BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
-------------------
TRẦN NGỌC THỦY
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN VÀ DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ CỦA MỘT SỐ
SÂU HẠI CHỦ YẾU VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN MÔ HÌNH CANH TÁC
LÚA 3 GIẢM 3 TĂNG TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành:
Mã số:
Hướng dẫn khoa học:
Khoa học cây trồng
60.62.01.10
TS. Nguyễn Đức Thạnh
THÁI NGUYÊN - 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. v
1. Đặt vấn đề...................................................................................................... 1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài......................................................................... 2
2.1. Mục đích của đề tài .................................................................................... 2
2.2. Yêu cầu của đề tài ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài .......................................................................... 3
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài........................................................................... 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................ 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
1.2. Tình hình nghiên cứu về mức độ sâu hại gây ra cho lúa, nghiên cứu một số
sâu hai lúa chủ yếu và thiên địch ở nước ngoài và trong nước .......................... 6
1.2.1. Tình hình nghiên cứu mức độ sâu hại gây ra cho lúa ở nước ngoài............. 6
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu một số sâu hại chủ yếu trên lúa ở nước ngoài................. 6
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước....................................................... 13
1.2.2.1. Những nghiên cứu về sâu hại............................................................. 13
1.2.2.2. Tác dụng của biện pháp canh tác lúa 3 giảm 3 tăng đến sâu hại
và thiên địch ........................................................................................ 16
1.2.2.3. Tình hình nghiên cứu một số sâu hại lúa chủ yếu.............................. 18
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 28
2.1. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu ................................... 28
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 28
2.1.2. Vật liệu thí nghiệm................................................................................ 28
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 28
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 28
2.2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 28
2.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................ 28
3.4. Kết quả điều tra thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa
2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên ................................ 44
3.5. Kết quả điều tra diễn biến mật độ một số thiên địch chính ruộng 3 giảm 3
tăng và ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 tại và vụ xuân năm 2012.......... 47
3.5.1. Kết quả điều tra diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi trên ruộng 3 giảm 3 tăng
và ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 tại và vụ xuân năm 2012 .................... 47
3.5.2. Kết quả điều tra diễn biến mật độ bọ rùa đỏ trên ruộng 3 giảm 3
tăng và ruộng sản xuất đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 ....... 49
3.5.3. Kết quả điều tra diễn biến mật độ kiến ba khoang trên ruộng 3 giảm 3
tăng và ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 ............ 50
3.6. Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp dụng
một số biện pháp kỹ thuật trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và
canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 ................. 51
3.6.1. Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp
dụng mật độ cấy trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác
đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 ............................... 51
3.6.2. Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu trên lúa
canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà khi phun thuốc
BVTV trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012............................... 53
3.6.3. Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi trên lúa
canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà sau khi bón phân
trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012........................................... 55
3.7. Kết quả ứng dụng biện pháp canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại TP
Thái Nguyên trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 .................... 56
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ................................................................ 59
1. Kết luận ....................................................................................................... 59
2. Khuyến nghị ................................................................................................ 59
v
ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 .............. 50
Bảng 3.14 : Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy
trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ
mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 ............................................... 52
Bảng 3.15. Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3
tăng và canh tác đại trà khi phun thuốc BVTV trong vụ mùa
2011 và vụ xuân năm 2012 ....................................................... 54
vi
Bảng 3.16. Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi trên lúa canh tác 3
giảm 3 tăng và canh tác đại trà sau khi bón phân trong vụ mùa
2011 và vụ xuân năm 2012 ....................................................... 56
Bảng 3.17 : Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và
canh tác đại trà tại các điểm điều tra vụ mùa năm 2011........... 57
Bảng 3.18 : Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và
canh tác đại trà tại các điểm điều tra vụ xuân năm 2012 .......... 57
Bảng 3.19. Hạch toán hiệu quả kinh tế trên 3 giảm 3 tăng và ruộng nông
dân sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP
Thái Nguyên................................................................................. 58
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lúa là cây lương thực chủ yếu ở nước ta, có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc đảm bảo an toàn lương thực cho nhân dân. Việc yêu cầu
tập trung sản xuất lúa gạo để đáp ứng cho đà tăng dân số nhanh chóng đã
đưa đến sự thay đổi trong kỹ thuật sản xuất lúa. Vì vậy một trong những
và các cộng sự (1993) [3].
