Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NÔNG THỊ HUYỀN TRANG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN XUÔI VI HỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC


Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Đào Thị Vân
THÁI NGUYÊN - 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các
nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
1.5.1. Vài nét về tác giả Vi Hồng 28
1.5.2. Vài nét về văn xuôi Vi Hồng 30
1.7. TIỂU KẾT 31
Chƣơng 2. MỘT SỐ LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM VĂN
XUÔI VI HỒNG 32
2.1. LỚP TỪ NGỮ CỦA TIẾNG DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 33
2.1.1. Nhận xét chung 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
2.1.2. Phân loại lớp từ ngữ tiếng Tày trong tác phẩm của Vi Hồng 35
2.2. LỚP TỪ KHẨU NGỮ TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 57
2.2.1. Nhận xét chung 57
2.2.2. Phân loại và miêu tả lớp từ khẩu ngữ trong văn xuôi Vi Hồng 58
2.3. LỚP TỪ NGỮ ĐỊA PHƢƠNG TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 64
2.3.1. Nhận xét chung 64
2.3.2. Phân loại lớp từ địa phƣơng trong văn Vi Hồng 65
2.4. LỚP TỪ NGỮ RIÊNG CỦA VI HỒNG 66
2.4.1. Nhận xét chung 66
2.4.2. Phân loại và miêu tả lớp từ ngữ của riêng Vi Hồng 67
2.5. TIỂU KẾT 69
Chƣơng 3. MỘT SỐ PHƢƠNG THỨC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 71
3.1. BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG 71
3.1.1. Nhận xét chung 71
3.1.2. Nét riêng của phép so sánh trong sáng tác của Vi Hồng 72
3.2. BIỆN PHÁP NHÂN HOÁ TRONG VĂN XUÔI CỦA VI HỒNG 85
3.2.1. Nhận xét chung 85
3.2.2. Miêu tả phép nhân hóa trong văn Vi Hồng 85

ấy trong mảng đề tài viết về dân tộc miền núi của mình là Vi Hồng.
1.2 Nhắc tới Vi Hồng là nhắc tới một “kiện tƣớng” của văn học thiểu số
. Với sức sáng tạo của khối óc, sự chân thực của cảm xúc và bầu nhiều huyết
của con tim, qua hệ thống các tác phẩm của mình, Vi Hồng đã góp một tiếng
nói chân thành, sâu sắc vào bản đàn văn học viết về miền núi đa thanh, muôn
giọng. Các tác phẩm của ông đƣợc lấy chất liệu từ cuộc sống, thiên nhiên và
con ngƣời núi rừng Việt Bắc, nơi nhà văn sinh ra, yêu mến và vô cùng am
hiểu. Có thể nói Vi Hồng đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành
diện mạo chung của các dân tộc miền núi.
1.3 Nghiên cứu về Vi Hồng cùng sự nghiệp của ông có nhiều công
trình khoa học. Tuy nhiên, các công trình này mới dừng lại ở việc đánh giá
chung hay đi vào một số khía cạnh của một số tác phẩm cụ thể. Vấn đề ngôn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
ngữ trong văn xuôi Vi Hồng chƣa đƣợc các nhà Việt ngữ học quan tâm đúng
mức. Đặc biệt, việc tìm hiểu ngôn ngữ để từ đó thấy đƣợc tính dân tộc trong
các tác phẩm của Vi Hồng thì rất hiếm nhà khoa học đề cập tới. Đây là nội
dung tƣơng đối mới mẻ.
Đi sâu vào các sáng tác của Vi Hồng, ta sẽ thấy ngôn ngữ đƣợc ông sử
dụng rất đa dạng, phong phú, thể hiện đƣợc tƣ tƣởng, tình cảm một cách hiệu
quả. Mỗi phƣơng tiện ngôn ngữ đều đƣợc sử dụng với một mục đích nhất
định và đem lại các giá trị khác nhau. Vì vậy, tìm hiểu ngôn ngữ trong văn
xuôi của Vi Hồng là việc làm có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
Nó không chỉ giúp chúng ta hiểu đƣợc phong cách nghệ thuật của nhà văn Vi
Hồng mà qua đó, sẽ thấy đƣợc nét riêng của những con ngƣời dân tộc thiểu số
ở vùng núi phía Bắc. Với ý nghĩa thiết thực ấy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề
tài “Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng” làm công trình nghiên cứu khoa
học với mong muốn tìm hiểu thêm một khía cạnh nữa trong văn xuôi của Vi Hồng.

