BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA MỘT SỐ SÂU HẠI CHÍNH TRÊN CÂY CÀ CHUA VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG TỔNG HỢP Ở TỈNH LÂM ĐỒNG Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số : 62.62.01.12 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH
vào hồi giờ ngày tháng năm 2014 Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1. Thư viện Quốc gia Việt Nam
2. Thư viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
3. Thư viện Viện Môi trường Nông nghiệp
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây cà chua là cây rau ăn quả cao cấp được trồng từ rất lâu ở Việt Nam và được tỉnh
Lâm Đồng chú trọng và phát triển mạnh thành những vùng chuyên canh. Nhờ ứng dụng
nông nghiệp công nghệ cao như ghép cây giống, dùng màng phủ…, năng suất cà chua ở
Lâm Đồng được cải thiện rõ rệt, có nơi năng suất quả đạt 100 tấn/ha/vụ.
Do thâm canh cao, sâu bệnh thường xuyên phát sinh và là yếu tố cản trở lớn sản xuất
cà chua ở tỉnh Lâm Đồng. Mặc dù người trồng cà chua đã được tập huấn nhiều về IPM,
VietGAP, nhưng vẫn lạm dụng thuốc hóa học BVTV. Đây là khó khăn của tỉnh Lâm Đồng
trong giám sát chất lượng, cấp chứng chỉ, xây dựng thương hiệu cà chua an toàn. Để khắc
phục vấn đề này cần phải coi quản lý dịch hại tổng hợp đóng một vai trò quan trọng trong
sản xuất cà chua ở tỉnh Lâm Đồng.
Cho đến nay, ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về sâu hại cây cà chua, chưa có quy
trình IPM trên cây cà chua. Đặc biệt, ở tỉnh Lâm Đồng chưa có nghiên cứu chuyên sâu về
sâu hại cây cà chua. Vì vậy, luận án đã chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh
thái của một số sâu hại chính trên cây cà chua và biện pháp phòng chống tổng hợp ở
2
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Xác định được 14 loài sâu hại cây cà chua, bổ sung loài ruồi đục lá Liriomyza
huidobrensis; khẳng định bọ phấn trắng thuốc lá Bemisia tabaci, ruồi đục lá Liriomyza
huidobrensis là những sâu hại chính trên cây cà chua ở tỉnh Lâm Đồng.
- Lần đầu cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học, tính hai mặt của bọ xít mù thuốc lá Nesidiocoris tenuis trên cây cà chua ở Việt Nam
và bổ sung dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ phấn
trắng thuốc lá B. tabaci, ruồi đục lá L. huidobrensis, sâu xanh Helicoverpa armigera trên
cây cà chua ở điều kiện tỉnh Lâm Đồng.
- Luận án cung cấp dẫn liệu khoa học mới về hiệu quả của một số biện pháp phòng
chống sâu hại chính ở các vùng trồng cây cà chua của tỉnh Lâm Đồng.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án chính có 134 trang với 34 bảng số liệu, 19 hình. Luận án gồm 5 phần: Mở
đầu (6 trang), Chương 1. Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài (30 trang),
Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu (19 trang), Chương 3. Kết quả nghiên
cứu và thảo luận (76 trang), Kết luận và đề nghị (3 trang). Đã tham khảo 139 tài liệu, bao
gồm 31 tài liệu tiếng Việt và 108 tài liệu tiếng nước ngoài.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài: Hệ thống các biện pháp IPM trên cây cà chua được thiết
lập dựa trên các mối quan hệ qua lại tay ba giữa cây cà chua, sâu hại và thiên địch. Để
IPM trên cây cà chua thành công đòi hỏi phải có hiểu biết về mối quan hệ qua lại tay ba
này. Ở các vùng địa lý khác nhau có số lượng loài sâu hại và loài hại chính trên cây cà
chua không giống nhau. Quần xã côn trùng trên cây cà chua chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố môi trường. Sự tác động của các yếu tố này lên quần xã côn trùng rất đa dạng và phức
tạp, không giống nhau ở các vùng sinh thái khác nhau và ngay tại cùng một nơi, nhưng
vào các thời điểm khác nhau.
1.3.2. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học một số sâu hại chính: Ở Việt Nam, đến nay
chỉ có một số nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ phấn trắng thuốc
lá B. tabaci, sâu xanh H. armigera, H. assulta trên cây cà chua. Chưa có nghiên cứu về bọ
xít mù thuốc lá N. tenuis và ruồi đục lá L. huidobrensis hại cây cà chua.
1.3.3. Nghiên cứu phòng trừ sâu hại cây cà chua: Ở nước ta, đã nghiên cứu áp dụng
biện pháp canh tác, cơ giới vật lý (dùng màng nylon phản quang che phủ đất trước khi
trồng, trồng xen cây cà chua với cây cây cà Solanum viarum,…), biện pháp sinh học (sử
dụng ký sinh Trichogramma spp., các chế phẩm sinh học NPV-Ha, delphin,…), biện pháp
hóa học (dùng thuốc secure 10EC, regent 800WG,…). Chưa có nghiên cứu về IPM trên
cây cà chua ở nước ta.
1.4. Nhận xét chung và những vấn đề quan tâm: Ở nước ngoài đã tiến hành nghiên cứu
khá sâu và rộng, đầy đủ, toàn diện về mọi khía cạnh đối với sâu hại cây cà chua. Ở Việt
Nam chưa có nhiều nghiên cứu về sâu hại cây cà chua. Các nghiên cứu về sâu hại cây cà
chua chủ yếu được thực hiện ở vùng phụ cận Hà Nội. Tại tỉnh Lâm Đồng, chưa có một
nghiên cứu nào đã công bố chính thức về sâu hại trên cây cà chua.
Luận án này quan tâm đến thành phần loài sâu hại, đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học của một số sâu hại chính trên cây cà chua và biện pháp phòng chống chúng theo
hướng tổng hợp ở tỉnh Lâm Đồng.
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu trong phòng được thực hiện ở Chi cục BVTV tỉnh Lâm Đồng. Nghiên
cứu ở ngoài đồng ruộng được thực hiện tại Đức Trọng, Đơn Dương.
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến năm 2014.
2.2. Vật liệu, dụng cụ và thiết bị nghiên cứu
Giống cà chua trồng phổ biến ở Lâm Đồng (giống Anna, Kim cương đỏ, Hồng đào).
