1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM DIỆP THỊ HUYỀN TRANG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO
TRYPANOSOMA EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI THÁI NGUYÊN VÀ LẠNG SƠN VÀ PHÁC
ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ
Chuyên ngành: Thú Y
Mã số: 60.62.50
LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
to rồi lăn ra chết.
Wuyts N. và cs. (1994) [66] cho biết, tại Đông Nam Á, bệnh tiên mao trùng
do Trypanosoma evansi là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho
ngƣời chăn nuôi vì nó ảnh hƣởng đến sức khỏe của trâu, bò và lợn. Các triệu chứng
trong giai đoạn cấp tính gồm: sảy thai, rối loạn hệ thống thần kinh trung ƣơng và
thậm chí là chết; nhiễm bệnh thể mãn tính ảnh hƣởng lớn đến khả năng lao tác và
năng suất của vật nuôi.
Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [13], Phan Địch Lân (2004) [18],
Phan Văn Chinh (2006) [2], tỷ lệ mắc Trypanosoma evansi ở gia súc vùng núi và
trung du cao hơn các vùng đồng bằng và ven biển. Trong khi đó, ở nƣớc ta, chăn
nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ yếu ở các tỉnh
miền núi và trung du - là các vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển
chăn nuôi gia súc nhai lại, nhƣng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều
trị tại địa phƣơng còn lạc hậu đã dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ
biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn.
Trong hai năm trở lại đây, ở Việt Nam đã phát hiện Trypanosoma spp. gây
bệnh cho ngƣời. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy, loài Trypanosoma spp. gây bệnh
cho ngƣời có các đặc tính sinh học giống với Trypanosoma evansi gây bệnh cho gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
súc. Một số quốc gia trên thế giới nhƣ: Thái Lan, Ấn Độ đã xác định đƣợc
Trypanosoma evansi có khả năng gây bệnh cho cả ngƣời và gia súc. Việc thích nghi
và gây bệnh cho con ngƣời của Trypanosoma evansi, hay ngƣợc lại, việc thích nghi
và gây bệnh cho gia súc của Trypanosoma cruzi, Trypanosoma brucei… là hoàn
toàn có thể xảy ra.
Từ những phân tích ở trên về mức độ phổ biến và những thiệt hại do bệnh
tiên mao trùng gây ra trên vật nuôi ở Việt Nam, những biến đổi về dịch tễ bệnh có
thể tạo ra các chủng Trypanosoma spp. gây bệnh chung cho ngƣời và gia súc, những
khó khăn trong công tác chủ động phòng ngừa bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
Bệnh do loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi gây ra. Trâu, bò, ngựa mắc bệnh
dễ chết hoặc thiếu máu, suy nhƣợc, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất.
1.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
1.1.1.1. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Levine và cs. (1980) (dẫn theo Lƣơng Văn Huấn và cs., 1997 [8]), vị trí
của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) nhƣ sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax
Loài Trvpanosoma (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Loài Trypanosoma (N) congolense
Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh chất có
chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng,
kinetoplast (thể cơ động), mitochrondrio, reticulum (lƣới nội bào) và mạng lƣới golgi.
- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng.
Nhân thƣờng nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân, về
phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (KADN). Từ kinetoplast có một roi
chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do. Roi của
tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi
ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare,
1972 [44]; Nguyễn Quốc Doanh,1999 [5]).
Tiên mao trùng di động đƣợc trong máu nhờ một roi tự do xuất phát từ phía
sau thân, chạy vòng quanh thân tạo thành một màng rung. Khi di động, roi tự do
vung ra phía trƣớc và màng rung chuyển động giúp cho tiên mao trùng di chuyển rất
nhanh trong máu của vật chủ (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2002 [15]).
