TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI DỊCH
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN
CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP:
BẰNG CHỨNG TỪ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẮT THÉP CỦA ẤN ĐỘ
Tiến sĩ Ray Sarbapriya
Trợ lý giáo sư, Phòng Thương mại,
Shyampur Siddheswari Mahavidyalaya,
Howrah, West Bengal,Ấn Độ
GVHD : TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Thực hiện : Nhóm 19
Lớp : Cao Học ngày 4
Khóa : K22
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2013
31
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN
STT Họ tên Ngày tháng năm sinh
1 Võ Hoàng Mẫn 17/09/1988
2 Nguyễn Kim Minh Trâm
24/12/1989
3 Nguyễn Thị Út 16/03/1988
4 Phạm Hoàng Hà
27/10/1988
5 Nguyễn Phạm Nhật Triển
17/10/1987
31
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
Tỷ lệ tăng trưởng 30
Tính không ổn định của doanh nghiệp 30
Tính thanh khoản 31
Tuổi 32
KẾT LUẬN 32
31
TÓM TẮT
Mục tiêu của bài viết này nhằm xác định các yếu tố quan trọng quyết định cơ cấu vốn
của các doanh nghiệp được liệt kê trong các ngành công nghiệp sắt thép của Ấn Độ. Bài
viết này xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau quyết định cơ cấu vốn-biến phụ
thuộc, sử dụng phương pháp Bình phương bé nhất phân tích các doanh nghiệp sắt của Ấn
Độ giai đoạn 1991-1992 đển 2009-10. Phân tích của chúng tôi cho thấy rằng thành phần tài
sản, quy mô và lá chắn thuế không phải từ nợ có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tỷ lệ nợ trên
vốn cổ phần, điều này củng cố nhiều kết quả nghiên cứu trước đó, tuổi, lợi nhuận và tài sản
thế chấp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với đòn bẩy. Các yếu tố khác như rủi ro kinh doanh,
tính linh hoạt, cơ hội phát triển dường như không có tác động đáng kể đến cơ cấu vốn.
Từ khóa: Đòn bẩy tài chính, cơ cấu vốn, sắt, thép, công nghiệp, Ấn Độ, yếu tố quyết
định.
31
GIỚI THIỆU
Cơ cấu vốn là một vấn đề quan trọng trong tài chính doanh nghiệp đối với các nhà
quản lý và các nhà nghiên cứu. Cơ cấu vốn là sự kết hợp của nợ và vốn cổ phần nhằm tài
trợ cho kế hoạch chiến lược của một tổ chức. Một cơ cấu vốn thích hợp sẽ củng cố mục tiêu
tài chính chiến lược, đồng thời tối đa hoá giá trị doanh nghiệp và tối thiểu hoá chi phí.
Quản lý chiến lược và thích hợp cơ cấu nguồn vốn sẽ đảm bảo việc tiếp cận các nguồn vốn
cần thiết để tài trợ cho tăng trưởng trong tương lai và nâng cao hiệu quả tài chính. Những
lợi ích quan trọng của quản lý cấu trúc vốn hiệu quả được tăng cường khả năng tiếp cận
vốn , tăng giá trị và giảm chi phí sử dụng vốn. Một số lý thuyết cơ cấu vốn đã được đề xuất
trong những năm gần đây để giải thích sự tỷ lệ nợ khác nhau giữa các doanh nghiệp. Lý
thuyết cấu trúc vốn cho rằng các doanh nghiệp xác định tỷ lệ nợ mục tiêu dựa trên sự đánh
mình bằng cách sử dụng vốn vay. Ngược lại với cách tiếp cận này, phương pháp thu nhập
hoạt động ròng cho rằng giá trị của một doanh nghiệp và chi phí vốn là độc lập với cấu trúc
vốn. Vì vậy, doanh nghiệp không thể tăng giá trị của mình bằng cách kết hợp nợ và vốn chủ
sở hữu. Sự xuất hiện của lý thuyết hiện đại về cơ cấu vốn bắt đầu với lý thuyết nổi tiếng
của Modigliani và Miller vào năm 1958, đã tạo ra một cuộc tranh cãi liệu tỷ lệ nợ và vốn
chủ sở hữu trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp
hay không. Trong bài nghiên cứu này, tác giả ủng hộ cách tiếp cận thu nhập hoạt động ròng
và bác bỏ lý thuyết truyền thống về cơ cấu vốn. Tác giả cho rằng các quyết định về cơ cấu
vốn là không liên quan đến tập hợp các giả định như không có thuế doanh nghiệp, thị
trường vốn hoàn hảo, không rủi ro hoặc chi phí đại diện, vv. Giá trị của doanh nghiệp
không bị ảnh hưởng bởi cơ cấu vốn và được chứng minh bằng cách vốn hoá lợi nhuận kỳ
vọng ở mức tương thích với mức độ rủi ro. Điều này hợp lý về mặt lý thuyết nhưng được
dựa trên các giả định của thị trường vốn hoàn hảo và không có thuế là không đúng với thực
tế. Do đó, kết hợp với ảnh hưởng của thuế trên giá trị và chi phí vốn của doanh nghiệp, tác
giả cho rằng với sự hiện diện của thuế doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp sẽ khác nhau khi
sử dụng nợ khác nhau do sự tồn tại của lợi ích về thuế trong việc chi trả lãi vay.
