i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN NGỌC THUỶ
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN VÀ DIỄN BIẾN
MẬT ĐỘ CỦA MỘT SỐ SÂU HẠI CHÍNH VÀ
THIÊN ĐỊCH TRÊN MÔ HÌNH CANH TÁC LÚA 3 GIẢM
3 TĂNG TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động
viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy
giáo TS.Nguyễn Đức Thạnh, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá
trình thực hiện đề tài của mình.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong
khoa Sau đại học, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình
truyền đạt kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong 2 năm học tập vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào
tạo sau đại học, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi
trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
MỤC LỤC
2.4.1. Chọn điểm điều tra 29
2.4.2. Phương phá p điề u tra 29
2.5. Phương pháp xử lý số liệu 30
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1. Kết quả điều tra thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2011 và vụ xuân
năm 2012 tại TP Thái Nguyên 31
3.2. Kết quả điều tra diễn biến mật độ một số sâu hại chủ yếu trên lúa
canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà ở vụ mùa năm 2011
và vụ xuân năm 2012 34
3.2.1. Kết quả điều tra diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên lúa canh tác 3 giảm 3
tăng và canh tác đại trà ở vụ mùa năm 2011 và vụ xuân năm 2012 34
3.2.2. Kết quả điều tra diễn biến tỉ lệ dảnh héo bông bạc do sâu đục thân
lúa 2 chấm gây hại trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 36
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
3.2.3. Kết quả điều tra diễn biến mật độ rầy nâu trên lúa canh tác 3 giảm 3
tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 37
3.3. Kết quả điều tra diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu khi áp dụng một
số biện pháp kỹ thuật trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh
tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 39
3.3.1. Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy trên lúa canh tác
3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 39
3.3.2. Kết qủa điều tra diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh
tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà khi phun thuốc BVTV
trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 41
3.3.3. Kết quả điều tra diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh
tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà khi bón phân trong vụ
mùa 2011 và vụ xuân 2012 43
3.4. Kết quả điều tra thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa
Bảng 3.1: Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa mùa
năm 2011 tại TP Thái Nguyên 32
Bảng 3.2: Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa xuân
năm 2012 tại TP Thái Nguyên 33
Bảng 3.3. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng
và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 35
Bảng 3.4: Diễn biến tỉ lệ dảnh héo, bông bạc do sâu đục thân gây ra trên
lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011
và vụ xuân 2012 36
Bảng 3.5: Diễn biến mật độ rầy nâu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh
tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 38
Bảng 3.6. Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy trên
lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011
và vụ xuân 2012 40
Bảng 3.7. Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng
và canh tác đại trà khi thuốc BVTV trong vụ mùa 2011 và vụ
xuân 2012 42
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và
canh tác đại trà khi bón phân trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 43
Bảng 3.9 : Thành phần thiên địch của sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng
trên lúa mùa năm 2011 tại TP. Thái Nguyên 45
Bảng 3.10: Thành phần thiên địch của sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng
trên lúa xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên 46
Bảng 3.11: Diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi trên ruộng 3 giảm 3 tăng và
ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 48
Bảng 3.12 : Diễn biến mật độ bọ rùa đỏ trên ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất
đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 49
Bảng 3.13: Diễn biến mật độ kiến ba trên ruộng 3 giảm 3 tăng và
ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 50
trọng trong việc đảm bảo an toàn lương thực cho nhân dân. Việc yêu cầu
tập trung sản xuất lúa gạo để đáp ứng cho đà tăng dân số nhanh chóng đã
đưa đến sự thay đổi trong kỹ thuật sản xuất lúa. Vì vậy một trong những
khâu quan trọng trong quá trình sản xuất khiến nông dân vừa tốn sức người
sức của chính là công tác phòng trừ sâu bệnh cho ruộng lúa của mình. Với
quan niệm cấy thật dầy, bón thật nhiều phân đạm thì mới đủ số chồi để đạt
được năng suất làm cho tình hình sâu hại ngày càng gia tăng. Vì nóng lòng
cho ruộng lúa của mình mà nông dân đổ vào đồng rộng một lượng thuốc
hoá học ngày càng nhiều với hi vọng là sẽ tiêu diệt hết dịch hoạ. Một sự
thật hiển nhiên là nơi nào người nông dân phun nhiều thuốc trừ sâu càng
nhiều thì nơi ấy dịch hại ngày càng phát triển nhiều thêm và những nơi ấy
môi trường nước, đất ngày càng bị ô nhiễm. Một trong những bước đột phá
trong quản lý dịch hại, nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc trồng lúa, tăng
thu nhập cho những nông dân và bảo vệ môi trường, tiến tới xây dựng nền
nông nghiệp bền vững đó là Bộ NN và PTNT đã xây dựng chương trình 3
giảm - 3 tăng áp dụng cho canh tác lúa. 3 giảm tức là : -Giảm lượng giống.