Một số địa phương đi đầu trong việc áp dụng chương trình 3 giảm 3
tăng là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trung du Bắc bộ. Kết
quả bước đầu ứng dụng cho thấy hệ thống kỹ thuật này thực sự có ý nghĩa
trong canh tác lúa bền vững. Để góp phần đạt được ý nghĩa khoa học của
mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng, được sự nhất trí của khoa sau đại
học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Điều tra thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu
hại chủ yếu và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại
thành phố Thái Nguyên”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở điều tra thành phần sâu hại lúa, diễn biễn mật độ của các
loài sâu hại chính và thiên địch chủ yếu qua các giai đoạn sinh trưởng của
lúa và qua sự tác động của một số biện pháp kỹ thuật trên mô hình canh tác
lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên, để đưa ra những khuyến cáo
trong việc canh tác lúa hợp lý, nhằm giảm mức độ thiệt hại do sâu hại gây
ra, góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất lúa đồng thời tiết kiệm được
chi phí cho người sản xuất.
2.2. Yêu cầu của đề tài
+ Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch chủ yếu trên trên mô
hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà.
+ Điều tra diễn biễn mật độ của các loài sâu hại và thiên địch chủ yếu
qua các giai đoạn sinh trưởng của lúa trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3
tăng và canh tác đại trà.
+ Điều tra diễn biễn mật độ của các loài sâu hại chính và thiên địch
dưới sự tác động của một số biện pháp kỹ thuật (mật độ cấy, bón phân,
phun thuốc BVTV) trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác
đại trà.
+ Đề xuất biện pháp canh tác hợp lý nhằm giảm mức độ thiệt hại do
hai chấm, rầy nâu và thiên địch của chúng góp phần tích cực cho công tác
dự tính dự báo, cũng như công tác chỉ đạo bảo vệ thực vật của tỉnh.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Chúng ta đã biết sự phát sinh và tác hại của sâu bệnh có quan hệ rất
lớn với các biện pháp kỹ thuật canh tác. Thói quen, tập quán canh tác các
giống lúa của người dân đã khiến cho nhiều vụ lúa bị ảnh hưởng nặng nề
bởi sâu bệnh, năng suất lúa qua các vụ không ổn định. Thực trạng trong
canh tác lúa: Nông dân thường gieo mạ dược và gieo quá dày, tuổi mạ quá
nhiều ngày, cấy khi cây mạ già, có những nơi cấy khi mạ đã 6-7 lá lá thậm
chí còn nhiều hơn; số dảnh cấy quá nhiều: cấy 5-6 dảnh/ khóm, và cấy
tới 50 - 55 khóm/m2 gây tốn kém khá nhiều giống, sẽ làm cho sâu hại
phát sinh sớm, và dễ bùng phát thành dịch, đồng thời gây khó khăn cho
việc phòng trừ.
Mặt khác, do không có phân hữu cơ, quá lạm dụng phân vô cơ: bón
đạm cao hơn so với nhu cầu của cây lúa và không cân đối, đạm không được
vùi sâu dễ mất đạm do bị rửa trôi, bị bay hơi, quan trọng hơn là đa phần
bón không đúng thời điểm cây cần bón, thường bón phân muộn, bón lai rai
nhiều lần, cây lúa không đẻ tập trung, nhiều dảnh vô hiệu, dẫn đến năng
suất thấp. Canh tác theo kiểu trên cũng là nguyên nhân gây bùng phát các
loại sâu bệnh hại. Theo báo cáo của Cục BVTV năm 2007 [19]. Một hiện
tượng rất phổ biến trong thực tế là nhiều người muốn cây trồng sinh trưởng
tốt mà bón nhiều đạm, ít chú ý bón lân và kali làm cho cây quá xanh tốt và
mềm yếu, tạo điều kiện thích hợp cho sâu phát triển phá hại làm giảm năng
suất; điển hình như: sâu cuốn lá, rầy nâu…, Phân bón khi sử dụng sẽ để lại
trọng. Một mặt, cây lúa với cương vị là yếu tố ngoại cảnh quyết định điều
kiện sinh thái tại nơi cư trú của sâu hại và thiên địch. Mặt khác, khi với
cương vị là nguồn thức ăn của sâu hại thì cây lúa đã ảnh hưởng trực tiếp
đến trạng thái sinh lý của sâu hại, điều này cũng gây ảnh hưởng đến thiên
địch. Trong mối quan hệ này, thiên địch có vai trò hạn chế số lượng quần
thể sâu hại và nếu không có các tác động khác ảnh hưởng đến mối quan hệ
này thì các thiên địch có thể kìm hãm được số lượng sâu hại chính ở dưới
mức gây hại có ý nghĩa kinh tế mà không cần tiến hành các biện pháp
phòng trừ.