Hình 1.1. Cấu tạo của Trypanosoma
A. Roi; B.Tổ hợp cytoskeleton; C. Nhân; D. Mitochrondrio; E. Thể cơ động kinetoplast;
F. Thể đặc; G. Túi tiên mao; H. Phần thân chính; L. Golgi; J. Lƣới nội sinh chất;
K. Màng rung; L. Chỗ tiếp xúc roi với màng rung; M. Chỗ tiếp xúc roi với thân.
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [11])
1.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của T. evansi
Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng
nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong
quá trình sống ký sinh. Bằng phƣơng pháp điện di miễn dịch huyết thanh thỏ tối
miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30 thành phần kháng
Weir et al (1986) [65] cho biết, glucoprotein chịu trách nhiệm về sự thay đổi
kháng nguyên của T. evansi. Cấu trúc kháng nguyên, đặc tính và chức năng của
glucoprotein bề mặt là khó hiểu nhất của một kháng nguyên ký sinh trùng. Giai
đoạn nhân lên của T. evansi ở trong máu dài hơn, còn giai đoạn Trypamasigote ngắn
ngủi. Sự nhân lên của T.evansi tiếp tục tới khi ký chủ có khả năng sản sinh kháng
thể làm ngƣng kết, tiêu tan T. evansi. Kháng thể xuất hiện đã làm số lƣợng T. evansi
giảm tụt xuống. T. evansi mới xuất hiện có tính kháng nguyên khác với tính kháng
nguyên của T. evansi xuất hiện lần đầu, ngay sau đó T. evansi đợt mới lại bị kháng
thể tiêu diệt, tới khi T. evansi phát triển giai đoạn thứ ba. Quá trình phát triển nhịp
nhàng của T. evansi và kháng thể của ký chủ đã làm T. evansi suy yếu và gây nên
thể bệnh mãn tính. Chu kỳ xuất hiện này thƣờng là 7 ngày. Sự thay đổi tính kháng
nguyên là do có sự thay đổi độ dày chất bề mặt của T. evansi.
Nishikawa H. và cs. (1990) [49] đã nghiên cứu kháng nguyên T. evansi ở
Thái Lan, bằng phƣơng pháp miễn dịch huỳnh quang thấy rằng, kháng nguyên T.
evansi không phản ứng chéo với Babesia bovis, Babesia bigemina, Anaplasma
maginale và Theileria sergenti ở hiệu giá 1:30.
Dome T.W. (1992) [42] khi so sánh các type kháng nguyên từ 15 chủng của
T. evansi phân lập từ các vùng khác nhau của Indonesia thấy, có 2 nhóm chính và 2
nhóm phụ, 4 nhóm có khác nhau về type kháng nguyên, các type kháng nguyên này
cũng giống nhƣ các type kháng nguyên phân lập từ Châu Phi và Nam Mỹ.
Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng
nguyên biến đổi của tiên mao trùng. Nhƣ vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng
nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chƣa thống nhất.
* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG),
làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hoá
của gen. Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG đƣợc thay đổi hoàn toàn bằng
các phân tử VSG mới. Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trƣớc đã không còn tác dụng
đối với kháng nguyên mới này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia,
bán đảo Đông Dƣơng, Trung Quốc, Indonexia, Philippine.
Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã đƣợc thanh toán), hiện chỉ
còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ).
Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở
Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia.
Châu Úc cũng đã đƣợc xác định là có bệnh tiên mao trùng (Reid, 2000 [52]).
Losos G. J. (1972) [45] cho rằng, bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất ở châu
Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Lào,
Camphuchia, Iran, Philippine.
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác
nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [13],
bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây). Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và
thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm tiên mao trùng cao
hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển
xuống vùng đồng bằng).
Theo Nguyễn Phƣớc Tƣơng (2002) [34], hai “bệnh ngủ” ở ngƣời bị lây
nhiễm bởi các ký sinh trùng máu của trâu bò là các bệnh tiên mao trùng do
Trypanosoma gambiense và Trypanosoma rhodesiense, thƣờng thấy nhất ở miền
Trung và miền Tây của Châu Phi.
Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma gambiense ở ngƣời do sự lây bệnh từ
trâu bò mắc bệnh này thông qua loài ruồi Glossina palpalis. Loài ruồi này hoạt
động vào ban đêm và chủ yếu sống bằng hút máu ngƣời, đồng thời chúng cũng hút
máu trâu bò từ 30% - 38% bữa ăn của chúng. Do đó truyền bệnh tiên mao trùng từ
bò sang ngƣời.
fumifer, Chrysops vander. Miền Bắc nƣớc ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến
ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở
những vùng sinh cảnh đặc biệt là Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có
độ cao dƣới 1000 mét), Stomoxys indica (chỉ thấy ở vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá).
Phan Địch Lân (2004) [18] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai loài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
mòng Tabanus rubidus và Tabanus striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2% và
14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ 12,5%. Ở
những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ dàng
tìm thấy tiên mao trùng. Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi và mòng, tiên mao trùng
vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ
thứ 34, trung bình là 24 giờ. Sự hoạt động của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ
35 - 42. Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao trùng ngừng hoạt động.
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian:
từ 1 - 34 giờ có hình thái, kích thƣớc bình thƣờng; 35 - 45 giờ: tiên mao trùng có
hình dạng thay đổi, tăng kích thƣớc chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: tiên mao
trùng trƣơng to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động.
Thực nghiệm đã chứng minh, khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau khi
xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus nhƣ sau: thời gian từ giờ thứ 1 đến thứ 5, tiên
mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tƣơng tự nhƣ khi truyền
thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột
thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng
dài. Điều này có thể giải thích là do độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số
lƣợng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập
vào mòng Tabanus rubidus. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Phạm Sỹ
Lăng (1982) [13] cho rằng, thời gian xâm nhập của tiên mao trùng càng lâu thì tỷ lệ
gây bệnh càng giảm, điều này có thể do giảm số lƣợng và độc tính của T. evansi
trong máu của mòng Tabanus rubidus.
mùa xuân trâu, bò bị nhiễm tiên mao trùng. Theo tác giả, vào thời gian này, trâu, bò
phải làm việc nặng trong điều kiện thời tiết lạnh, thức ăn xanh thiếu nên sức đề
kháng của con vật giảm, dẫn đến tình trạng phát triển bệnh tiên mao trùng vào cơ
thể vật chủ mạnh nhất. Hiện tƣợng này vẫn xảy ra hàng năm ở các vùng chăn nuôi
trâu bò đàn cũng nhƣ các nông trƣờng nuôi bò sữa.
Theo Luckins A. G. (1988) [46], sự xuất hiện lƣợng lớn ruồi, mòng trong mùa
mƣa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò,
dê, lạc đà. Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bò nhiễm tiên mao
trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
bệnh thƣờng phát ra vào thời gian này và trâu bò bị đổ ngã hàng loạt.
1.1.2.5. Cơ chế sinh bệnh T. evansi
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2008) [10], khi vào máu vật chủ, tiên mao
trùng sinh sản bằng hình thức phân đôi theo chiều dọc nhiều lần, số lƣợng tăng lớn,
gây tắc mạch máu. Độc tố của tiên mao trùng vào, làm con vật trúng độc (độc tố
gồm chất độc tiết ra của tiên mao trùng, xác của chúng bị tan ra, những sản phẩm
của quá trình trao đổi chất). Độc tố làm rối loạn chức năng điều hòa thân nhiệt gây
sốt. Tiên mao trùng còn ngăn chức năng tạo hồng huyết cầu của lách, tủy xƣơng,
làm lƣợng hồng cầu giảm nhiều, máu nhạt, huyết sắc tố biến thành chất vàng của
mật (đảm sắc tố), ngấm vào cơ thể làm niêm mạc vàng.
Tiên mao trùng sinh sản nhiều còn làm tắc các mạch máu nhỏ, do các niêm
mạc bị tụ máu. Do tiên mao trùng làm tổn thƣơng thành mạch máu, huyết dịch xuất
ra ngoài nhiều sinh thủy thũng, dần dần máu chảy xuống vùng thấp. Huyết dịch
đông lại, một phần tổ chức biến thành mỡ, nên thủy thũng chứa chất đặc nhƣ keo.