- Giảm lượng thuốc trừ sâu, bệnh. - Giảm lượng phân đạm. Khi áp dụng 3
giảm thì năng suất không giảm mà có chiều hướng tăng và điều chính yếu
là tăng lợi nhuận cho người nông dân trồng lúa. 3 tăng tức là: - Tăng năng
suất lúa. - Tăng chất lượng lúa gạo. - Tăng hiệu quả kinh tế. Như vậy,
muốn tăng năng suất cần áp dụng 3 giảm. Muốn tăng chất lượng lúa gạo
cần sử dụng đúng giống lúa, bón phân cân đối hợp lý. Nếu áp dụng tốt
chương trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên thì việc tăng hiệu quả kinh tế
cho người trồng lúa rất dễ dàng đạt được.
Hệ thống canh tác lúa theo hình thức 3 giảm 3 tăng bước đầu cho kết
quả: lượng thóc giống giảm 70% so với ruộng của nông dân, lượng phân
đạm giảm 20% đến 25%, năng suất tăng bình quân từ 9% đến 15%. Do
cây lúa khoẻ nên khả năng kháng sâu bệnh tốt làm giảm lượng thuốc
phòng chống sâu bệnh, một số mô hình đã không sử dụng thuốc phòng trừ
sâu bệnh lúa vẫn cho năng suất cao và chất lượng tốt. Theo Đặng Thị Bình
phun thuốc BVTV) trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác
đại trà.
+ Đề xuất biện pháp canh tác hợp lý nhằm giảm mức độ thiệt hại do
sâu hại gây ra, góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất lúa và tăng hiệu quả
kinh tế cho người trồng lúa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về thành phần và diễn biến
mật độ một số sâu hại và thiên địch chủ yếu qua các giai đoạn sinh trưởng
của lúa. Những dẫn liệu khoa học về diễn biến mật độ một số sâu hại và
thiên địch chủ yếu dưới sự tác động của các biện pháp kỹ thuật trên mô
hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác thông thường, góp phần đề xuất
một số biện pháp kỹ thuật trong canh tác lúa phù hợp với điều kiện ở thành
phố Thái Nguyên.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Qua kết quả điều tra về tập quán canh tác lúa của nông dân cho thấy
có một bộ phận nông dân còn: Bón nhiều đạm, bón không cân đối, bón
chưa đúng thời điểm, chưa đúng cách, phun thuốc trừ sâu khi chưa cần
thiết. Hậu quả là sâu bệnh nhiều, chi phí cao. Vì vậy, đề tài được thực hiện
tại những vùng trồng lúa có kiến thức canh tác lúa bền vững còn hạn chế.
Qua việc thử nghiệm về mật độ cấy, bón phân và sử dụng thuốc
BVTV để xác định rõ những ưu, nhược điểm của các biện kỹ thuật của
nông dân áp dụng, khắc phục những nhược điểm đó bằng áp dụng những
biện pháp hợp lý nhằm giảm chi phí, giảm độc hại cho môi trường và sức
khoẻ mà vẫn đạt hiệu quả kinh tế.
Mục tiêu chung là góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm,
đồng thời đưa ra được những khuyến cáo trong việc bố trí cơ cấu giống
tượ ng rấ t phổ biế n trong thự c tế là nhiề u ngườ i muố n cây trồ ng sinh trưở ng
tố t mà bó n nhiề u đạ m, ít chú ý bón lân và kali làm cho cây quá xanh tốt và
mề m yế u, tạo điều kiện thích hợp cho sâu phát triển phá hại làm giảm năng
suấ t; điể n hì nh như: sâu cuốn lá, rầy nâu…, Phân bón khi sử dụng sẽ để lại
một lượng không nhỏ dư lượng do không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác
động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp. Uớc tính năm 2007, có
khoảng 60-65% lượng phân đạm không được cây trồng hấp thụ (tương ứng
với 1,77 triệu tấn urê, 55- 60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn
supe lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua
(KCl) được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng).
