các
thỏa thuận riêng nên bị đối tác lợi dụng, chèn ép.
1.5.3.2 Những rủi ro trong quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu:
a. Rủi ro do khan hiếm nguồn hàng cung ứng cho xuất khẩu
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 10
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
Do những yếu tố bất lợi về thời tiết, dịch bệnh, nguồn nguyên liệu, năng
lực sản xuất có thể dẫn đến khan hiếm nguồn hàng xuất khẩu, hoặc do người bán
không tổ chức tốt công tác thu gom hàng hóa nên không có hàng cho xuất khẩu,
tạo ra sự khan hiếm “giả tạo” ở một thời điểm nhất định.
Thiệt hại trong trường hợp này không chỉ riêng đối với người nhập khẩu
mà cả với người xuất khẩu. Với người nhập khẩu thì do chậm nhận hàng hoặc
không nhận được hàng sẽ dẫn đến những thiệt hại về lợi nhuận, đọng vốn do mở
L/C, suy giảm uy tín trong các giao dịch kế tiếp, ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch
sản xuất, kinh doanh. Với người xuất khẩu thì do không có hàng để thực hiện
hợp đồng nên có thể bị phạt do vi phạm hợp đồng, suy giảm lợi nhuận, suy giảm
uy tín thương mại, nguy cơ mất thị trường và khách hàng,…
b. Rủi ro hối đoái:
Rủi ro hối đoái là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng
đến giá trị kì vọng trong tương lai. Khi lãi suất, tỷ giá thay đổi có thể làm cho
năng lực tài chính của doanh nghiệp này tăng lên và doang nghiệp kia giảm đi,
loại hàng hóa:
Trong thực tiễn kinh doanh, do nguyên nhân chủ quan của người xuất
khẩu, hàng hóa đã không được cung cấp đúng như quy định trong hợp đồng
hoặc trong L/C (về số lượng, chất lượng, chủng loại) mặc dù người nhập khẩu
đã mở L/C hoặc thực hiện kí quỹ tại ngân hàng. Sự chủ quan của người xuất
khẩu trong chuẩn bị hàng hóa; giá cả hàng hóa biến động tăng gây bất lợi cho
người xuất khẩu; người xuất khẩu tìm được hợp đồng có lợi hơn; người xuất
khẩu không tin tưởng khả năng nhận hàng và thanh toán của người nhập khẩu;
sự thỏa thuận không rõ ràng trong hợp đồng về số lượng, chất lượng và chủng
loại; sự suy giảm chất lượng hàng hóa trong quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu;
mất khả năng kiểm soát về số và chất lượng của người xuất khẩu; các hạn chế
xuất khẩu của chính phủ là những nguyên nhân chủ quan từ phía người xuất
khẩu.
b. Rủi ro do chậm giao hàng hoặc không giao hàng:
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
Do sự tin tưởng đối với nhà cung ứng nên khi mở L/C người nhập khẩu
có thể không quy định cụ thẻ thời hạn cuối cùng và không phân định rạch ròi
việc xử phạt giữa chậm giao hàng và không giao hàng.
c. Rủi ro do người mua không nhận hàng:
Khi hợp đồng L/C được quy định rõ ràng thì người mua muốn không
nhận hàng thì phải tím cách chứng minh rằng người bán đã có lỗi trong quá trình
giao hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng.
1.5.3.4 Những rủi ro trong quá trình vận chuyển, mua bảo hiểm cho hàng
hóa:
Do hợp đồng L/C dựa trên bộ chứng từ , nên nếu trong hợp đồng không
quy định rõ ràng nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quá trình vận
chuyển thì khi có sự cố xảy ra như: mưa lũ, bão, băng trôi, chiến tranh,… ảnh
tiền hàng của người xuất khẩu dường như bằng không cho dù có sự tác đọng
mạnh từ ngân hàng của người xuất khẩu.
Rủi ro do ngân hàng mất khả năng thanh toán thường xảy ra khi người
bán bỏ ngỏ yêu cầu người mua mở L/C ở ngân hàng có uy tín, vì thế họ có thể
mở L/C ở những ngân hàng nhỏ chỉ với chi phí hoặc tỷ lệ ký quỹ thấp. Tất nhiên
cũng không loại trừ trường hợp khủng hoảng tài chính dẫn đến hàng loạt ngân
hàng mất khả năng tài chính cho dù đó là ngân hàng lớn.
Rủi ro do đạo đức của ngân hàng mở L/C thường xảy ra khi xuất khẩu
hàng hóa vào những khu vực thi trường mà các quan hệ thanh toán liên ngân
hàng giữa các ngân hàng bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu chưa được
xác lập chắc chắn hoặc xuất khẩu vào những khu vực thị trường có những biến
động mạnh về tình hình chính trị, hoặc thanh toán với ngân hàng nhỏ ở những
khu vực thị trường mới, kinh doanh không nghiêm túc. Với những trường hợp
này, các ngân hàng sẵn sàng từ chối thanh toán cho dù người bán thực tế không
vi phạm quy định trong L/C.