Do hệ thần kinh bị trúng độc, con vật ốm, phát ra những triệu chứng thần kinh nhƣ:
run rẩy, bại liệt, cứng chân, làm trâu, bò điên cuồng trƣớc khi chết. Chất độc của
tiên mao trùng làm con vật ảnh hƣởng đến gan, làm chức năng dự trữ đƣờng của
gan giảm, trong khi cơ thể vẫn sử dụng đƣờng, ký sinh trùng cũng tiêu hao đƣờng,
nhiều, làm cho súc vật bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa,
thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các bệnh khác.
Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin, độc
tố này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống và
độc tố do xác chết của tiên mao trùng phân huỷ trong máu sau 15 - 30 ngày. Độc tố
của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ƣơng làm rối loạn trung khu điều
hoà thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau). Khi sốt
thƣờng có rối loạn về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống). Độc tố cũng phá
huỷ hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhƣợc dần.
Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật ỉa chảy. Hội
chứng tiêu chảy thƣờng xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh.
Khi tăng lên với số lƣợng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các mao
mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷ thũng chất keo
vàng dƣới da.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
1.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh T. evansi ở trâu, bò
Bệnh tiên mao trùng thƣờng biểu hiện ở hai thể là thể cấp tính và thể mãn
tính, tuy nhiên trong thực tế thƣờng gặp ở dạng mãn tính là chủ yếu.
+ Thể cấp tính: con vật vẫn béo tốt, đang đi làm đột nhiên bị ngã hoặc không
thể đi làm đƣợc nữa, sốt rất cao ở trâu, bò là 39
0
5 - 41
0
5, ở ngựa là 41
0
C - 42
0
17
Trâu, bò bị bệnh mãn tính thƣờng kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau,
nằm tƣ thế quỳ và không đi lại đƣợc. Mặc dù nằm liệt nhƣng vẫn ăn và nhai lại cho
đến khi sắp chết.
- Phù thũng dƣới da: phù thũng thƣờng thấy ở vùng thấp của cơ thể nhƣ ở
bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục.
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò
bệnh. Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sƣng đỏ ngầu. Khi
khỏi bệnh, mắt có màng trắng (cùi nhãn) kéo che kín giác mạc.
- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu
vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa chảy tiếp theo
những cơn sốt cách quãng. Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thƣờng dai dẳng và
con vật vẫn ăn đƣợc.
- Gầy yếu, suy nhƣợc: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 -
14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu. Nếu bệnh kéo dài thì
con vật gầy xơ xác, lông dựng ngƣợc, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt,
lông dễ rụng, dần dần suy nhƣợc cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản.
Nếu gặp điều kiện bất lợi nhƣ thiếu ăn, rét mƣớt thì trâu, bò dễ chết. Trong thực tế,
có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khoẻ, làm việc bình thƣờng khi đƣợc
chăm sóc nuôi dƣỡng tốt.
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T. evansi gây ra. Theo Silva
Rams và cs. (1995) [54], số lƣợng hồng cầu và hàm lƣợng huyết sắc tố giảm, số
lƣợng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu lymphô, bạch cầu ái
toan tăng nhƣng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và Albumin giảm rõ rệt.
Phạm Sỹ Lăng và cs. (1984) [14] cho biết, khi protein tổng số và Albumin
giảm thì các thành phần α, β và γ globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5.
Theo Damayanti R. và cs. (1994) [39], trâu bệnh có những biểu hiện gầy yếu,
ủ rũ, kém vận động, bỏ ăn. Khối lƣợng cơ thể giảm rõ rệt.