Các loài sâu hại phổ biến, thiên địch trên cây cà chua, một số thuốc bảo vệ thực vật (map-
2.4.3. Nghiên cứu diễn biến mật độ quần thể, yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến số lượng
một số loài côn trùng ăn thực vật chính trên cây cà chua
Thực hiện tại tại hai địa điểm đại diện cho vùng nghiên cứu là huyện Đơn Dương và
Đức Trọng. Điểu tra ở đồng ruộng được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật của Bộ Nông
nghiệp và PTNT (QCVN-01-38:2010/BNNPTNT) và phương pháp của Viện Bảo vệ thực
vật (1997).
2.4.4. Nghiên cứu giải pháp phòng chống sâu hại chính trên cây cà chua theo hướng
tổng hợp phục vụ sản xuất cà chua an toàn ở Lâm Đồng
Nghiên cứu biện pháp canh tác, thủ công cơ giới
Các thí nghiệm biện pháp canh tác, thủ công ở điều kiện đồng ruộng được bố trí trên
diện rộng, không nhắc lại mỗi thí nghiệm là 1.000m
2
. Mật độ sâu hại trong các thí nghiệm
được điều tra theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Nông nghiệp và PTNT (QCVN-
01-38:2010/BNNPTNT) và phương pháp của Viện Bảo vệ thực vật (1997).
Nghiên cứu biện pháp sinh học và sử dụng thuốc thảo mộc
* Nghiên cứu lợi dụng thiên địch tự nhiên để hạn chế sâu hại chính trên cây cà chua
Xác định thành phần thiên địch và vai trò của chúng trong hạn chế sâu hại cây cà
chua được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1997).
Khả năng ăn mồi của bọ xít mù thuốc lá được tiến hành ở phòng thí nghiệm. Những
cá thể bọ xít mù thuốc lá (trưởng thành, ấu trùng) cùng ngày tuổi được chọn để thí nghiệm
và nuôi cá thể trong ống nghiệm. Trước khi bắt đầu thí nghiệm bỏ đói 24 giờ. Hàng ngày
cung cấp cho mỗi cá thể bọ xít mù thuốc lá một lượng con mồi nhất định (nhộng bọ phấn
trắng thuốc lá, nhộng ruồi đục lá,…). Sau 24 giờ tiến hành kiểm tra số lượng con mồi đã bị
tiêu diệt. Sau đó thay con mồi mới với số lượng như cũ. Thí nghiệm tiến hành từ ấu trùng
mới nở đến trưởng thành chết. Thí nghiệm tiến hành với 20-30 cá thể bọ xít mù thuốc lá.
5
* Đánh giá hiệu lực của phẩm sinh học, thảo mộc sẵn có
Chọn một số chế phẩm sinh học, thảo mộc sẵn có trên thị trường để thí nghiệm. Thí
Thực hiện 2 mô hình phòng trừ tổng hợp sâu hại cây cà chua tại Đức Trọng và Đơn
Dương. Diện tích mỗi mô hình 1.000m
2
. Trong mô hình áp dụng các biện pháp phòng
chống sâu hại miệng chích hút ngay từ giai đọan vườn ươm bằng thuốc dragon, dầu
khoáng SK. Khi đưa ra trồng, ruộng trồng cây cà chua được phủ nilon, kết hợp biện pháp
dùng bẫy xua đuổi. Đối chứng là ruộng cà chua làm theo nông dân.
2.5. Phương pháp tính toán xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp của Gomez và Gomez (1984) [74].
Các bước xử lý số liệu được thực hiện theo chương trình IRRISTAT và Microsoft EXCEL
trên máy tính.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài sâu hại trên cây cà chua ở tỉnh Lâm Đồng
3.1.1. Thành phần loài sâu hại đã phát hiện trên cây cà chua: Số lượng loài chân đốt
ăn thực vật đã ghi nhận được trên cây cà chua ở tỉnh Lâm Đồng năm 2012-2014 nhiều hơn
so với ở Hoa Kỳ, nhưng ít hơn so với ở Ucraina. Số lượng loài chân đốt tấn công cây cà
chua ở 2 quốc gia này tương ứng là 11 loài và 18 loài (Foster, 2010; Васильев, 1975). Số
lượng loài chân đốt ăn thực vật đã thu thập ở trong sinh quần cây cà chua tại Lâm Đồng
năm 2012-2014 nhiều hơn 3 loài so với kết quả điều tra cơ bản năm 1967-1968, chỉ bằng
một nửa số loài sâu hại cây cà chua điều tra ở miền Nam năm 1977-1979 (Viện Bảo vệ
thực vật, 1976, 1999). Thành phần loài chân đốt ăn thực vật trong sinh quần cây cà chua
tại tỉnh Lâm Đồng nghèo nàn hơn so với ở ngoại thành Hà Nội. Tại vùng Đông Anh và
Gia Lâm (Hà Nội), trong các năm 2008-2009 đã ghi nhận được 24 loài chân đốt ăn thực
vật trong sinh quần cây cà chua (Nguyễn Kim Chiến, 2012). Đến năm 2013, ở Việt Nam
đã ghi nhận được 44 loài chân đốt ăn thực vật trên cây cà chua (Phạm Văn Lầm, 2013).
Như vậy, số lượng loài chân đốt ăn thực vật phát hiện được trên cây cà chua tại Lâm Đồng
năm 2012-2014 ít hơn rất nhiều (14 loài so với 44 loài) so với số loài chân đốt ăn thực vật
6
Hemiptera - Cánh nửa 2 2 0 0 2 2 1 2 3 3
Thysanoptera - Cánh tơ 1 1 1 1 0 0 1 6 1 1
Coleoptera - Cánh cứng 1 1 0 0 2 5 1 1 2 5
Lepidoptera - Cánh vảy 1 4 2 4 2 7 2 6 3 8
Diptera - Hai chan 2 2 0 0 0 0 2 3 2 6
Acari – Bét 1 1 0 0 0 0 1 1 1 1
Tổng số 11 14 7 11 12 29 12 24 18 44
Ghi chú: A: Số lượng họ B: Số lượng loài
1
: Vi
ện BVTV (1976)
2
: Viện BVTV (1999)
3
: Nguyễn Kim Chiến (2012)
4
: Phạm Văn Lầm (2013)
Đến năm 2013, đã thống kê được các loài Liriomyza bryoniae (Kalt.), L. sativae
Blanch. và L. trifolii Burg là sâu hại cây cà chua (Phạm Văn Lầm, 2013). Loài ruồi đục lá
L. huidobrensis mới chỉ phát hiện được ở tỉnh Lâm Đồng trên các loại cây rau và khoai tây
(Andersen, 2003), chưa được tài liệu hóa chính thức là sâu hại cây cà chua ở Lâm Đồng.