Bên cạnh đó Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng ngày
càng gia tăng, trong đó có rất nhiều thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
gốc xuất xứ, trôi nổi trên thị trường. Đến tháng 8 năm 2007, lượng thuốc
bảo vệ thực vật tồn lưu phải tiêu huỷ 152 tấn. Việc lạm dụng thuốc BVTV
trong phòng trừ dịch hại, sử dụng tuỳ tiện không tuân thủ các quy trình kỹ
thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu
quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm,
đồng ruộng bị ô nhiễm. Việc sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật làm cho
sâu bệnh quen thuốc gây ra hiện tượng kháng thuốc BVTV, mặt khác do sử
dụng nhiều loại thuốc BVTV làm cho các loài sinh vật có ích (thiên địch)
bị tiêu diệt, gây mất cân bằng sinh thái và như vậy sâu hại càng phát triển
mạnh hơn và nông dân càng dùng thuốc nhiều hơn đã khiến cho sâu có xu
hướng phát triển và gây hại mạnh hơn, do đó khiến cho việc phòng trừ sâu
bệnh càng khó khăn hơn. Theo Trần Huy Thọ (1983) [50], thiệt hại do
sâu hại lúa gây ra lớn nhất ở Châu Á (31,5%). Ở Việt Nam sâu hại gây
thất thu 10% sản lượng, có một số nơi không cho thu hoạch.
Việc cấy quá dày hay bón phân hoá học và phun thuốc BVTV
triệu người ăn trong một năm, sâu hại là một trong những nguyên nhân gây
nên thiệt hại. Đối với sản xuất nông nghiệp, yếu tố chính làm hạn chế năng
suất cây trồng là dịch hại (sâu, bệnh hại, cỏ dại). Trong đó, riêng sâu hại đã
lấy đi hơn 13% tổng sản lượng, với tổng giá trị ước tính 29,7 tỉ đô la
(Cramer, 1997, dẫn theo Hà Quang Hùng, 1998) [27]. Ở Việt Nam
(Nguyễn Công Thuật, 1996) [52] cũng xác định nhận mức độ thiệt hại khá
lớn do sâu bệnh, với 20% sản lượng cây trồng bị mất. Thiệt hại do sâu hại
gây ra cho lúa ở châu Á trung bình là 34,4% (Cramer.1967) [27], trong thí
nghiệm ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế là khoảng 40%. Thành phần côn
trùng và nhện nhỏ dùng cây lúa làm thức ăn khá phong phú. Trên thế giới
đã ghi nhận được hơn 800 loài côn trùng gây hại cho lúc ở nhiều mức độ
khác nhau. (Shepard, 1994) [89].
1.2.1.1. Tình hình nghiên cu một số sâu hại chủ yếu trên lúa nưc ngoài
a/ Sâu cuốn lá nhỏ :
* Thành phần: Kết quả nghiên cứu về thành phần sâu cuốn lá nhỏ của
W.H. Reissig, E.A. Heinrichs, J.A.Litsinger, K.Moondy (1985) [100] cho thấy
ở Châu Á có bốn loài: Cnaphalocrocis medinalis Guenee, Marasmia (Susumia)
exgua Butler, Marasmia patnalis Bredley và Marasmia Ruralis Walker. Cả
bốn loài này đều thuộc họ ngài sáng (Pyralidae), bộ cánh vẩy (Lepidoptera).
* Sự phân bố: Sâu cuốn lá nhỏ tập trung nhiều nhất ở Châu Á. Loài
C.medinalis Guenee phân bố chủ yếu ở Châu Á, Châu Phi, Châu Úc và
các nước Đông Nam Á. Loài Marasmia exigua Butler phân bố chủ yếu ở
Ấn Độ
,
Nephan, Banglades, Malaysia, Triều Tiên, Nhật Bản Gonzales
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
(1974) [73]. Loài Marasmia patnalis Bredley Phân bố ở Philippine,
Malaysia và một phần Indonesia. Loài Marasmia runalis Walker phân bố
từ trứng đến trưởng thành là 25 - 52 ngày. Trong đó thời gian trứng là 3 - 6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
ngày, sâu non là 15 - 36 ngày, nhộng là 6 - 9 ngày.
* Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ: Ở Trung Quốc có 30 loài ong kí
sinh trong đó loài có khả năng kí sinh cao nhất là Apanteles cypris và
Elasmus sp CABI (1999) [65]. Các tác giả Chen và Chin (1983) [68] cho
thấy có 25 loài thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ, trong đó có 21 loài là ong kí
sinh, 2 loài là nhện ăn thịt và 2 loài nấm gây bệnh. Ong Trichogramma
chilonis và Apanteles cypris có mặt thường xuyên trên đồng ruộng và là
những loài giữ vai trò chủ yếu trong việc khống chế số lượng sâu cuốn lá
nhỏ, Liang (1984) [83]. Ở Philippin người ta phát hiện có nhiều loài
thiên địch bắt mồi sâu cuốn lá nhỏ như nhện Lycosa, Oxyopes,
Tetragnatha sp và 6 loài kiến, những loài kiến này 1 giờ có thể diệt từ 4 -
10 sâu non cuốn lá nhỏ JiA. Litsinger (1980) [63]. W.H.Reissing và cộng
sự (1986) [91] cho biết trên đồng ruộng vùng nhiệt đới các kẻ thù tự
nhiên của sâu cuốn lá nhỏ hoạt động rất tích cực, chúng tấn công sâu
cuốn lá nhỏ ở tất cả các pha phát dục. Theo Alam (1964) [62] thì kẻ thù
tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ có vai trò giữ cho chủng quần của sâu
cuốn lá nhỏ phát triển dưới ngưỡng gây hại mà tại đó không cần sử
dụng biện pháp phòng trừ. Tác giả H.C.Copel, J.W.Mestins (1977)
[70] kết luận các loài côn trùng kí sinh, côn trùng bắt mồi và nhện ăn
thịt có vai trò rất quan trọng trong đấu tranh sinh học.
* Biện pháp phòng trừ:
- Sử dụng giống kháng: Tại Ấn Độ khi khảo nghiệm 384 giống lúa
đối với sâu cuốn lá nhỏ ở hai địa phương Gurdaspur và Kapurthala. Kết quả
nhận được 15 giống kháng ở Gurdaspur và 2 giống kháng ở Kapurthala,
nhưng chỉ có một giống kháng chung cho cả 2 địa phương trên, đó là giống
IET.7776 Jaswant và Dhaliwai Cabi (2005) [66]. Việc bố trí tỉ lệ hợp lý các
b/ sâu đục thân lúa hai ch
ấ
m
* Thành phần : Theo Pathak (1994) [90], trên thế giới đã phát hiện được
24 loài sâu đục thân lúa. Trong đó, ở châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon
Blez., Chilo zacconius Blez., Maliarpha separatella (Rog.) và Sesamia
calamistis (Hamp.). Ở Châu Mỹ đã ghi nhận được 6 loài sâu đục thân lúa gồm
Chilo loftini (Dyar), Chilo plejadellus (Zink.), Diatraea saccharalis (Fabr.),
Elasmopalpus lignosellus (Zell.), Rupela albinella (Cramer) và Zeadiatraea
lineolata (Walk.), Shepard (1991) [96]. Lúa ở châu Úc đã phát hiện có 2 loài
sâu đục thân gây hại là Niphadoses palleucus Com. và Phragmatiphila sp,
Thangamuthu (1982) [98]. Tại các nước châu Á có số loài sâu đục thân lúa đã
phát hiện được nhiều nhất, đạt tới 9 loài, đó là các loài Ancylolomia
chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo partellus (Swin.), Chilo
polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Niphadoses gilviberbis (Zell.),
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Tryporyza incertulas (Walk.), Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens
(Walk.) Pathak (1986) [90]. Riêng vùng trồng lúa Đông Nam Á có 7 loài sâu đục
thân sau : Ancylolomia chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo
polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Scirpophaga incertulas
(Walk.), Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens (Walk.) (Pathak,
1975; Reissig et al., 1986) [90], [91].