Phạm Sỹ Lăng (1982) [13] cho biết, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm theo
tại Indonesia. Mổ khám trâu gây nhiễm ở tuần 1, 2, 3, 4, 8 và 12 sau gây nhiễm để
nghiên cứu bệnh lý. Bệnh tích đại thể gồm có: xuất huyết màng tim, viêm phổi,
viêm gan, lách sƣng phù, hạch bạch huyết sƣng to và tủy xƣơng tăng sinh. Bệnh tích
vi thể thấy rõ ở tuần 1 - 7 sau gây nhiễm, các tổn thƣơng đƣợc mô tả gồm: viêm
phổi kẽ, viêm cơ tim kẽ, hoại tử lách, viêm cơ và tăng sản sinh tủy xƣơng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
Nguyễn Quốc Doanh và cs. (1997) [4] cũng cho biết, bệnh tích vi thể ở thỏ
nhiễm T. evansi gồm:
- Vân các sợi cơ tim bị mờ rất khó nhận biết, bào tƣơng nở to, bị thoái hóa
dạng hốc và thoái hóa dạng hạt.
- Các xoang gan và tĩnh mạch dãn, tế bào gan thoái hóa mô rải rác, tế bào
Kupffer tăng sinh, tế bào Lympho và một số ống mật giãn, trong lòng ống phát hiện
ký sinh trùng.
- Lách: một số nang Lympho có xơ hóa, các xoang giãn có nhiều đại thực
bào, một số đại thực bào lớn có nhiều nhân, trong bào tƣơng đại thực bào chứa
hemosiderine ở các mức độ khác nhau.
- Thận: sung huyết, một số ống thận giãn.
1.1.4. Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
1.1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng đặc trƣng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa
không phải lúc nào cũng phát hiện đƣợc. Rất nhiều gia súc mang bệnh nhƣng khó
phát hiện các triệu chứng đặc trƣng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh tiên
mao trùng mãn tính. Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh
đặc trƣng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh. Trâu
bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo
dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng,
1982 [13]). Triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng
(Nguyễn Đăng Khải, 1995 [9]).
Ƣu điểm của phƣơng pháp giọt mỏng là có thể phân biệt đƣợc hình thái các
loài tiên mao trùng khác nhau.
* Phương pháp tập trung T. evansi
Ngƣời ta đã sử dụng phƣơng pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằng ống
Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose.
- Phƣơng pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit: cho máu động vật
nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống đƣợc bịt kín bằng chất dẻo matit,
một đầu ống để hở. Ly âm với tốc độ 14.000 vòng/phút trong 5 phút. Sau đó kiểm
tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tƣơng và hồng cầu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
(độ phóng đại 10 x 10).
Phƣơng pháp này đơn giản, phát hiện tiên mao trùng tốt hơn phƣơng pháp
xem tƣơi và nhuộm Giemsa. Song, tỷ lệ phát hiện chƣa cao.
Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phƣơng pháp Darkground: dùng
cƣa y tế cắt ống ở vị trí tiên mao trùng tập trung (ranh giới giữa huyết tƣơng và
hồng cầu), nhỏ 1 giọt huyết tƣơng lên phiến kính, đậy la men và kiểm tra dƣới kính
hiển vi (độ phóng đại 10 x 40).
* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm
Đây là phƣơng pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thƣờng đƣợc ứng dụng
nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam. Phƣơng pháp này có ƣu điểm
là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong
động vật thí nghiệm mẫn cảm. Song, nhƣợc điểm của phƣơng pháp tiêm truyền
động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với số lƣợng nhiều và thời gian
ngắn thì phƣơng pháp này không thể đáp ứng đƣợc (Lê Ngọc Mỹ, 1994 [21]; Đoàn
Văn Phúc và cs., 1994 [24]).
* Phương pháp huyết thanh học chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Bằng phƣơng pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng
nguyên tiên mao trùng. Đây là các phƣơng pháp huyết thanh học đặc hiệu.
Phƣơng pháp này có thể ứng dụng trong kiểm tra dịch tễ và có thể ứng
dụng ở cơ sở. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện bệnh không cao do phƣơng pháp này cho
kết quả dƣơng tính cả khi con vật khỏi bệnh nhƣng vẫn còn kháng thể tồn tại trong
huyết thanh. Mặt khác, đối với những súc vật mới nhiễm bệnh tiên mao trùng trong
huyết thanh chƣa có kháng thể nên khi kiểm tra bằng phƣơng pháp LATEX sẽ cho
kết quả âm tính.