Từ những cơ sở khoa học trên với mục đích góp phần làm giảm nhẹ
thiệt hại do sâu hại gây ra cho cây lúa, giảm thiểu chi phí về phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật và nâng cao thu nhập, xây dựng kinh tế bền vững cho
hộ nông dân, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của
6
một số sâu hại chính trên mô hình canh tác lúa 3 giảm- 3 tăng tại thành phố
Thái nguyên.
1.2. Tình hình nghiên cứu về mức độ sâu hại gây ra cho lúa, nghiên cứu
một số sâu hai lúa chủ yếu và thiên địch ở nước ngoài và trong nước
1.2.1. Tình hình nghiên cứu mức độ sâu hại gây ra cho lúa ở nước ngoài
Theo tính toán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Thế giới
(FAO) thì hàng năm sâu bệnh làm mất từ 15-30% tổng sản lượng nông
nghiệp trên thế giới. Ở nhiều nước tỉ lệ này cao hơn, có trường hợp lên đến
trên 50%. Riêng đối với lúa và ngũ cốc, hàng năm trên thế giới thiệt hại do
sâu bệnh gây hại đạt đến 100 triệu tấn, số lương thực này đủ để nuôi 450
triệu người ăn trong một năm, sâu hại là một trong những nguyên nhân gây
nên thiệt hại. Đối với sản xuất nông nghiệp, yếu tố chính làm hạn chế năng
suất cây trồng là dịch hại (sâu, bệnh hại, cỏ dại). Trong đó, riêng sâu hại đã
lấy đi hơn 13% tổng sản lượng, với tổng giá trị ước tính 29,7 tỉ đô la
vàng sáng, hình ovan, mặt bụng phẳng, mặt trên gồ lên ở đoạn giữa.
- Sâu non có 5 tuối mới nở có màu trắng sữa, đầu nâu đậm hoặc
đen sau chuyển sang màu trắng xám hoặc vàng sáng, trên cơ thể có
nhiều lông ngắn. Tuổi 1 cơ thể nhỏ dài 2 mm rộng 0,2 mm; tuổi 2 dài
4,4 mm rộng 0,68 mm; tuổi 3 dài 7 mm rộng 1,2 mm; tuổi 4 cơ thể mập
mạp dài 9 - 10 mm rộng 0,68 mm; tuổi 5 đầu nâu sáng, cơ thể được bao
phủ bởi các lông cứng màu nâu nhạt, sâu đẫy sức dài 16 mm rộng 1,8
mm, cuối tuổi 5 sâu non nhả tơ tạo kén trong tổ cũ, cơ thể chuyển màu
vàng nhạt, nằm im từ 24 - 48 giờ, giai đoạn tiền nhộng chuyển sang màu
nâu sáng.
- Nhộng nằm ở trong tổ cuốn, màu sắc chuyển từ nâu sáng thành
nâu đỏ, nhộng có chiều dài 9 - 12 mm, rộng 1,6 - 3 mm, nhộng có các
rãnh sinh dục rõ ở đốt bụng thứ 8, con đực là đốt bụng thứ 9.
- Trưởng thành có màu nâu vàng, vân mép cánh rộng màu nâu đậm,
có 3 vân ngang hình lượn sóng ở cánh trước, vân trong và vân ngoài là vân
liền, vân giữa là vân cụt, sải cánh dài 17 - 20 mm, con đực có túm lông
màu nâu nhạt hoặc trắng xám sắp xếp trên mạch C của cánh trước.