31
Ezra Soloman (1963) giữ quan điểm cho rằng giá trị của doanh nghiệp tăng khi nợ
tăng đến một mức nhất định và sau đó có xu hướng không thay đổi khi việc sử dụng nợ ở
mức trung bình và cuối cùng là giá trị của doanh nghiệp giảm khi nợ tiếp tục tăng. Jensen
và Meckling (1976) đã phát triển lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên chi phí đại diện - doanh
nghiệp phải chịu hai loại chi phí đại diện-chi phí liên quan đến các cổ đông bên ngoài và
chi phí có liên quan đến các khoản nợ hiện diện trong cơ cấu vốn. Tổng số chi phí đại diện
lúc đầu giảm và sau một mức vốn chủ sở hữu từ bên ngoài trong cơ cấu vốn nhất định, giá
trị doanh nghiệp tăng trở lại tăng. Tổng chi phí đại diện được tối thiểu ở một tỷ lệ nợ trên
vốn chủ sở hữu nhất định. Tác giả lập luận rằng một cấu trúc vốn tối ưu có thể có được
bằng cách đành đổi giữa việc giảm chi phí đại diện của nợ và các lợi ích của nợ.
Hai lý thuyết về cấu trúc vốn đã được phát triển trong giai đoạn 1970-1980. Ross
(1988) đã phát triển một hệ thống các lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên thông tin bất đối
xứng, lý thuyết này giải thích rằng sự lựa chọn cơ cấu vốn của doanh nghiệp đưa ra các tín
chính và khả năng trả nợ cũng như cổ tức chi trả. Ferri và Jones (1979) phát hiện ra rằng
các ngành công nghiệp có liên quan đến đòn bẩy của một doanh nghiệp nhưng không liên
quan trực tiếp hơn như các nghiên cứu khác kết luận và kết luận rằng việc sử dụng nợ của
các doanh nghiệp có liên quan đến quy mô của doanh doanh nghiệp đó. Titman và Wessels
(1988) cho rằng các doanh nghiệp có sản phẩm độc đáo, khác biệt có tỷ lệ nợ tương đối
thấp. Marsh (1982) đã cho thấy rằng các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề bởi các điều
kiện thị trường và lịch sử giá chứng khoán trong việc lựa chọn giữa nợ và vốn cổ phần.
Barclay và Smith (1995) chỉ ra rằng nợ tối ưu của các doanh nghiệp đang suy giảm trong
vai trò là một công cụ tạo thu nhập của doanh nghiệp. Pandey (1985), Mathew (1991),
Taub (1975), Brealey, Hodges và Capron (1976) và nhiều học giả khác đã nêu bật những
yếu tố quyết định khác nhau của cơ cấu vốn trong nghiên cứu thực nghiệm của mình.
Dev, và cộng sự (1997) cho rằng trong điều kiện sự bất ổn đang ngày càng gia tăng
trong môi trường kinh doanh quản lý chiến lược của doanh nghiệp đã trở nên chiếm ưu thế
hơn. Tuy nhiên cho đến nay, mối quan hệ giữa quản lý chiến lược và quản lý tài chính của
doanh nghiệp phần lớn chưa được khám phá. Nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp
phân tích khác nhau để xác nhận mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và tình hình chiến lược của
31
doanh nghiệp. Cụ thể, các nhà quản lý đã cơ cấu lại việc lựa chọn các khoản nợ và cường
độ vốn trong sự thống nhất với các mục tiêu chiến lược về kiểm soát rủi ro hệ thống dài
hạn.