* Phân bố : Theo Pathak (1994) [90], sâu đục thân lúa hai chấm chỉ
có phân bố ở vùng trồng lúa châu Á. Đến nay đã ghi nhận sâu đục thân
lúa hai chấm có ở các nước như Afghanistan, Ấn Độ
,
Bangladesh, Bhutan,
Burma, Cam-pu-chia,
Trưởng thành chỉ giao phối 1 lần, đẻ trứng từ đêm thứ 2 kể từ khi vũ hoá,
mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng mỗi con cái đẻ từ 2- 5 ổ (Pathak, 1969) [90]. Để
hoàn thành một vòng đời, sâu đục thân hai chấm cần 46 – 54 ngày (Dale,
1994; Reissig et al., 1986) [71], [91]. Trưởng thành cái sâu đục thân lúa
hai chấm có thể đẻ được 100 - 200 trứng [90]. Theo Dale (1994) [71] cho
rằng một trưởng thành cái đẻ được lượng trứng ít hơn, chỉ là 100 - 150
trứng. Theo Reissig et al. (1986) [91] cho rằng một trưởng thành cái đẻ
được 200 - 300 trứng. Theo Dale (1994) [71], trưởng thành đực và
trưởng thành cái loài sâu đục thân lúa hai chấm có tuổi thọ không giống
nhau. Trưởng thành đực của loài sâu đục thân lúa hai chấm thường có
tuổi thọ (4,5 - 8,6 ngày) ngắn hơn tuổi thọ của trưởng thành cái (5,3 - 8,8
ngày), Pham Van Lam (1999) [82].
* Thiên địch của sâu đục thân lúa hai chấm :
Các loài sâu đục thân lúa bị trên dưới 100 loài thiên địch tấn công,
trong đó chủ yếu là các ký sinh (Yasumatsu, 1964) [101]. Số lượng loài
thiên địch của các sâu đục thân lúa đã phát hiện được ở Philippine và
Thái Lan tương ứng là 40 và 37 loài. Sâu đục thân năm vạch Chilo
suppressalis và sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas ở trên
thế giới (tương ứng) đã ghi nhận được 73 và 56 loài ký sinh. Con số này ở
Ấn Độ tương ứng là 19 và 56 loài; ở Philippine là 21 và 17 loài Zhang G.E
(1995) [103]. Trung Quốc nếu tính cả các loài bắt mồi và gây bệnh thì sâu đục
thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas có 113 loài thiên địch, (dẫn theo
Phạm Văn Lầm, (2002) [36] (2000) [35].
Các loài ký sinh nhộng, ký sinh sâu non và vi sinh vật gây bệnh có thể
gây chết tới 58% nhóm sâu đục thân lúa ở vùng Warangal của Ấn Độ
.
Các
loài ong Bracon onukii và Bracon chinensis là những ký sinh quan trọng ở
pha sâu non của sâu đục thân lúa tại Nhật Bản. Chúng có thể gây chết 20 -
30% nhóm sâu đục thân lúa, có khi tới trên 50%. Ong Cotesia flavipes là ký
Litsinger, 1994 [84]).
- Sử dụng giống lúa kháng sâu hại: Đây là biện pháp dễ sử dụng
hơn cả nhất là đối với nông dân vùng nhiệt đới châu Á có diện tích canh
tác không lớn và tiềm năng kinh tế có hạn (Heinrichs et al., (1981) [74].
- Biện pháp sinh học: Ở đảo Andama (Ấn Độ
)
đã nghiên cứu dùng ong
mắt đỏ Trichogramma sp. để trừ sâu đục thân lúa hai chấm S.incertulas cho
kết quả tốt. Thiệt hại do sâu đục thân lúa hai chấm giảm còn 1,6% ở nơi
dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối chứng tỉ lệ này đạt cao hơn và là
10,3%. Biện pháp sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được
nghiên cứu nhiều ở Trung Quốc và Ấn Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu
đục thân. Tại Karnataka (Ấn Độ)
đã nghiên cứu thả ong mắt đỏ màu đen
Trichogramma japonicum định kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá
nhỏ và sâu đục thân lúa hai chấm (Misra et al., 1994) [85].