nhân vật thiếu nhi, luận văn đã có cái nhìn đúng đắn về sự phản ánh con
ngƣời miền núi trong sáng tác của nhà văn, thấy đƣợc nét độc đáo trong sáng
tạo nghệ thuật của tác giả, đồng thời khẳng định thêm đóng góp của Vi Hồng
trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Ngoài luận văn cử nhân và luận văn thạc sĩ đã nêu ở trên, TS Phạm
Mạnh Hùng – Đại học Thái Nguyên có đề tài nghiên cứu một cách toàn diện
về nhà văn Vi Hồng đó là “ Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi
Hồng” (Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2003). Trong khi nghiên cứu và tìm hiểu
văn xuôi Vi Hồng con nhiều hạn chế thì đề tài này có ý nghĩa quan trọng
nhằm cung cấp những cứ liệu về các tác phẩm của Vi Hồng.
2.2. Từ góc độ ngôn ngữ.
Trên phƣơng diện ngôn ngữ có luận văn “ Bước đầu tìm hiểu lời thoại
trong văn xuôi Vi Hồng” (Luận văn thạc sĩ , ĐHSP Thái Nguyên, 2008) của
Hoàng Thị Quỳnh Ngân. Với luận văn này tác giả đã từng bƣớc cho chúng ta

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
thấy lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phƣơng diện cấu tạo ngữ pháp,
phƣơng diện dụng học và một số nét riêng của lời thoại trong các tác phẩm
của ông. Có thể nói công trình nghiên cứu này đã đóng góp thêm cho góc độ
nghiên cứu về ngôn ngữ trong văn của Vi Hồng.
Ngoài ra còn có một số đề tài và khoá luận của sinh viên nhƣ: “Giọng
điệu trần thuật trong văn xuôi Vi Hồng” (Đề tài nghiên cứu khoa học, ĐHSP
Thái Nguyên, 2005) của Ngô Thu Thủy, “Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết
“Người trong ống” của nhà văn Vi Hồng” (Khoá luận tốt nghiệp, ĐHSP Thái
Nguyên, 2007) của Trần Thị Hồng Nhung nghiên cứu về các tác phẩm của nhà
văn Vi Hồng từ các góc độ nhƣ giọng điệu trần thuật, cấu trúc ngữ pháp, cách
sử dụng từ ngữ…đều nhằm toát lên phong cách của nhà văn.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã dẫn ở trên cho thấy việc nghiên

- Làm tƣ liệu cho những ai muốn tìm hiểu về ngôn ngữ trong văn xuôi
Vi Hồng nói riêng và trong văn xuôi về đề tài miền núi nói chung.
Từ mục đích trên, luận văn xác định nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ nhƣ: một số vấn đề lý
thuyết về ngữ pháp tiếng Việt, về Ngữ dụng học, về tu từ học.
- Khảo sát và phân loại các lớp từ ngữ mang đặc điểm phong cách nhà văn.
- Khảo sát và phân loại một số phƣơng thức sử dụng biện pháp tu từ và
cách dùng ngôn ngữ trong hội thoại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phƣơng
pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phƣơng pháp thống kê – phân loại: phƣơng pháp nghiên cứu này
đƣợc dùng để thống kê phân loại các lớp từ ngữ và cách biện pháp tu từ sử
dụng trong câu văn trong các tác phẩm văn xuôi của Vi Hồng.
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu: Muốn chỉ ra đƣợc những dấu hiệu
ngôn ngữ trong văn xuôi Vi Hồng phải đặt nó trong thế so sánh đối chiếu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
Phƣơng pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những nét đặc
trƣng riêng của ngôn ngữ văn xuôi của Vi Hồng.
- Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp: Phƣơng pháp này dùng để phân
tích các tín hiệu ngôn ngữ và dùng để tổng hợp các kết quả nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
6.1. Ý nghĩa lý luận.
Khảo sát, thống kê các phƣơng tiện và phƣơng thức sử dụng ngôn ngữ
trong văn xuôi Vi Hồng, luận văn đƣa ra một góc nhìn mới trong nghiên cứu
văn xuôi Vi Hồng. Đó là nghiên cứu các phƣơng thức và phƣơng tiện ngôn
ngữ trên phƣơng diện hệ thống hóa. Hƣớng nghiên cứu này góp phần quan