Nghiên cứu này đã bổ sung loài ruồi đục lá Liriomyza huidobrensis cho danh lục sâu hại
cây cà chua ở Việt Nam.
Các loài chân đốt ăn thực vật thu thập tại tỉnh Lâm Đồng năm 2012-2014 đã được xác
định được tên khoa học. Tên khoa học của chúng được trình bày tại bảng 3.2.
Thành phần loài chân đốt ăn thực vật đã ghi nhận được trên cây cà chua trong các
năm 2012-2014 ở hai ở hai huyện Đức Trọng và Đơn Dương tương tự như nhau cả về định
tính và định lượng.
Hầu hết các loài chân đốt ăn thực vật đã ghi nhận được trên cây cà chua ở huyện Đức
Trọng và Đơn Dương trong năm 2012-2014 có mức độ hiện diện từ rất ít gặp đến gặp
Bộ cánh nửa - Hemiptera
4 Bọ xít mù thuốc lá
Nesidiocoris tenuis (Reuter)
1, 2
Miridae +++ +++
5 Bọ xít xanh Nezara viridula (Linnaeus) Pentatomidae - -
Bộ cánh tơ – Thysanoptera
6 Bọ trĩ Thrips sp.
1, 2
Thripidae ++ ++
Bộ cánh cứng – Coleoptera
7 Bọ rùa ăn lá Epilachna sp. Coccinellidae - -
Bộ cánh vảy – Lepidoptera
8 Sâu xám Agrotis ipsilon (Hufnagel) Noctuidae - -
9 Sâu xanh
Helicoverpa armigera (Hübn.)
2
Noctuidae ++ ++
10 Sâu keo da láng Spodoptera exigua (Hübner) Noctuidae - -
11 Sâu khoang Spodoptera litura (Fabricius)
1,
Noctuidae + ++
Bộ hai cánh – Diptera
3.1.2. Tần suất xuất hiện của các loài sâu hại cây cà chua
Kết quả điều tra trong 4 vụ cà chua trồng không phun thuốc hóa học trừ sâu tại Đức
Trọng cho thấy chỉ bắt gặp được 9 loài chân đốt ăn thực vật. Trong đó các loài bọ phấn
trắng thuốc lá B. tabaci, bọ xít mù thuốc lá N. tenuis và ruồi đục lá L. huidobrensis có tần
suất xuất hiện đạt rất cao, tương ứng là 92,3-100%; 84,6-100% và 78,6-100%.
8
3.1.3. Độ thường gặp của một số loài sâu hại cây cà chua
Trong một vụ cà chua, độ thường gặp của bọ phấn trắng thuốc lá, ấu trùng của ruồi
đục lá, bọ xít mù thuốc lá rất biến động ở giai đoạn 7-21 ngày sau trồng và luôn đạt giá trị
tuyệt đối là 100% từ 28 ngày sau trồng đến cuối vụ. Trưởng thành ruồi đục lá xuất hiện từ
7 ngày sau trồng và sâu xanh (sâu đục quả) xuất hiện từ 35 ngày sau trồng. Độ thường gặp
của chúng rất biến động từ khi xuất hiện đến cuối vụ cà chua.
Trong một năm, độ thường gặp của bọ phấn trắng thuốc lá, giòi của ruồi đục lá, bọ xít
mù thuốc lá rất ít biến động và luôn đạt giá trị cao, nhưng độ thường gặp của chúng trong
tháng 5 đạt thấp nhất. Độ thường gặp của trưởng thành ruồi đục lá trong năm rất biến
động. Độ thường gặp của sâu xanh trong cả năm thường ở mức thấp nhất so với các loài
sâu hại khác trên cây cà chua ở điều kiện tỉnh Lâm Đồng.
3.2. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu hại chính trên cây cà chua
3.2.1. Bọ xít mù thuốc lá Nesidiocoris tenuis
Tập tính hoạt động sống: Trưởng thành cái loài bọ xít mù thuốc lá đẻ trứng đơn lẻ
ở trong mô cuống lá, cuống chùm hoa, phần non của các ngọn nhánh cây cà chua. Thiếu
trùng bọ xít mù thuốc lá rất ưa hoạt động, bò nhanh nhẹn trong tán lá phía trên ngọn để tìm
nguồn thức ăn. Trưởng thành bọ xít mù thuốc lá cũng hoạt động nhanh nhẹn, bò trong tán
lá phía trên và khi cần có thể bay từ chỗ này sang chỗ khác.
Trên cây cà chua, trưởng thành và thiếu trùng chích hút trên phần ngọn thân, ngọn
nhánh cây cà chua, trên lá và hoa. Khi chích hút trên thân, bọ xít mù thuốc lá (cả trưởng
thành và thiếu trùng) thường chích hút vòng quanh thân, tạo thành vòng tròn hoại tử màu
nâu. Vòng tròn này phát triển, dẫn đến ngọn cây cà chua bị gãy tại vòng tròn hoại tử. Vì
vậy mà nông dân gọi bọ xít mù thuốc lá là “bọ cưa”.
Thiếu trùng tuổi 4
14,48 ± 2,76 14,75 ± 4,40 14,00 ± 3,24
Thiếu trùng tuổi 5 22,33 ± 4,70
20,46 ± 3,13 19,43 ± 2,98
Pha thiếu trùng
62,02 60,50 59,37
Trước đẻ trứng
7,4 ± 1,1 7,6 ± 1,1 7,3 ± 1,1
Thời gian vòng đời 88,7±5,1
88,3 ±5,11 86,4 ± 4,04
Nhiệt độ (C) 18,5 - 20,4 19,5 - 21,4 20,3 - 22,4
Ẩm độ (%) 61,4 - 64,3 66,2 - 71,3 64,2 - 66,7
Ghi chú: Số lượng cá thể theo dõi trong mỗi đợt thí nghiệm n > 30
Kết quả nghiên cứu này không giống với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên
thế giới. Chỉ có thời gian phát triển pha trứng trong nghiên cứu này gần tương tự với thời
gian phát triển pha trứng ghi trong tài liệu của CABI (2014). Theo tài liệu này, thời gian
phát triển pha trứng của bọ xít mù thuốc lá kéo dài 9,78-19,2 ngày ở nhiệt độ 17,4-28,2°C
và 55,1-64,7% ẩm độ.