- Biện pháp hoá học : Kumar (1995) [81] khuyến cáo cần dựa vào kết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
quả theo dõi bẫy đèn để xác định thời điểm phun thuốc trừ một số sâu hại lúa,
trong đó có sâu đục thân lúa hai chấm S. incertulas. Ơ và Yu (1980) [102] đã
khuyến cáo thời điểm phun thuốc đúng để trừ sâu đục thân lúa hai chấm là 1 - 2
ngày trước đỉnh cao sâu non nở rộ.
c/ Rầy nâu :
Rầy nâu hay còn được gọi là muội nâu có tên khoa học là
Nilaparvata lugens Stal, thuộc giống Nilaparvata, thuộc họ muội bay
Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhynacha bộ cánh
đều Homoptera.
sâu hại chính đó là: sâu đục thân bướm 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, sâu phao,
rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít dài, sâu năn, Cục BVTV (2007) [19], qua
nghiên cứu điều tra sâu hại lúa vùng đầm phá tại Thừa Thiên Huế đã
xác định được 6 loài sâu hại chính đó là: sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá
lớn, sâu năn, bọ xít dài, châu chấu lúa, bọ xít xanh, trong đó sâu cuốn lá
nhỏ, bọ xít lúa và sâu năn là phổ biến nhất, Nguyễn Trường Thành
(2003) [48]; Cục BVTV - Báo cáo tổng kết 2005; 2006 [17]; [18].
* Nghiên cứu về ảnh hưở ng củ a thuố c trừ sâu đế n sâu hạ i:
- Theo Phạm Văn Lầm (1994) [33] nh hưởng thuốc hóa học : Việc
sử dụng biện pháp hoá học để phòng trừ sâu bệnh trong một thời gian dài
đã gây ra nhiều tác hại đáng kể. Trong khi sử dụng thuốc người ta nhận
thấy muốn đạt được hiệu quả trừ sâu như lúc ban đầu, hàng năm cần phải
tăng nồng độ thuốc. Cho đến một lúc nào đó sâu bệnh trở nên quen thuốc
và không còn bị chết do thuốc, sâu đã hình thành tính kháng thuốc. Từ việc
kháng một loại thuốc, do sự sử dụng không đúng cách con người đã tạo ra
các chủng sâu kháng lại tất cả các loại thuốc trừ sâu.
Việc sử dụng thuốc trừ sâu thiếu thận trọng cũng làm xuất hiện
những loại sâu hại mới mà trước đây chúng là loại sâu hại không quan
trọng bị các loài khác lấn át.
Sử dụng nhiều thuốc trừ sâu trên đồng ruộng cũng gây mất cân bằng
sinh thái-đó là chuỗi mắt xích giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch. Thuốc
sâu tiêu diệt thiên địch là yếu tố kìm hãm mật độ sâu hại -nên sâu phát triển
tự do và bộc phát thành dịch.
Ngoài ra thuốc trừ sâu còn gây ngộ độc cho con người và ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường sống, đến động vật thuỷ sinh. Nguy hiểm hơn
là nó tích luỹ trong nông sản để rồi gây hại cho những người tiêu dùng các
nông sản đó.
- nh hưởng của thuốc sinh học : Để hạn chế tác hại của sâu bệnh, bảo
vệ môi trường cũng như sức khoẻ con người, thuốc trừ sâu sinh học
(TTSSH) được coi là một biện pháp đầy tính khả thi. Việc ứng dụng thành
để tiêu diệt thì buộc phải sử dụng thuốc hoá học.
Thứ nhất là làm thế nào trong khu vực mình có thiên địch sẵn để khi sâu
hại tới nó tới liền và phải ở mật số càng cao. Do đó không chỉ quản lý trên 1
ruộng mà trên toàn cả cánh đồng, vì ở những ruộng khác thiên địch cũng có thể
bay tới ruộng của mình, nếu ruộng khác không có thiên địch, ruộng mình
cũng không có thì như vậy không có thiên địch để ức chế sâu hại, Hà
Quang Hùng (1986) [25].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Thứ hai con thiên địch có mặt khi có con sâu hại, vì nó ăn con sâu
hại để sống nếu không có sâu hại cũng không có thiên địch, như vậy phải
làm sao tạo ra môi trường có sẵn thức ăn cho thiên địch, đó là vào đầu vụ
lúa không nên làm sạch cỏ trên bờ mà chỉ cắt xuống vừa phải để trên cỏ có
những loại sân ăn lá sống trên đó và chính nó là nguồn thức ăn nuôi con
thiên địch. Việc dùng thuốc diệt sạch cỏ trên bờ là không có lợi, hà Quang
Hùng (1986) [26].