S. Bally, G. Glison…) đã chối bỏ khái niệm từ. Hoặc nếu thừa nhận họ cũng
tránh đƣa ra một khái niệm chính thức.
Các nhà ngôn ngữ học mong muốn đƣa ra một định nghĩa chung,
khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi tất cả mọi ngôn ngữ, tiếc thay, cho
đến nay vẫn chƣa đạt đƣợc và có lẽ sẽ không thể đạt đƣợc. Chúng ta có thể
đồng tình với quan điểm của L.Serba khi ông cho rằng từ trong ngôn ngữ
khác nhau, sẽ khác nhau…, và không thể có đƣợc một khái niệm về từ nói
chung. Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, ngƣời ta vẫn
thƣờng chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát
toàn thể nhƣng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lƣợng không
nhiều các trƣờng hợp ngoại lệ. Chẳng hạn : Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa
của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây
dựng nên câu.[7,137]. Quan niệm này có nhiều nét gần với quan niệm coi
từ là một hình thái tự do nhỏ nhất. Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhỏ
nhất có thể xuất hiện độc lập đƣợc. Nhƣng ngay cả những quan niệm nhƣ
thế, thực sự cũng không phải là áp dụng đƣợc cho tất cả mọi ngôn ngữ và
tất cả mọi kiểu từ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Về cấu tạo, từ đƣợc cấu tạo bởi các hình vị. Nói cách khác, từ đƣợc tạo ra
nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định.
Vậy hình vị là gì? Quan niệm thƣờng thấy về hình vị đƣợc phát biểu nhƣ sau:
Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp
[7,139]. Quan niệm này xuất phát từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu vốn
rất mạnh về hình thái học, dựa trên hàng loạt các ngôn ngữ biến hình.
Từ trong các ngôn ngữ đƣợc cấu tạo bằng một số phƣơng thức khác
nhau. Hay nói khác đi, ngƣời ta có những cách khác nhau trong sử dụng các
hình vị để tạo từ cụ thể nhƣ : Dùng một hình vị tạo thành một từ. Phƣơng thức

* Phân loại:
Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại danh từ, nhìn chung thì danh từ
có có thể phân thành các loại nhƣ sau: danh từ riêng và danh từ chung; danh
từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp; danh từ đơn vị; danh từ đếm đƣợc và
danh từ không đếm đƣợc… Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung
làm rõ các vấn đề về danh từ riêng và danh từ chung.
Thông thƣờng, khi phân biệt danh từ riêng và danh từ chung chúng ta
thƣờng căn cứ vào cách gọi tên của chúng.
- Danh từ riêng là “ tên gọi cụ thể của từng cá thể”, “Chúng là tên gọi
của từng ngƣời, tên miền đất (địa danh), tên sách báo, tên thời đại…” [2,
475]. Chúng không mang nghĩa.
Ví dụ: Lan, Mai, Cúc; Va Đáo, Thế Ru, Linh Thang Nghít…
- Danh từ chung là “ tên gọi của từng lớp sự vật đồng chất về phƣơng
diện nào đó, đó là cách gọi khái quát cho nhiều vật cụ thể thuộc cùng một lớp
đồng chất (danh từ chung chỉ vật đơn chất rất ít)”. [2, 475]
Ví dụ: Nhà, ô tô, xe máy, quạt điện, máy tính…
b) Động từ
* Khái niệm: “động từ là từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay
quá trình, thƣờng dùng làm vị ngữ trong câu. “Chạy”, “ở”, “phát triển” đều
là động từ [34, 346].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
* Phân loại:
Động từ tiếng Việt không biến hình, nên khả năng kết hợp của chúng rất
phức tạp. Và do đó, việc phân loại động từ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tổng
hợp từ nhiều cách phân loại thì động từ tạm đƣợc phân chia thành các nhóm sau:
- Động từ độc lập: là những động từ có ý nghĩa đầy đủ, có thể một mình
đảm đƣơng các chức vụ cú pháp trong cụm từ hoặc câu. Động từ độc lập có