Nhìn chung thời gian phát triển của tất cả các pha phát dục và các tuổi của thiếu trùng
của bọ xít mù thuốc lá trong nghiên cứu này kéo dài hơn rất nhiều so với nhiều kết quả
nghiên cứu ở nước ngoài. Thí dụ, tại Iraq, ở nhiệt độ trong nhà, nuôi trên cây cà chua, bọ
xít mù thuốc lá có thời gian trứng kéo dài 3 ngày, mỗi tuổi thiếu trùng kéo dài 3-4 ngày.
Thời gian từ trứng đến trưởng thành là 19-24 ngày (Al-Azawi, Al-Azawi, 1988). Tại Ấn
Độ, thời gian phát triển của pha trứng, 5 tuổi thiếu trùng, thời gian trước đẻ trứng của
trưởng thành cái tương ứng là 3,98-4,58 ngày; 3,38-4,79 ngày; 3,11-4,91 ngày; 3,5-4,68
ngày; 3,12-4,56 ngày; 2,66-4,12 ngày và 1,44 ngày (Patel, Patel, 1977).
Trong cùng điều kiện nhiệt độ, ẩm độ biến đổi (22-25°C và 60-76%), thời gian vòng
đời của bọ xít mù thuốc lá khi nuôi bằng cây cà chua sạch kéo dài hơn rõ rệt so với thời
gian vòng đời khi nuôi bằng ấu trùng bọ phấn trắng thuốc lá trên cây cà chua (81,0 so với
74,0 ngày). Như vậy, đối với sự phát triển của bọ xít mù thuốc lá, thức ăn động vật (ấu
lệ sống sót đạt rất cao, dao động từ 86,7% với thiếu trùng tuổi 5 đến 94,1-94,4% với thiếu
trùng tuổi 2 và tuổi 3. Trong khi đó, khi sử dụng cây cà chua sạch làm thức ăn thì thiếu
trùng các tuổi của bọ xít mù thuốc lá có tỷ lệ sống sót đạt thấp hơn rất nhiều và dao động
từ 29,3% với thiếu trùng tuổi 1 đến 61,1% với thiếu trùng tuổi 4. Nuôi trên cây cà chua
sạch, pha thiếu trùng bọ xít mù thuốc lá có tỷ lệ hoàn thành phát triển rất thấp, chỉ là 5,6%
so với 65,0% khi nuôi bằng ấu trùng bọ phấn trắng thuốc lá. Điều này chứng tỏ bọ xít mù
thuốc lá là loài côn trùng ăn động vật (bắt mồi), thức ăn thực vật chỉ là bổ sung.
Thức ăn của bọ xít mù thuốc lá N. tenuis: Tại vùng trồng rau của tỉnh Lâm Đồng
đã ghi nhận bọ xít mù thuốc lá trên các cây cà chua, ớt ngọt, khoai tây, cà tím và dưa
chuột. Bọ xít mù thuốc lá có độ thường gặp đạt cao nhất trên cây cà chua (88-100%) và
thấp nhất trên cây khoai tây (4-16%). Trong phòng thí nghiệm, bọ xít mù thuốc lá đã sử
dụng bọ phấn trắng thuốc lá và trứng sâu xanh, nhưng không sử dụng bọ trĩ non làm thức
ăn. Một ngày một trưởng thành bọ xít mù thuốc lá tiêu diệt trung bình 17,3 nhộng bọ phấn
trắng thuốc lá hoặc 0,8 trứng sâu xanh.
Mức độ gây hại trên cây cà chua của bọ xít mù thuốc lá N. tenuis: Bọ xít mù
thuốc lá xuất hiện từ vườn ươm đến khi thu hoạch quả cà chua. Tỷ lệ hại gia tăng theo giai
đoạn sinh trưởng của cây cà chua. Trong vườn ươm và ở giai đoạn 7-28 ngày sau trồng tuy
có sự hiện diện của bọ xít mù thuốc lá, nhưng trên cây cà chua không ghi nhận được các
triệu chứng hại của nó. Đến giai đoạn 35-64 ngày sau trồng (cây ra hoa, tạo quả) mới ghi
nhận rải rác có các triệu chứng hại. Tỷ lệ ngọn cây cà chua bị bọ xít mù thuốc lá gây hại ở
thời điểm 64 ngày sau trồng là 1,3% và tăng dần đến cuối vụ đạt 14,2% ngọn cây cà chua
bị hại. Mật độ trung bình của bọ xít mù thuốc lá trong năm 2013 dao động từ 1,53 đến 7,4
con/cành. Tuy nhiên, những tác động gây hại do bọ xít mù thuốc lá gây ra cho cây cà chua
lại không rõ ràng. Số ngọn cà chua bị bọ xít mù thuốc lá gây hại không đáng kể: trung
bình là 0,05-0,12 ngọn bị hại/cây. Cây cà chua có ngọn bị hại đạt tỷ lệ rất thấp, trung bình
0,67-2,0% (có tháng tỷ lệ này bằng 0%). Với tỷ lệ ngọn cây cà chua bị bọ xít mù thuốc lá
gây hại cao nhất là 1,3% đến 14,2% thì bọ xít mù thuốc lá không gây hại đáng kể cho năng
suất cà chua vì trong quá trình sinh trưởng của cây cà chua cần phải được bấm ngọn.
Những ngọn bị bọ xít mù thuốc lá gây hại (thường dễ bị gẫy) có thể coi như là những ngọn
cần phải bấm. Mặt khác, về tác hại của bọ xít mù thuốc lá cũng được nông dân nhận xét là
đợt 1 (bảng 3.12).
Thời gian phát triển của bọ phấn trắng thuốc lá trong các đợt thí nghiệm có xu hướng
rút ngắn khi điều kiện nhiệt độ tăng và ẩm độ giảm. Thời gian phát triển pha trứng, các
tuổi ấu trùng của bọ phấn trắng thuốc lá trong thí nghiệm đợt 3 (23,5-25,5C và 48,5-
59,5%) đều ngắn hơn rõ ràng so với thí nghiệm đợt 1 (21,9-23,5C và 60,5-66,0%) và thí
nghiệm đợt 2 (22,3-24,2C và 53,5-62,0%) (bảng 3.12).