Theo Chen và cộng sự (1983) [68] cho rằng sức đẻ trứng trung bình là
153 trứng/con cái. Sâu cuốn lá nhỏ rất phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu
ở Trung Quốc, giai đoạn phát dục của sâu cuốn lá nhỏ ngắn lại khi nhiệt độ
cao. Sau khi qua đông, hoạt động sinh sản của con cái trở lại bình thường.
Có 5 lứa sâu trong 1 năm. Theo Hirao (1982) [75]. Vào tháng 8 và tháng 9
quần thể sâu hại tạm ngừng sinh trưởng, ngài sống từ 4 - 7 ngày. Ở Philippin,
Barrion và cộng sự (1991)[64], (1980)[63], Mun Y.D (1982)[86], thời gian
từ trứng đến trưởng thành là 25 - 52 ngày. Trong đó thời gian trứng là 3 - 6
8
ngày, sâu non là 15 - 36 ngày, nhộng là 6 - 9 ngày.
* Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ: Ở Trung Quốc có 30 loài ong kí
9
cũng có ảnh hưởng đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ, nếu bố trí cấy thời vụ
sớm thì cây lúa sinh trưởng nhanh có tác dụng tránh được lứa sâu cuốn lá
gây hại vào khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 giúp cho cây lúa ít bị ảnh
hưởng của lứa sâu này (Theo Chiu.S.F 1980) [69].
- Biện pháp sinh học: Tại Quảng Đông Trung Quốc loài ong
Trichogramma japonicum Aslimead đã được sử dụng để diệt trứng sâu
cuốn lá nhỏ, làm giảm tỉ lệ lá lúa bị sâu hại là 92,8% so với đối chứng,
Shen (1984) [94]. Lượng ong thả là 15 vạn con/ha nếu mật độ là 5
trứng/khóm, có thể thả liên tục 3 - 4 lần cách nhau 1 - 2 ngày, Shepard (1986)
[95]. Ong Apanteles cypris cũng là loài ong kí sinh chuyên tính trên sâu non
tuổi nhỏ rất phổ biến tại Trung Quốc. Việc phun lên cây lúa chất Kairomon và
chất tiết từ tuyến nước bọt của sâu non đã làm tăng tỉ lệ kí sinh tới 15 25% (Theo Catling H.D, (1983) [67].
- Biện pháp hoá học : Theo Coppel và cộng sự (1977) [70] nông dân
sử dụng tới 40% số lần phun thuốc để trừ sâu cuốn lá nhỏ, trong điều kiện
nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn đầu vụ thì không làm
thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập từ 15 - 30% và tiết kiệm được chi phí
thuốc trừ sâu. Ngày nay xu hướng sử dụng những thuốc trừ sâu có phổ
hẹp ít hoặc không ảnh hưởng đến thiên địch và các loài sinh vật khác.
Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh và thảo mộc được chú trọng.
b/ sâu đục thân lúa hai chấm
* Thành phần : Theo Pathak (1994) [90], trên thế giới đã phát hiện được
24 loài sâu đục thân lúa. Trong đó, ở châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon
Blez., Chilo zacconius Blez., Maliarpha separatella (Rog.) và Sesamia
calamistis (Hamp.). Ở Châu Mỹ đã ghi nhận được 6 loài sâu đục thân lúa gồm
Chilo loftini (Dyar), Chilo plejadellus (Zink.), Diatraea saccharalis (Fabr.),
Elasmopalpus lignosellus (Zell.), Rupela albinella (Cramer) và Zeadiatraea
lineolata (Walk.), Shepard (1991) [96]. Lúa ở châu Úc đã phát hiện có 2 loài
phát dục của pha sâu non kéo dài khoảng từ 30 ngày đến 35 - 46 ngày.
Nhộng mới nở có màu sáng nhạt, sau đó có màu nâu tối hơn. Nhộng
làm trong một kén mỏng màu trắng. Trước khi hoá nhộng, sâu non
tuổi cuối đã đục một lỗ ở thân cây lúa để trưởng thành vũ hoá chui ra.
Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 - 10 ngày, nếu thời tiết
lạnh có thể dài hơn. Theo Jaswant (1984) [77]; Kamran (1969) [78]; Kim
(1986) [79].