chuyển loại: chạy làng (thái độ chạy làng), đả kích (tranh đả kích), buông thả
(lối sống buông thả).
1.1.2. Khái quát về cụm từ
1.1.2.1.Cụm từ và ngữ cố định.
“Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp tự do với nhau
theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu
(để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)” [2, 6].
Ví dụ :
(1) nghèo nhưng tốt bụng (cụm từ)
(2) về những quyển sách của anh (không phải cụm từ ví có chứa kết từ
ở đầu)
Không chứa kết từ chỉ chức vụ ngữ pháp ở đầu và không mang một
ngữ điệu xác định, nên cụm từ chỉ hoạt động trong câu với chức vụ ngữ pháp
thích hợp.
“ Ngữ cố định (cũng gọi là tổ hợp từ cố định) là những kiến trúc cho
sẵn gồm hai từ trở lên, có tính chất bền vững về từ vựng và ngữ pháp”[2,
6],thƣờng đƣợc sử dụng nhƣ những khuôn dấu, không thay đổi, hoặc thay đổi
trong một khuôn khổ hạn hẹp.
Trong ngữ cố định, các từ cùng nhau biểu thị một (hay một vài) ý
nghĩa, và ý nghĩa đó thƣờng là ý nghĩa khác rõ rệt với ý nghĩa của các từ
trong tổ hợp cộng lại. Từ dùng trong ngữ cố định thông thƣờng là những từ
cho sẵn, quan hệ ngữ pháp giữa chúng cũng là những quan hệ cho sẵn, bắt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
buộc, thƣờng không hiển hiện, nhiều khi phải phân tích kĩ mới nhận ra đƣợc.
Ngữ cố định có tính chất cố định cả ở phƣơng diện ngữ nghĩa từ vựng lẫn
phƣơng diện quan hệ ngữ pháp.
Ví dụ : (3) múa rìu qua mắt thợ

hiện tƣợng tiêu biểu.
a) Cụm danh từ
Theo Diệp Quang Ban, Cụm danh từ là tổ hợp tự do không có kết từ
đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ và thành
tố chính là danh từ. [3, 24]
Cụm danh từ là cụm từ, trong đó thành tố trung tâm là danh từ còn các
thành tố phụ là các từ có chức năng bổ sung ý nghĩa cho danh từ trung tâm đó.
Ở dạng đầy đủ cụm danh từ gồm ba phần: phần phụ trƣớc, danh từ trung tâm,
phần phụ sau.
Ví dụ: tất cả những cái con mèo đen ấy (tất cả, những, cái là phần phụ
trƣớc; con mèo là danh từ trung tâm; đen, ấy là phần phụ sau).
b) Cụm động từ
Cụm động từ (còn gọi là động ngữ) là loại cụm chính phụ, trong đó
thành tố trung tâm là động từ còn các thành tố phụ có chức năng bổ sung ý
nghĩa về cách thức, mức độ, thời gian, địa điểm… cho động từ trung tâm đó.
Giống nhƣ cụm danh từ, cụm động từ cũng gồm ba phần, đƣợc kết hợp
ổn định với nhau theo thứ tự: phần phụ trƣớc, trung tâm, phần phụ sau. Trung
tâm của động ngữ có thể là một động từ nhƣng cũng có thể là một vài động từ
(kể cả động từ không độc lập).
Ví dụ: đi đá bóng (đi là động từ trung tâm; đá bóng là phần phụ sau).
c) Cụm tính từ
Cụm tính từ (còn gọi là tính ngữ) là loại cụm chính phụ có tính từ làm
thành tố trung tâm và một hoặc một số thành tố phụ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Nói chung, xét về cấu tạo, cụm tính từ khá giống với cụm động từ và
cũng gồm ba phần đƣợc sắp xếp theo thứ tự phần phụ trƣớc, trung tâm, phần
phụ sau. Phần phụ trƣớc thƣờng là các phó từ giống nhƣ ở cụm động từ.