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 14
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN
QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
TẠI CÔNG TY TNHH VĨNH NGỌC
2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu:
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp:
• Quan sát tổng kết thực tiễn
• Điều tra sử dụng bảng câu hỏi cho một số đối tượng
• Phỏng vấn sâu
ty:
2.2.2.1 Môi trường bên ngoài:
a. Môi trường chung
Môi trường kinh tế:
Từ năm 2007, nền kinh tế có những biến động phức tạp và khó lường,
sang năm 2008 nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng với sự mở đầu là sự sụp
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 16
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng
kế
hoạch
đầu tư
Phòng
hành
chính kế
toán
Phòng
nhân sự
Phòng
kinh
doanh
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
đổ của các ngân hàng danh tiếng trên thế giới như: Indy Macc, WaMu (Mỹ),…
làm ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế.
Môi trường chính trị - pháp luật
Thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những phương thức được sử
dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong phương thức
Trang 18
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
Môi trường khoa học kĩ thuật
Việc ứng dụng những thành tựu của khoa học kĩ thật vào hoạt động sản
xuất kinh doanh luôn mang lại tiện ích không thể phủ nhận cho các doanh
nghiệp .
b. Môi trường đặc thù:
Khách hàng
Mọi hoạt động kinh tế đều nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu khách hàng
và thu lợi nhuận từ sự hài lòng đó của khách hàng. Do vậy khách hàng là nhân
tố có tính chất quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp và mức
độ hài lòng của khách hàng là thước đo chất lượng phục vụ của doanh nghiệp
đó.
Đối thủ cạnh tranh
Ngày 1/1/2006, Việt Nam tiến hành kí cam kết gia nhập tổ chức thương
mại thế Giới WTO và tới ngày1/1/2007, nước ta chính thức bước vào “sân chơi
thương mại lớn nhất thế giới”, khiến cho môi trường cạnh tranh ngày càng gay
gắt, các doanh nghiệp không đủ kinh nghiệm, trình độ,…để chống choi trước
“làn sóng mới” rất dễ bị thua lỗ, thậm chí là phá sản.
Nhu cầu và thẩm mỹ của khách hàng ngày càng cao, khách hàng không
chỉ thích sản phẩm nhập ngoại mà còn rất ưa chuộng một số sản phẩm thủ công
được sản xuất từ những làng nghề ở Việt Nam hiện nay, do đó sức cạnh tranh
trong mặt hàng này càng trở nên gay gắt hơn.
2.2.2.2 Môi trường bên trong
Nguồn nhân lực
“Quản trị suy cho cùng là quản trị nhân lực, quản trị con người”. Mọi hoạt
động quản trị muốn thực hiện tốt phải có nền tảng quản tri nhân lực vững chắc.
Đứng sau thành công của doanh nghiệp là một nguồn nhân lực chất lượng cao.
Do có nhận thức đúng đắn về chất lượng nguồn nhân lực đến hoạt động kinh
• Tên, địa chỉ của người hưởng L/C, gồm cả địa chỉ , điện tín.
• Số tiền của L/C: thường được ghi ở dạng tương đối như: “vào khoảng”,
hoặc “khoảng chừng”.
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 20
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
Công ty thường yêu cầu ngân hàng mở L/C bằng phương thức L/C trả
chậm, trong đó công ty trình bày tóm tắt về hàng hóa, tên hàng, số lượng, chất
lượng, chủng loại, đơn giá,… yêu cầu về nơi cung cấp bộ chứng từ mà người
xuất khẩu phải xuất trình; yêu cầu về nơi hàng đến; quy định ngày giao hàng;
quy định thời hạn xuất trình chứng từ để thanh toán; quy định ngày hết hạn hiệu
lực của L/C.
Nguồn vốn để đảm bảo thanh toán L/C
• Khi quy định điều khoản thanh toán bằng L/C trong hợp đồng, công ty
cần xem xét nguồn vốn để thanh toán cho L/C mà mình sẽ yêu cầu ngân hàng
mở: L/C phát hành bằng vốn tự có, công ty phải ký quỹ 100%; L/C phát hành
bằng vốn tự có, công ty không ký quỹ đủ 100% và/hoặc có yêu cầu miễn, giảm
mức ký quỹ, công ty sẽ liên hệ với bộ phận Tín dụng thẩm định nghiên cứu xem
xét và được Giám đốc hoặc người được Giám đốc uỷ quyền phê duyệt trước khi
chuyển sang phòng TTQT thực hiện.