Trưởng thành loài sâu đục thân lúa hai chấm có biểu hiện lưỡng
hình sinh dục. T h e o K i r i t a n i ( 1 9 7 9 ) [ 8 0 ] . Trưởng thành cái có
kích thước lớn hơn trưởng thành đực. Cánh trước của trưởng thành cái
có màu nâu vàng sáng và một chấm đen rõ ràng ở giữa cánh. Cuối bụng
11
của trưởng thành cái có túm lông vàng. Trưởng thành đực có màu hơi
vàng. Chấm đen trên giữa cánh trước không rõ ràng (Dale, 1994) [71].
Trưởng thành chỉ giao phối 1 lần, đẻ trứng từ đêm thứ 2 kể từ khi vũ hoá,
mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng mỗi con cái đẻ từ 2- 5 ổ (Pathak, 1969) [90]. Để
hoàn thành một vòng đời, sâu đục thân hai chấm cần 46 – 54 ngày (Dale,
1994; Reissig et al., 1986) [71], [91]. Trưởng thành cái sâu đục thân lúa
hai chấm có thể đẻ được 100 - 200 trứng [90]. Theo Dale (1994) [71] cho
rằng một trưởng thành cái đẻ được lượng trứng ít hơn, chỉ là 100 - 150
trứng. Theo Reissig et al. (1986) [91] cho rằng một trưởng thành cái đẻ
được 200 - 300 trứng. Theo Dale (1994) [71], trưởng thành đực và
trưởng thành cái loài sâu đục thân lúa hai chấm có tuổi thọ không giống
nhau. Trưởng thành đực của loài sâu đục thân lúa hai chấm thường có
tuổi thọ (4,5 - 8,6 ngày) ngắn hơn tuổi thọ của trưởng thành cái (5,3 - 8,8
ngày), Pham Van Lam (1999) [82].
* Thiên địch của sâu đục thân lúa hai chấm :
Các loài sâu đục thân lúa bị trên dưới 100 loài thiên địch tấn công,
của sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas (Chiu, 1980) [69].
- Luân canh : Luân canh lúa với cây trồng khác được khuyến cáo
để trừ sâu đục thân lúa hai chấm (Chelliah, 1985 [84]; Litsinger, 1994 [88];
Oka, 1979 [88]; Reissig et al., 1986 [91]). Luân canh cây lúa với cây
ngô, cây lúa mì thì lại làm tăng mật độ quần thể của sâu đục thân thuộc các
giống Diatraea, Chilo và Sesamia (Litsinger, 1994) [84]. Làm ngập nước
ruộng vào mùa xuân ở vùng Quảng Châu (Trung Quốc) có hiệu quả diệt
trừ sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas (Chiu,1980) [69].
- Bón phân : Cây lúa được bón nhiều phân đạm sẽ hấp dẫn trưởng thành
cái loài sâu đục thân lúa hai chấm đến đẻ trứng. Bón phân chứa silica, kali sẽ
làm tăng tính chống chịu sâu đục thân của cây lúa. (Dale, 1994 [71];
Litsinger, 1994 [84]).
- Sử dụng giống lúa kháng sâu hại: Đây là biện pháp dễ sử dụng
hơn cả nhất là đối với nông dân vùng nhiệt đới châu Á có diện tích canh
tác không lớn và tiềm năng kinh tế có hạn (Heinrichs et al., (1981) [74].
- Biện pháp sinh học: Ở đảo Andama (Ấn Độ) đã nghiên cứu dùng ong
mắt đỏ Trichogramma sp. để trừ sâu đục thân lúa hai chấm S.incertulas cho
kết quả tốt. Thiệt hại do sâu đục thân lúa hai chấm giảm còn 1,6% ở nơi
dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối chứng tỉ lệ này đạt cao hơn và là
10,3%. Biện pháp sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được
nghiên cứu nhiều ở Trung Quốc và Ấn Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu
đục thân. Tại Karnataka (Ấn Độ) đã nghiên cứu thả ong mắt đỏ màu đen
Trichogramma japonicum định kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá
nhỏ và sâu đục thân lúa hai chấm (Misra et al., 1994) [85].