Kết quả ở nghiên cứu này gần tương tự như kết quả nghiên cứu của Lê Thị Tuyết
Nhung (2011). Theo tác giả này, sự biến động của nhiệt độ và ẩm độ ảnh hưởng khá rõ tới
sinh trưởng phát triển của ấu trùng các tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 của bọ phấn trắng thuốc lá. Sự
biến động của những dải nhiệt độ thấp hơn và dải ẩm độ cao hơn biểu hiện càng rõ ràng
tác động làm chậm sự phát triển của ấu trùng bọ phấn trắng thuốc lá.
Sức đẻ trứng của trưởng thành cái: Nuôi bọ phấn trắng thuốc lá trên cây cà chua ở
nhiệt độ và ẩm độ biến động như nêu trên, một trưởng thành cái bọ phấn trắng thuốc lá có
thể đẻ được từ 62 đến 131 trứng (trung bình từ 84,0 trứng ở đợt thí nghiệm 3 đến 94,9
trứng ở đợt thí nghiệm 1). Trưởng thành cái bọ phấn trắng thuốc lá có thời gian đẻ trứng
không dài, kéo dài 4-12 ngày và trung bình từ 7,6 ngày đến 8,4 ngày. Sức đẻ trứng của
trưởng thành cái bọ phấn trắng thuốc lá trong nghiên cứu này tương tự như kết quả của Lê
Thị Liễu, Trần Đình Chiến (2004) và Trần Đình Phả và nnk. (2008). Các tác giả này đã thí
nghiệm nuôi bọ phấn trắng thuốc lá trên cây cà chua ở khoảng nhiệt độ tương tự nghiên
cứu này và một thành trưởng cái cũng đẻ được trung bình 78,2-89,7 trứng. Sức đẻ trứng
của trưởng thành cái bọ phấn trắng thuốc lá trong nghiên cứu này lại cao hơn so với kết
quả nghiên cứu của Lê Thị Tuyết Nhung (2011). Theo tác giả này, ở nhiệt độ, ẩm độ ổn
định (24,4
o
C và 65%) và thức ăn là cây cà chua thì bọ phấn trắng thuốc lá có sức đẻ trứng
trung bình là 67,6 trứng/cái.
12
Bảng 3.12. Thời gian phát triển các pha và vòng đời của bọ phấn trắng thuốc lá
Bemisia tabaci nuôi trên cây cà chua (Lâm Đồng, 2013)
(100%). Chỉ tiêu này trên các cây trồng khác đã ghi nhận được từ 6,7% đến 83,3%.
Mức độ gây hại trên cây cà chua của bọ phấn trắng thuốc lá B. tabaci: Bọ phấn
trắng thuốc lá B. tabaci gây tác hại trực tiếp không lớn, nhưng là môi giới truyền virus gây
bệnh xoăn vàng ngọn cà chua. Ở tỉnh Lâm Đồng, bệnh vi rút xoăn vàng ngọn cà chua phát
sinh quanh năm cùng bọ phấn trắng thuốc lá. Theo Chi cục BVTV Lâm Đồng (2009), bệnh
vi rút xoăn vàng ngọn cây cà chua ở mức 3,15-11,4% sẽ làm giảm 7,7-16,1% năng suất so với
ruộng cà chua có tỷ lệ cây bị bệnh vi rút xoăn vàng ngọn ở mức 1,14-1,6%. Kết quả nghiên
cứu năm 2013 cho thấy cây cà chua trồng ở Lâm Đồng thường có tỷ lệ cây bị bệnh vi rút
xoăn vàng ngọn ở mức 4,0-12,0%. Điều này đồng nghĩa với cây cà chua trồng ở tỉnh Lâm
Đồng luôn bị nhiễm bệnh vi rút xoăn vàng ngọn ở mức gây giảm 7,7-16,1% năng suất. Như
vậy, bọ phấn trắng thuốc lá là loài côn trùng môi giới truyền bệnh virút nguy hiểm trên cây
cà chua ở tỉnh Lâm Đồng.
3.3. Diễn biến mật độ, yếu tố ảnh hưởng đến quần thể một số loài côn trùng ăn thực
vật chính trên cây cà chua ở tỉnh Lâm Đồng
3.3.1. Diễn biến mật độ của một số côn trùng ăn thực vật chính trong các vụ cà chua
* Diễn biến mật độ bọ xít mù thuốc lá Nesidiocoris tenuis: Tại Đức Trọng năm
2012-2013, sau khi trồng khoảng 7 ngày, trưởng thành bọ xít mù thuốc lá bắt đầu xâm
nhập ruộng cà chua và chúng hiện diện trong suốt vụ cà chua. Mật độ bọ xít mù thuốc lá
khi mới xâm nhập đạt rất thấp, chỉ khoảng 0,3 con/cành điều tra. Trong 4 tuần lễ đầu sau
trồng, mật độ bọ xít mù thuốc lá đạt chỉ là 0,1-2,5 con/cành. Mật độ tăng dần theo giai
đoạn sinh trưởng của cây cà chua, đạt đỉnh cao vào khoảng thời gian 70-91 ngày sau trồng.
13
Mật độ đỉnh cao của bọ xít mù thuốc lá đạt từ 7,47 con/cành ở vụ cà chua hè thu đến 12,87
con/cành ở vụ cà chua đông xuân sớm. Trong vụ hè thu mật độ có xu hướng giảm so với
các vụ cà chua khác (hình 3.10).
0
2
4
15
20
25
30
35
7 14 21 28 35 42 49 56 63 70 77 84 91 98 105 112
Ngày sau trồng
Mật độ (con/lá)
Vụ cà chua thu đông
Vụ cà chua đông xuân sớm
Vụ cà chua xuân hè sớm
Vụ cà chua hè thu
Hình 3.11. Diễn biến mật độ bọ phấn trắng thuốc lá B.tabaci trong các vụ cà chua
(Lâm Đồng, 2012-2013)
* Diễn biến mật độ ruồi đục lá Liriomyza huidobrensis: Qua theo dõi 4 vụ cà chua
thí nghiệm tại Đức Trọng năm 2012-2013 cho thấy trưởng thành ruồi đục lá L.
huidobrensis có mật độ không cao và rất biến động trong thời gian một vụ cà chua. Sau
trồng khoảng 7 ngày, trưởng thành ruồi đục lá L. huidobrensis bắt đầu xâm nhập ruộng cà
14
chua và chúng hiện diện trong suốt vụ cà chua. Mật độ trưởng thành ruồi đục lá L.
huidobrensis gia tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây cà chua. Trong các vụ cà
chua thí nghiệm, vụ cà chua hè thu (trồng ngày 07-05-2013) có mật độ trưởng thành ruồi
đục lá L. huidobrensis biến động nhất và đạt cao nhất (0,27-1,47 con/cành điều tra). Trong
các vụ cà chua thí nghiệm khác, mật độ trưởng thành ruồi đục lá L. huidobrensis đạt thấp
hơn, ít biến động hơn (hình 3.13).