• L/C phát hành bằng vốn vay của ngân hàng: khi đó công ty sẽ liên hệ với
bộ phận Tín dụng thẩm định để xem xét.
Hồ sơ xin mở L/C của công ty bao gồm:
• Đơn yêu cầu mở L/C
• Quyết định thành lập doanh nghiệp (đối với khi công ty giao dịch lần
đầu)
• Đăng ký kinh doanh (đối với khi công ty giao dịch lần đầu)
• Đăng ký mã số xuất nhập khẩu ( đối với khi công ty giao dịch lần đầu)
• Hợp đồng ngoại thương gốc (trường hợp ký hợp đồng qua FAX thì đơn
thế chấp tương ứng để đảm bảo khả năng thanh toán cho L/C đó.
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 22
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
d. Nhận và kiểm tra chứng từ:
Sau khi nhận bộ chứng từ giao hàng từ phía ngân hàng, công ty kiểm tra
đối chiếu giữa nội dung L/C với các chứng từ nhận được. Trường hợp công ty
nhận được thông báo sai sót chứng từ của ngân hàng, trong vòng 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận thông báo, công ty sẽ phải báo ngay quyết định của mình
hoặc chấp nhận sai sót và thanh toán L/C hoặc không chấp nhận sai sót ngay
trên bản thông báo và gửi trả lại Ngân hàng.
Nếu sau 5 ngày, công ty không có ý kiến thì coi như khách hàng từ chối
chứng từ, Ngân hàng tiến hành xử lý bộ chứng từ theo chỉ thị của Ngân hàng gửi
chứng từ.
e. Người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ:
Bộ chứng từ bao gồm:
• Hối phiếu.
• Hóa đơn thườn mại
• Vận đơn: phải là vận đơn sạch, hoàn hảo.
• Giấy chứng nhận bảo hiểm.
• Các chứng từ khác: giấy chứng nhận kiểm nghiệm hàng hóa, giấy chứng
nhận xuất xứ,…
Sau đó, nhà xuất khẩu kiểm tra, nếu có sai sót thì tìm cách khắc phục, rồi
gửi bộ chứng từ cho ngân hàng trong thời gian quy định, hoặc nếu không nộp
được trong thời hạn quy định thì nhà xuất khẩu phải làm giấy đề nghị gia hạn
hiệu lực L/C gửi tới công ty. Công ty thường chấp nhận đề nghị gia hạn của nhà
xuất khẩu, nên vẫn kí hối phiếu đòi tiền ngân hàng mở L/C.
Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, sau đó gửi bộ chứng
từ copy cho công ty, nếu cong ty kiểm tra và thông báo bộ chứng từ phù hợp với
Năm
2010
So sánh năm
2009/2008
So sánh năm
2010/2009
Thay đổi TT% Thay đổi TT%
T/T 2 3 3 1 50.00 0 0
L/C 8 9 13 1 12.50 4 44.44
(Nguồn: Báo cáo hàng năm của công ty)
Theo như bảng thống kê, phương thức chuyển tiền với ưu điểm là thủ tục
nhanh, các chi phí nghiệp vụ liên quan thấp và thuận tiện nên được áp dụng đối
với các đơn hàng nhỏ lẻ, số lượng ít trung bình chỉ từ 2 – 3 hợp đồng. Năm
2008, số hợp đồng sử dụng phương thức T/T là 2 hợp đồng, chiếm 25% tổng số
hợp đồng nhập khẩu. Đến năm 2010, số hợp đồng là 3, chiếm 23.08% tổng số
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 24
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường ĐHTM
hợp đồng. Số lượng các hợp đồng sử dụng phương thức T/T có tăng, tuy nhiên
tỷ trọng lại có xu hướng giảm.
Bên cạnh đó, số lượng hợp đồng sử dụng phương thức L/C lại gia tăng.
Năm 2009 số hợp đồng sử dụng l/C là 9 hợp đồng chiếm 75% tổng số các hợp
đồng. Năm 2010, số hợp đồng sử dụng L/C tăng lên tới 13 hợp đồng, chiếm
81.25% tổng số hợp đồng. Tỷ trọng các hợp đồng sử dụng phương thức L/C
đang ngày càng gia tăng. Mức độ tăng trưởng năm 2009 so với năm 2008 là
12.5% thì tới năm 2010 đã tăng trưởng 44.44% so với năm 2009. Sự gia tăng
này là do phía nhà xuất khẩu có yêu cầu chỉ định việc sử dụng phương thức này
nhằm đảm bảo cho quá trình nhập khẩu.
Bảng 2.2: Các phương thức TTQT của công ty (về giá trị hợp đồng)
SV: Hoàng Thị Phương
Trang 25