tƣơng đƣơng giữa hai đối tƣợng. Đây là kết quả của tƣ duy khái niệm, tƣ duy
khoa học theo những quy luật thông thƣờng.
Chức năng chủ yếu của so sánh logic là nhận thức. Kiểu so sánh này là
dạng thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, giúp ngƣời nghe hiểu rõ
nét, sâu sắc những phƣơng diện nào đó của sự vật.
Ví dụ:
- Tuyết cũng cao nhƣ Len
- Chân Thanh Hằng dài hơn chân Minh Thƣ.
- Cân nặng của An bằng cân nặng của Bình
Mục đích của so sánh luận lý là xác lập giá trị một đại lƣợng, một tính
chất, một đặc trƣng bằng cách đối chiếu với một giá trị khác, mà chúng có thể
lớn hơn, bằng hoặc kém.
- So sánh tu từ :
So sánh tu từ là là phƣơng thức so sánh phổ biến ở mọi ngôn ngữ.
Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, tác giả Cù Đình Tú
nêu khái niệm: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối
tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm diễn tả một cách hình ảnh
đặc điểm của một đối tượng” [39, 175].
Trong so sánh tu từ, các đối tƣợng đƣợc đƣa ra so sánh là các đối tƣợng
khác loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh
đặc điểm của một đối tƣợng.
Về mặt hình thức, so sánh tu từ khác với mọi cách tu từ cấu tạo theo
quan hệ liên tƣởng ở chỗ bao giờ cũng công khai phô bày hai vế:
- Vế đƣợc so sánh
- Vế so sánh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Mỗi vế có thể gồm một hoặc nhiều đối tƣợng. Các đối tƣợng có thể là

- Nội dung: Dựa trên sự liên tƣởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữa
đối tƣợng không phải là ngƣời và ngƣời.
Chức năng: Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm. Nhân hoá
đƣợc dùng rộng rãi trong các phong cách : khẩu ngữ, chính luận,văn chƣơng.
Ngoài ra còn có biện pháp vật hoá. Ðó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc
tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động
của con ngƣời. Biện pháp này thƣờng đƣợc dùng trong khẩu ngữ và trong văn
thơ châm biếm. Ví dụ:
Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi,
Ai ngờ quang đứt lọ rơi
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.
(Ca dao)
1.2.2.3. Biện pháp khoa trương
Khoa trƣơng (hay còn gọi là ngoa dụ, phóng đại – Hyperbole) là biện
pháp tu từ dùng sự cƣờng điệu quy mô, tính chất, mức độ, của đối tƣợng
đƣợc miêu tả so với cách biểu hiện bình thƣờng nhằm mục đích nhấn mạnh
vào một bản chất nào đó của đối tƣợng đƣợc miêu tả.
Ví dụ:
Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng hạt ớt thấy ngọt ngay như đường
(Ca dao)
Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho
(Ca dao)
Chức năng: khoa trƣơng có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm. Do
có tính biểu cảm cao nên biện pháp này ít đƣợc dùng trong các văn bản đòi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
1.3.2.1. Hành vi ngôn ngữ “hỏi”
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, hỏi là một hành vi ngôn ngữ phổ biến,
một hành vi ngôn ngữ tham gia thƣờng xuyên vào các cấu trúc hội thoại. Mặt
khác, nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những sự chuyển hóa khác
nhau mà câu hỏi có thể thực hiện nhiều chức năng giao tiếp, những hành vi tại
lời rất đa dạng.
Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ trong đó có chứa các biểu
thức dùng để hỏi. Hành vi hỏi thuộc loại hành vi ở lời theo phân loại hành vi
ngôn ngữ của Austin. Trong hành vi hỏi có hành vi hỏi trực tiếp và hành vi
hỏi gián tiếp.
Ví dụ:
Hỏi là một hành vi ngôn ngữ trực tiếp khi nó yêu cầu ngƣời nghe một
câu trả lời.
Bây giờ mận mới hỏi đào:
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
“Mận” là ngƣời con trai, “đào” là ngƣời con gái, “vƣờn hồng” là tình
cảm, hay trái tim của ngƣời con gái. Chàng trai đã dùng hình thức hỏi trực
tiếp để dò xét gia thế, tình cảm của ngƣời con gái. Điều này đƣợc biểu hiện rõ
qua câu trả lời của cô nàng.
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Hành vi hỏi đƣợc dùng gián tiếp để thực hiện nhiều mục đích khác nhau
nhƣ: hỏi để nhắc nhở, hỏi để trách móc, hỏi để khẳng định, hỏi để cầu khiến.
Ví dụ:
Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
“Thuyền”, “bến” là hình ảnh ẩn dụ quen thuộc chỉ ngƣời con trai (hay

rào đón loại này cho thấy rằng ngƣời nói hiểu điều ngƣời đó nói ra là thừa và
muốn báo rằng ngƣời đó có ý thức đƣợc phƣơng châm về lƣợng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status