0
0.2
0.4
2
4
6
8
10
12
14
16
18
7 14 21 28 35 42 49 56 63 70 77 84 91 98 105 112
Ngày sau trồng
Mật độ (con/cành)
Vụ cà chua thu đông
Vụ cà chua đông xuân sớm
Vụ cà chua xuân hè sớm
Vụ cà chua hè thu
Hình 3.14. Diễn biến mật độ giòi của ruồi đục lá L. huidobrensis trong các vụ chua
(Lâm Đồng, 2012-2013)
15
* Diễn biến mật độ sâu xanh Helicoverpa armigera (sâu đục quả): Theo dõi từ 4
vụ cà chua thí nghiệm trồng không phun thuốc hóa học tại Đức Trọng năm 2012-2013 cho
thấy sau trồng khoảng 35-42 ngày sâu xanh H. armigera xuất hiện lác đác và hiện diện đến
cuối vụ cà chua. Mật độ sâu xanh khi mới xuất hiện rất thấp, đạt 0,2-0,8 con/cành điều tra.
Sau đó, mật độ sâu xanh gia tăng dần theo sự phát triển của quả cà chua. Vào khoảng thời
gian 56-84 ngày sau trồng, sâu xanh có mật độ cao hơn các thời gian khác trong vụ cà
chua và đạt 0,2-1,0 con/cành điều tra (hình 3.15).
Trong vụ cà chua xuân hè sớm (trồng 23-12-2012) có nhiều kỳ điều tra quan sát được
mật độ sâu xanh H. armigera cao hơn so với mật độ cùng kỳ điều tra ở các vụ cà chua
đạt thấp nhất là 0,83 con/cành đã quan sát được vào tháng 5 và cao nhất vào tháng 3 (8,67
con/cành). Trên cây cà chua ở khu vực Đức Trọng có hai đỉnh cao mật độ trong năm vào
tháng 3 (mùa khô) và tháng 7 (mùa mưa) với mật độ tương ứng là 8,67 con/cành và 6,13
con/cành. Từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mật độ đạt 5,73-8,67 con/cành, cao
hơn các tháng khác trong năm. Thời gian này ở Đức Trọng, Đơn Dương có giá trị trung
bình tháng của nhiệt độ (19,5-21,7
o
C), ẩm độ không khí (71-78%) và lượng mưa (1,5-94,3
mm) đạt thấp nhất trong năm. Ngược lại, trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 (mùa
mưa), bọ xít mù thuốc lá trên cây cà chua có mật độ đã quan sát được đạt thấp hơn so với
trong mùa khô và dao động từ 0,83 con/cành điều tra đến 6,13 con/cành.
Nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy quần thể bọ xít mù thuốc lá trên cây thuốc lá đạt cao
nhất vào thời gian từ tháng 12 đến tháng 5 (CABI, 2014). Trên cây cà chua ở Iraq, đỉnh
cao mật độ quần thể bọ xít mù thuốc lá quan sát được vào tháng 6-7 (Al-Azawi và Al-
Azawi, 1988).
16
Ảnh hưởng đến bọ phấn trắng thuốc lá Bemisia tabaci: Tại khu vực Đức Trọng,
Đơn Dương, trong các năm 2012-2013, mật độ trung bình các kỳ điều tra trong một tháng
của bọ phấn trắng thuốc lá B. tabaci đạt thấp nhất là 2,15 con/lá vào tháng 5 và cao nhất là
26,6 con/lá vào tháng 3. Từ tháng 5 đến tháng 9, mật độ đạt thấp nhất trong năm (2,15-8,8
con/lá). Trong thời gian này, tại đây có nhiệt độ trung bình tháng (21,5-23,9
o
C), ẩm độ
không khí (76-86%) và lượng mưa (144,4-269,3 mm) đạt cao hơn các tháng khác trong
năm. Từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, mật độ bọ phấn trắng đạt cao hơn, đặc
biệt từ tháng 1 đến tháng 4 mật độ có thể lên tới 9,8-26,6 con/lá. Đây là mùa khô ở khu
vực Đức Trọng, Đơn Dương, các giá trị trung bình tháng của nhiệt độ (19,5-21,7
o
C), ẩm
mùa khô dao động từ 19,5-21,7
o
C, ẩm độ không khí 71-78% và lượng mưa 1,5-94,3 mm
so với 21,5-23,8
o
C; 82-86%, 75,1-269,3 mm trong mùa mưa, mật độ sâu đạt cao hơn
(0,4-1,1 con/cành so với 0,08-0,5 con/cành). Theo Garcia (2006), nhiệt độ và ẩm độ không
khí không ảnh hưởng tới mật độ sâu xanh H. armigera trên cây cà chua. Như vậy, sự sai
khác về mật độ sâu xanh H. armigera trên cây cà chua trong mùa khô và mùa mưa ở Đức
Trọng (Lâm Đồng) có thể do trong mùa mưa (tháng 6-tháng 11) trứng sâu xanh ở trên
ngọn cây dễ bị mưa rửa trôi hơn so với trong mùa khô.
17
3.3.2.2. Giống cây cà chua và mật độ sâu hại chính
Bọ phấn trắng thuốc lá B. tabaci trên các giống cà chua thí nghiệm: Đã điều tra
mật độ bọ phấn trắng thuốc lá Bemisia tabaci trên các giống cà chua Anna, Kim cương đỏ
và Hồng đào trong 12 tháng năm 2013. Kết quả cho thấy ba giống cà chua được điều tra
(Anna, Kim cương đỏ, Hồng đào) đều có mật độ bọ phấn trắng thuốc lá tương tự nhau.
Mật độ bọ phấn trắng thuốc lá trên giống Anna, Kim cương đỏ, Hồng đào tương ứng là
6,4-23,45; 7,8-25,67 và 7,4-24,3 con/lá.