- Phương pháp CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)
Đây là phƣơng pháp ngƣng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể
trên bản nhựa, đƣợc dùng để phát hiện kháng thể lƣu động trong máu động vật
nhiễm bệnh.
Nguyên lý: kháng nguyên tiên mao trùng đã đƣợc nhuộm màu kết hợp với
kháng thể tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh.
Cách tiến hành: dùng ống hút 2,5 ml dung dịch Buffer cho vào lọ kháng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
nguyên chuẩn đã đƣợc nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều. Cho vào lọ kháng
nguyên đối chứng (đối chứng dƣơng, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5 ml dung dịch buffer,
lắc đều. Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệ cần chẩn đoán (1/8).
Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã đƣợc pha loãng lần lƣợt vào các vòng
tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào hai vòng tròn khác của bản,
mỗi loại 1 giọt (tƣơng đƣơng 45µl). Sau đó cho vào tất cả các vòng tròn trên bản
CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn. Dùng que nhựa trộn đều. Cuối cùng cho lên máy
lắc 5 phút (60 - 70 lần/ phút) và đánh giá kết quả.
Ứng dụng phƣơng pháp CATT ở Việt Nam để chẩn đoán bệnh tiên mao
trùng, Lƣơng Tố Thu và cs. (1996) [32] cho biết, phƣơng pháp này dễ sử dụng, có
độ nhạy, độ đặc hiệu cao. Theo tác giả ứng dụng IFAT chẩn đoán các mẫu thu thập
ở địa phƣơng cho độ nhạy của CATT gần gấp đôi phƣơng pháp tiêm truyền chuột
bạch (CATT 73,75%; tiêm truyền chuột bạch 100%).
- Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect
bệnh tiên mao trùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao.
- Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay)
Phƣơng pháp ELISA là một trong những phƣơng pháp hiện đại nhất đƣợc
ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng.
Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Globulin (kháng kháng
thể) có mang một enzym (Phosphatase hoặc Peroxydase) đƣợc gắn trên mảnh Fc,
cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên. Sau đó, cho cơ chất sinh
màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo nên màu. So sánh
với màu của quang phổ kế sẽ định lƣợng đƣợc mức độ của phản ứng.
Phƣơng pháp ELISA hiện đang đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc trên thế
giới. Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ và cs. (1994) [21] đã bƣớc đầu chế kháng nguyên
tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nƣớc ta.
Trần Đức Hạnh và cs. (2009) [6] đã ứng dụng phƣơng pháp ELISA chẩn
đoán tiên mao trùng trâu bò tại huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên cho thấy, quy
trình ELISA đƣợc sử dụng kháng nguyên bề mặt với nồng độ kháng nguyên phủ đĩa
1µg/ml, nồng độ huyết thanh pha loãng 1/400, nồng độ pha loãng conjugate
1/40000 cho kết quả chẩn đoán tốt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
25
+ Phương pháp sinh học phân tử (Polymerase Chain Reation)
Phƣơng pháp sinh học phân tử đƣợc coi là phƣơng pháp hiện đại nhất trong
chẩn đoán bệnh tiên mao trùng. Vào năm 1987, Muliis và cs. đã thiết lập các phản
ứng trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng. Nguyên lý của phản ứng này là dựa vào
sự có mặt của primer đặc hiệu để xác định sự có mặt của ADN của tiên mao trùng
có trong máu động vật nhiễm bệnh. Phƣơng pháp này có đặc điểm là độ nhạy và độ
chính xác cao. Tuy nhiên để thực hiện đƣợc đòi hỏi phải có trình độ cao và trang
thiết bị hiện đại, do đó nó vẫn chƣa đƣợc áp dụng rộng trong chẩn đoán bệnh tiên
mao trùng.
1.1.5. Phòng trị T. evansi cho trâu, bò