Một vấn đề nữa khi dùng thuốc hoá học nên nghĩ tới chuyện chọn loại
thuốc nào vừa có hiệu quả đối với sâu hại vừa ít có hại cho thiên địch. Có
những loại thuốc gây hại nhiều có những loại gây hại rất ít thậm chí có
những loại không gây hại cho thiên địch. Chúng ta chọn những loại thuốc
có thể giết chết con sâu hại nhưng không gây hại cho thiên địch đó là điều
có lợi để bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng và việc làm này áp dụng cho
toàn cả khu vực thì sau một vài vụ thiên địch có mật số cao thì có đủ sức để
ức chế khi mà sâu hại bộc phát trên ruộng.
1.2.2.2. Tác dụng của biện pháp canh tác lúa 3 giảm 3 tăng đến sâu hại và
thiên địch
Ngày nay, trong sản xuất lúa, việc lạm dụng phân hoá học và các hoá
chất bảo vệ thực vật đã làm ô nhiễm môi trường, không khí, ô nhiễm nguồn
nước, môi trường đất. Sản xuất lúa ngày một gia tăng do đẩy mạnh thâm
cho lúa sinh trưởng nhanh, lá lúa chuyển màu xanh nhanh. Nhưng nếu bón
quá lượng phân đạm so với nhu cầu của cây lúa thì không những không
làm tăng năng suất mà còn làm cho cây lúa mất cân đối về dinh dưỡng dễ
bị sâu bệnh tấn công, dẫn đến giảm năng suất. Đồng thời lãng phí thêm tiền
phân bón, lượng đạm dư thừa làm ô nhiễm môi trường. Nên sử dụng bảng
so màu lá lúa để đáp ứng đúng và đủ nhu cầu đạm cho ruộng lúa.
* 3 Tăng: Tăng năng suất lúa, tăng chất lượng lúa gạo, tăng hiệu quả
kinh tế. Như vậy, muốn tăng năng suất cần áp dụng đúng quy trình kỹ
thuật, áp dụng 3 giảm. Muốn tăng chất lượng lúa gạo cần sử dụng giống lúa
chất lượng cao, bón phân cân đối hợp lý, chú ý các khâu kỹ thuật sau thu
hoạch. Nếu áp dụng tốt chương trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên sẽ góp
phần tăng hiệu quả kinh tế. Theo khuyến cáo của Ngành Nông nghiệp cấy
lúa đúng lịch thời vụ: giúp tránh được các đợt rầy di trú, tạo lợi thế cho cây
lúa phát triển tốt. Xuống giống đồng loạt, thu hoạch nhanh, làm thế nào để
có thời gian cách ly khoảng 3 tuần lễ giữa 2 vụ lúa trong cùng một khu vực
(theo nhận định thường là trà lúa thứ 1 nuôi bệnh cho trà lúa thứ 2) nhằm
cắt đứt nguồn lây truyền và thức ăn của sâu hại trên đồng ruộng, làm giảm
mật số sâu hại và giảm nhẹ thiệt hại của một số bệnh khác. Mật độ cấy
thích hợp giúp lúa phát triển tốt, chế sâu bệnh phát triển, giúp chống chịu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
tốt với sâu bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch hoạt động làm giảm
nhẹ thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Do đó cấy với mật độ thích hợp cũng là
biện pháp giúp phòng ngừa sâu bệnh. Cục BVTV (2007) [4].
1.2.2.3. Tnh hnh nghiên cu một số sâu hại lúa chủ yếu
a/ Sâu cuốn lá nhỏ:
* Thành phần: Theo điều tra của Viện BVTV (1976) [59]. Vùng Gia
Lâm - Hà Nội đã xác định được thành phần sâu cuốn lá nhỏ có 2 loài gây
hại chính đó là Cnaphalacrocis medinalis và Marasmia exigua. Trong mấy