Bọ xít mù thuốc lá N. tenuis trên các giống cà chua thí nghiệm: Trong năm 2013,
bọ xít mù thuốc lá có mật độ khá cao. Chỉ tiêu này trên các giống cà chua Anna, Kim
cương đỏ và Hồng đào đều tương tự nhau và tương ứng là 2,4 -7,71; 2,7-7,38 và 2,27-8,57
con/cành.
Ruồi đục lá L. huidobrensis trên các giống cà chua thí nghiệm: Trong năm 2013,
các giống cà chua Anna, Kim cương đỏ, Hồng đào có mật độ ấu trùng ruồi đục lá L.
huidobrensis tương tự nhau và tương ứng là 4,11-7,85; 4,11-8,26 và 4,79-8,47 con/cành.
Như vậy, các giống cà chua Anna, Kim cương đỏ và Hồng đào không ảnh hưởng tới sự
phát triển quần thể của bọ phấn trắng thuốc lá, bọ xít mù thuốc lá, ruồi đục lá trên cây cà
chua trồng ở tỉnh Lâm Đồng.
Mật độ sâu hại phổ biến trên cây cà chua thí nghiệm
Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3
B
ọ phấn trắng
thuốc lá
Ruồi đục lá
Ngày
điều
tra
A B C A B C A B C
LSD
0,05
CV
(%)
LSD
0,05
CV
7 NST 0,40 17,60 - -
14 NST
0,75a
- - 0,90 a
- - 1,25 b
- - 0,29 10,50 - -
21 NST
0,02
6,65 b
0,73 b
0,45
0,86 7,30 0,43 16,60
42 NST
2,50 b
0,43 a
0,22
2,10 a
0 ,37
a
0,12
3,75 c
1,00 b
0,80
1,10 a
1,20 a
0,50
2,15 b
1,80 c
1,20
0,48 16,00 0,40 4,50
63 NST
1,85 a
0,67 b
0,70
1,50 a
0,50 a
0,40
trồng và sau trồng 4 lần kết hợp với bón phân Công thức 2: Vệ sinh đồng ruộng trước
trồng và định kỳ 7 ngày/lần sau trồng; Công thức 3: Đối chứng theo nông dân (không vệ
sinh đồng ruộng); Trong cùng một hàng có cùng chữ cái theo sau khác biệt nhau không ý
nghĩa dựa vào trắc nghiệm LSD, P < 0,05.
Biện pháp xua đuổi hoặc thu hút côn trùng nhóm chích hút: Bọ phấn trắng thuốc
lá trong thí nghiệm bắt đầu xâm nhiễm cây cà chua từ thời điểm 7 ngày sau trồng, đạt đỉnh
cao mật độ vào 35-42 ngày sau trồng và sau đó giảm dần về cuối vụ. Công thức 4 có mật
độ bọ phấn trắng thuốc lá cao nhất, sau đó đến công thức 2, công thức thức 1 và thấp nhất
là công thức 3. Mật độ bọ phấn trắng thuốc lá ở các công thức 1, 2, 3, 4 tương ứng là 0,7-
3,6con/ lá; 0,75-4,75 con/lá; 0,2-2,85 con/ lá và 0,9 - 6,85 con/lá (bảng 3.20).
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của biện pháp xua đuổi, hấp dẫn đến sự tích lũy số lượng bọ phấn
trắng thuốc lá Bemisia tabaci trên cây cà chua (Lâm Đồng, 2013)
Mật độ bọ phấn trắng thuốc lá (con/lá)
Ngày điều
tra
Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3 Công thức 4
LSD
0,05
CV (%)
7 NST 0,70 b 0,75 b 0,20 a 0,90 b 0,28 11,70
14 NST 0,90 ab 1,25 b 0,55 a 1,20 b 0,42 11,60
21 NST 1,40 a 2,90 b 0,65 a 3,20 b 0,76 6,50
28 NST 2,90 ab 3,75 b 1,70 a 5,80 c 1,36 5,10
35 NST 3,60 ab 4,75 bc 2,30 a 6,85 c 2,22 2,50
42 NST 2,30 a 3,70 b 2,85 a 5,50 c 0,60 8,30
49 NST 1,70 a 2,30 a 2,30 a 4,40 b 0,67 8,80
56 NST 1,30 a 2,15 b 2,20 b 3,45 c 0,38 8,40
63NST 1,70 a 2,75 b 1,75 a 2,65 b 0,31 6,90
Loại thuốc
thí nghiệm
Liều
lượng
(kg,
lít/ha)
Mức
giảm mật
độ (%)
Cấp
độc
Mức giảm
mật độ
(%)
Cấp
độc
Mức
giảm mật
độ (%)
Cấp
độc
Map-winner 5WG 0,08 32,5 2 53,1 3 73,0 3
Delfin WG 32 BIU 1,50 28,4 2 47,5 2 67,3 3
Neem nim xoan xanh
green 0.15EC
Đối chứng
LSD
5%
CV
5 NST 0,10 a 0,20 a 0,10 a 0,30 a 0,20 a 0,47 14,50
10 NST 0,50 a 0,40 a 0,40 a 0,60 a 0,70 a 0,32 23,60
15 NST 0,90 a 0,65 a 0,75 a 0,95 a 1,20 a 0,55 21,50
20 NST 1,70 a 1,10 a 1,50 a 1,60 a 3,20 a 0,54 16,30
25 NST 2,80 abc 2,30 a 2,70 ab 3,20 bc 4,80 d 0,56 9,80
30 NST 3,70 bc 2,45 a 2,85 ab 3,15 abc 5,85 d 0,95 14,40
37 NST 3,30 b 2,10 a 3,10 b 3,30 b 5,50 c 0,91 14,50
44 NST 2,70 b 2,20 a 2,70 b 2,80 b 4,20 c 0,45 8,50
51NST 2,30 c 1,35 a 1,90 bc 1,45 ab 3,70 d 0,51 13,10
58 NST 2,70 b 1,60 a 1,60 a 1,80 a 2,85 b 0,40 10,50
65 NST 2,20 b 1,50 a 1,70 a 1,60 a 3,10 c 0,47 12,70
Ghi chú: Số liệu trong cùng một hàng có cùng mẫu tự theo sau khác biệt nhau không ý
nghĩa dựa vào trắc nghiệm LSD, P < 0,05.