- Biện pháp hoá học : Kumar (1995) [81] khuyến cáo cần dựa vào kết
13
quả theo dõi bẫy đèn để xác định thời điểm phun thuốc trừ một số sâu hại lúa,
trong đó có sâu đục thân lúa hai chấm S. incertulas. Ơ và Yu (1980) [102] đã
như: rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân bướm 2 chấm, bọ xít dài, sâu
năn, sâu phao và 15 loài gây hại thứ yếu Cục BVTV (1984) [13]. Theo kỹ
14
sư Nguyễn Văn Hạ, Trung tâm Bảo vệ thực vật miền Trung qua điều tra
sâu bệnh hại lúa ở miền Trung từ năm 1984-1988 đã xác định được 6 loài
sâu hại chính đó là: sâu đục thân bướm 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, sâu phao,
rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít dài, sâu năn, Cục BVTV (2007) [19], qua
nghiên cứu điều tra sâu hại lúa vùng đầm phá tại Thừa Thiên Huế đã
xác định được 6 loài sâu hại chính đó là: sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá
lớn, sâu năn, bọ xít dài, châu chấu lúa, bọ xít xanh, trong đó sâu cuốn lá
nhỏ, bọ xít lúa và sâu năn là phổ biến nhất, Nguyễn Trường Thành
(2003) [48]; Cục BVTV - Báo cáo tổng kết 2005; 2006 [17]; [18].
* Nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sâu hại:
- Theo Phạm Văn Lầm (1994) [33] Ảnh hưởng thuốc hóa học: Việc
sử dụng biện pháp hoá học để phòng trừ sâu bệnh trong một thời gian dài
đã gây ra nhiều tác hại đáng kể. Trong khi sử dụng thuốc người ta nhận
thấy muốn đạt được hiệu quả trừ sâu như lúc ban đầu, hàng năm cần phải
tăng nồng độ thuốc. Cho đến một lúc nào đó sâu bệnh trở nên quen thuốc
và không còn bị chết do thuốc, sâu đã hình thành tính kháng thuốc. Từ việc
kháng một loại thuốc, do sự sử dụng không đúng cách con người đã tạo ra
các chủng sâu kháng lại tất cả các loại thuốc trừ sâu.
Việc sử dụng thuốc trừ sâu thiếu thận trọng cũng làm xuất hiện
những loại sâu hại mới mà trước đây chúng là loại sâu hại không quan
trọng bị các loài khác lấn át.
Sử dụng nhiều thuốc trừ sâu trên đồng ruộng cũng gây mất cân bằng
sinh thái-đó là chuỗi mắt xích giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch. Thuốc
sâu tiêu diệt thiên địch là yếu tố kìm hãm mật độ sâu hại -nên sâu phát triển
tự do và bộc phát thành dịch.
sở quan trọng để tiến hành điều tra, theo dõi diễn biến quy luật phát sinh,
phát triển của một số loài sâu hại chủ yếu; khả năng khống chế sâu hại của
một số loài thiên địch; là cơ sở xây dựng các biện pháp phòng trừ tổng hợp
sâu bệnh hại lúa. Trong thiên nhiên, thiên địch có vai trò cân bằng hệ sinh
thái. Khi ruộng lúa có sâu hại thì thiên địch sẽ tới ăn hoặc đẻ trứng ký sinh
rồi sau đó nở ra thế hệ mới, thế hệ sau nhiều hơn và nó ức chế mật số sâu
hại. Nếu sâu hại bộc phát lượng lớn quá và thiên địch quá ít không đủ sức
để tiêu diệt thì buộc phải sử dụng thuốc hoá học.
Thứ nhất là làm thế nào trong khu vực mình có thiên địch sẵn để khi sâu
hại tới nó tới liền và phải ở mật số càng cao. Do đó không chỉ quản lý trên 1
ruộng mà trên toàn cả cánh đồng, vì ở những ruộng khác thiên địch cũng có thể
bay tới ruộng của mình, nếu ruộng khác không có thiên địch, ruộng mình
cũng không có thì như vậy không có thiên địch để ức chế sâu hại, Hà
Quang Hùng (1986) [25].