Một thí nghiệm khác được tiến hành để đánh giá hiệu lực của các thuốc tasieu
1.9EC, map-winner 5WG, tungatin 1.8EC và actara 25WG đối với bọ phấn trắng thuốc lá
trên cây cà chua cho thấy các thuốc thí nghiệm đều có hiệu lực phòng trừ bọ phấn trắng
thuốc lá khá cao. Chỉ sau phun 1 ngày, hiệu lực đạt 60,8-69,8%. Đến 3 ngày sau phun,
TP 5 NSP 10 NSP
Công thức
thí nghiệm
Liều
lượng
(lít;
kg/ha)
TLH
(%)
CSH
(%)
TLH
(%)
CSH
(%)
TLH
(%)
CSH
(%)
5 NSP
10
NSP
Tungatin 1.8EC 0,50 10,0 2,0 22,5 4,5 32,5 7,5 18,18 40,91
Map-winner
5WG
0,08 7,5 1,5 12,5 3,5 27,5 6,0 39,39 33,33
Tasieu 1.9EC 0,30 7,5 1,5 10,0 3,0 25,0 4,5 51,52 39,39
Trigard 100SL 0,30 10,0 2,0 12,5 3,5 22,5 4,5 54,55 59,09
2
3
NSP
lần 2
7
NSP
lần 2
14
NSP
lần 2
3 NSP
lần 2
7
NSP
lần 2
14
NSP
lần 2
Map-biti WP 50000
IU/mg
1,0 2,4 2,4 2,5 2,6 2,7 45,18 50,76
61,86
Delfin WG 32 BIU 1,5 2,2 2,2 2,2 2,2 2,3 47,37 54,55
64,56
Mật độ bọ phấn trắng thuốc lá (con/lá)
Ngày điều tra
Ruộng mô hình Ruộng nông dân
7 NST 0,6 0,95
14 NST 0,6 4,60
21 NST 2,75 5,85
28 NST 3,05 6,30
35 NST 5,75 10,15
42 NST 4,35 4,70
49 NST 3,25 4,40
56 NST 9,95 11,05
63 NST 5,63 13,2
Ghi chú: NST: Ngày sau trồng
Mô hình Đức Trọng: Mô hình phòng trừ tổng hợp sâu hại cây cà chua ở Đức Trọng
trồng ngày 24/2/2013 tại xã Hiệp Thạnh. Mật độ bọ phấn trắng thuốc lá trên ruộng mô
hình (0,6-5,7 con/lá) luôn thấp hơn so với trên ruộng của nông dân (1,05-6,65 con/lá)
(bảng 3.32).
Bảng 3.32. Diễn biến mật độ một số sâu hại chính trên mô hình cà chua tại huyện
Đức Trọng (Lâm Đồng, 2013)
Ruộng mô hình Ruộng của nông dân
Ruồi đục lá Ruồi đục lá
Ngày điều
tra
Bọ phấn
trắng thuốc
lá*
Mật độ
giòi **
Tỷ lệ lá bị
nghiệm ngay từ đầu vụ cà chua do ruộng mô hình đã áp dụng biện pháp phòng chống sâu
hại ngay từ ở vườn ươm bằng thuốc dragon và dầu khoáng SK. Khi đưa ra trồng, ruộng
trồng cà chua được phủ nilon xám bạc, kết hợp dùng bẫy xua đuổi côn trùng. Trên ruộng
cà chua mô hình đã phun 8 lần thuốc BVTV, ở ruộng của nông dân đã phun nhiều hơn 2
lần và sử dụng thuốc BVTV chưa đăng ký trên rau. Sự chênh lệch hiệu quả kinh tế không
lớn giữa mô hình và ruộng nông dân, nhưng thể hiện được hiệu quả của các biện pháp
phòng chống tổng hợp đã áp dụng để trừ sâu hại, góp phần làm giảm thiểu sử dụng thuốc
hóa học BVTV.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
1. Trong các năm 2012-2014 đã xác định được 14 loài sâu hại trên cây cà chua ở Đức
Trọng, Đơn Dương (Lâm Đồng). Trong đó, phổ biến nhất là bọ phấn trắng thuốc lá
Bemisia tabaci, ruồi đục lá L. huidobrensis và bọ xít mù thuốc lá N. tenuis. Đây là lần đầu
cung cấp dẫn liệu về thành phần loài sâu hại cây cà chua ở tỉnh Lâm Đồng và ghi nhận bổ
sung loài ruồi đục lá Liriomyza huidobrensis vào danh sách sâu hại cây cà chua ở Việt
Nam. Lạm dụng thuốc BVTV là nguyên nhân gây nên sự nghèo nàn về thành phần loài
chân đốt trên cây cà chua ở tỉnh Lâm Đồng.
2. Thời gian hoàn thành vòng đời của bọ xít mù thuốc lá là 86,4-88,7 ngày khi nuôi
trên cây cà chua sạch ở 18,5-22,4C và 61,4-71,3% ẩm độ. Khi nuôi bằng ấu trùng bọ
phấn trắng thuốc lá trong cùng điều kiện nhiệt độ và ẩm độ, thời gian hoàn thành vòng đời
ngắn hơn so với khi nuôi bằng cây cà chua sạch (74,0 ngày so với 81,0 ngày). Một trưởng
thành cái chỉ đẻ được trung bình là 10,9-18,1 quả trứng phụ thuộc thức ăn. Thời gian đẻ
trứng trung bình là 10,3-14,3 ngày.
Bọ xít mù thuốc lá N. tenuis là loài ăn tạp, xuất hiện phổ biến nhưng không gây hại
đáng kể cho cây cà chua, có khả năng tiêu diệt ấu trùng và nhộng bọ phấn trắng thuốc lá
rất cao. Trong cả đời, một cá thể bọ xít mù thuốc lá có thể tiêu diệt được 1.026,8-1.042,9
ấu trùng tuổi 1 hay 919,8-945,5 nhộng bọ phấn trắng thuốc lá. Cần phải lợi dụng tính ăn
động vật của bọ xít mù thuốc lá để hạn chế số lượng phấn trắng thuốc lá trên cây cà chua.
3. Ở nhiệt độ 21,9-25,5C và ẩm độ là 48,5-66,0%, thời gian hoàn thành vòng đời
của bọ phấn trắng thuốc lá B. tabaci trung bình là 25,84-28,54 ngày. Sức đẻ trứng của