16
Thứ hai con thiên địch có mặt khi có con sâu hại, vì nó ăn con sâu
hại để sống nếu không có sâu hại cũng không có thiên địch, như vậy phải
làm sao tạo ra môi trường có sẵn thức ăn cho thiên địch, đó là vào đầu vụ
lúa không nên làm sạch cỏ trên bờ mà chỉ cắt xuống vừa phải để trên cỏ có
những loại sân ăn lá sống trên đó và chính nó là nguồn thức ăn nuôi con
thiên địch. Việc dùng thuốc diệt sạch cỏ trên bờ là không có lợi, hà Quang
Hùng (1986) [26].
Một vấn đề nữa khi dùng thuốc hoá học nên nghĩ tới chuyện chọn loại
thuốc nào vừa có hiệu quả đối với sâu hại vừa ít có hại cho thiên địch. Có
những loại thuốc gây hại nhiều có những loại gây hại rất ít thậm chí có
những loại không gây hại cho thiên địch. Chúng ta chọn những loại thuốc
có thể giết chết con sâu hại nhưng không gây hại cho thiên địch đó là điều
có lợi để bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng và việc làm này áp dụng cho
độ này kéo theo hậu quả là dễ phát sinh sâu bệnh trên ruộng lúa, hao tốn
thêm số lần phun xịt thuốc. Đồng thời, nhiều cây lúa trên ruộng sẽ tiêu hao
nhiều chất dinh dưỡng, phải bón thêm phân. Yếu tố giảm thứ 2 là giảm
lượng thuốc bảo vệ thực vật (nên phun từ 1 - 2 lần tuỳ vào điều kiện của
dịch hại). Thuốc BVTV nếu sử dụng liều lượng cao, nhiều lần sẽ gây hại
cho con người, gia súc, gia cầm, động vật thuỷ sinh và môi trường đất,
nước. Yếu tố thứ 3 cần giảm đó là giảm lượng phân đạm. Phân đạm làm
cho lúa sinh trưởng nhanh, lá lúa chuyển màu xanh nhanh. Nhưng nếu bón
quá lượng phân đạm so với nhu cầu của cây lúa thì không những không
làm tăng năng suất mà còn làm cho cây lúa mất cân đối về dinh dưỡng dễ
bị sâu bệnh tấn công, dẫn đến giảm năng suất. Đồng thời lãng phí thêm tiền
phân bón, lượng đạm dư thừa làm ô nhiễm môi trường. Nên sử dụng bảng
so màu lá lúa để đáp ứng đúng và đủ nhu cầu đạm cho ruộng lúa.
* 3 Tăng: Tăng năng suất lúa, tăng chất lượng lúa gạo, tăng hiệu quả
kinh tế. Như vậy, muốn tăng năng suất cần áp dụng đúng quy trình kỹ
thuật, áp dụng 3 giảm. Muốn tăng chất lượng lúa gạo cần sử dụng giống lúa
chất lượng cao, bón phân cân đối hợp lý, chú ý các khâu kỹ thuật sau thu
hoạch. Nếu áp dụng tốt chương trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên sẽ góp
phần tăng hiệu quả kinh tế. Theo khuyến cáo của Ngành Nông nghiệp cấy
lúa đúng lịch thời vụ: giúp tránh được các đợt rầy di trú, tạo lợi thế cho cây
lúa phát triển tốt. Xuống giống đồng loạt, thu hoạch nhanh, làm thế nào để
có thời gian cách ly khoảng 3 tuần lễ giữa 2 vụ lúa trong cùng một khu vực
(theo nhận định thường là trà lúa thứ 1 nuôi bệnh cho trà lúa thứ 2) nhằm
cắt đứt nguồn lây truyền và thức ăn của sâu hại trên đồng ruộng, làm giảm
mật số sâu hại và giảm nhẹ thiệt hại của một số bệnh khác. Mật độ cấy
thích hợp giúp lúa phát triển tốt, chế sâu bệnh phát triển, giúp chống chịu
18
tốt với sâu bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch hoạt động làm giảm
kể. Sự có mặt của sâu cuốn lá nhỏ trên một số kí chủ như sau: lúa chét là
1,3%, cỏ mần trầu là 53,2%, cỏ gà nước là 19,2%, cỏ lồng vực cạn là
13,8%, cỏ trứng ếch là 12,5%. Theo Trần Huy Thọ (1983) [50] thì sâu