Phần lớn các kết quả nghiên cứu bắt nguồn từ kinh nghiệm của các nền kinh tế phát
triển có nhiều điểm tương đồng về thể chế (xem Hodder và Senbet năm 1990; Rajan và
Zingales năm 1995; Wald, 1999; Ozkan năm 2001; De Miguel và Pindado năm 2001;
Bevan và Danbolt, 2002, 2004). Chỉ là trong những năm gần đây là những vấn đề về các
yếu tố quyết định này mới trở nên quan trọng trong bối cảnh khuôn khổ thể chế thay đổi
nhanh chóng của các nước này. Các nước đang phát triển đã giới thiệu nhiều cải cách theo
hướng thị trường trong lĩnh vực tài chính của họ. Ngoài ra, các cơ cấu tổ chức trong đó các
doanh nghiệp hoạt động đã trải qua những chuyển đổi cơ bản từ giữa thập niên tám mươi
và đầu chín mươi. Dịch chuyển theo hướng tư nhân hóa / thị trường tự do, cùng với việc
mở rộng và đào sâu của các thị trường tài chính bao gồm các thị trường vốn, đã cung cấp
Philippe và các các cộng sự (2003) trong bài báo phân tích các yếu tố quyết định cấu trúc
vốn cho một nhóm 106 doanh nghiệp Thụy Sĩ được niêm yết trên thị trường chứng khoán
Thụy Sĩ. Các nghiên cứu tĩnh và động được thực hiện trong giai đoạn 1991-2000. Kết quả
cho thấy quy mô của doanh nghiệp, tầm quan trọng của tài sản hữu hình và rủi ro kinh
doanh hoàn toàn có quan hệ với đòn bẩy, trong khi tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận ngược
lại không liên quan tới đòn bẩy. Các dấu hiệu liên quan này cho thấy cả lý thuyết trật tự
phân hạng và lý thuyết đánh đổi đã giải thích cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Thụy Sĩ,
mặc dù có nhiều bằng chứng đã có chứng minh lý thuyết sau đó. Phân tích cũng cho thấy
rằng các doanh nghiệp Thụy Sĩ điều chính tỷ lệ nợ mục tiêu nhưng quá trình điều chỉnh
chậm hơn hầu hết các nước khác. Có ý kiến cho rằng các lý do này có thể được tìm thấy
trong bối cảnh thể chế.
Wolfgang & Roger (2003) kiểm tra các dự đoán về đòn bẩy trong mô hình đánh đổi
và trật tự phân hạng bằng dữ liệu của Thụy Sĩ. Ở cấp độ tổng hợp, đòn bẩy của các doanh
nghiệp Thụy Sĩ là tương đối thấp nhưng các kết quả phụ thuộc chủ yếu vào cách xác định
đòn bẩy. Khẳng định mô hình trật tự phân hạng nhưng phủ định mô hình đánh đổi, các
doanh nghiệp có lợi hơn nếu sử dụng đòn bẩy thấp hơn. Các doanh nghiệp có nhiều cơ hội
31
đầu tư hơn khi đòn bẩy thấp, trong cả mô hình dánh đổi và mô hình trật tự phân hạng phức
tạp. Đòn bẩy cũng liên quan chặt chẽ với tài sản hữu hình và sự biến động lợi nhuận của
doanh nghiệp. Cuối cùng, chạy mô hình, chúng ta thấy rằng các doanh nghiệp Thụy Sĩ có
xu hướng duy trì tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu. Kết quả là đòi hỏi các kĩ thuật ước lượng thay thế.
Keshar & Baral (2004) thử tính toán các yếu tố quyết định cấu trúc vốn như quy mô,
rủi ro kinh doanh, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ thu nhập, chi trả cổ tức, khả năng trả nợ và độ
nghiêng đòn bẩy hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
Nepal ngày 16/07/2003. Mô hình hổi quy 8 biến đã được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các biến giải thích xác định trong cấu trúc vốn. Trong các phân tích sơ bộ đã bao
gồm cả các doanh nghiệp sản xuất, ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tài chính. Tuy nhiên, do các dấu hiệu bất thường trong các mục cố định của mô
hình, các doanh nghiệp sản xuất bị loại trừ trong phân tích cuối cùng. Nghiên cứu này cho
thấy quy mô, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ thu nhập là yếu tố quan trọng để quyết định cấu
truyền thống đối với cấu trúc vốn. Đối với ảnh hưởng của nó trên mức độ đòn bẩy của các
hãng trên bốn lĩnh vực họ đã đề cập đến trong giai đoạn 1999-2006 (Hàng tiêu dùng lâu bền
và điện tử, ngân hàng, xi măng, giấy và đóng gói), trong khi mức trung bình ngành có ảnh
hưởng đối với lĩnh vực hàng tiêu dùng, người ta thấy nó ảnh hưởng đến độ bẩy của doanh
nghiệp dẫn đầu ngành. Trong nghiên cứu, người ta thấy cả trung bình ngành và doanh
nghiệp dẫn đầu ngành đều cho thấy mối quan hệ tích cực với mức độ đòn bẩy của doanh
nghiệp với mức ý nghĩa 10%.
B.Nimalathasan & ValeriuBrabete (2010) đã chỉ ra cấu trúc vốn và tác động của nó
với lợi nhuận trong nghiên cứu về các doanh nghiệp sản xuất ở Sri Lanka. Phân tích các
doanh nghiệp sản xuất cho thấy rằng tỷ lệ vốn cổ phần liên quan mật thiết đến tỷ suất lợi
nhuận (lợi nhuận gộp, lợi nhuận hoạt động và lợi nhuận thuần)
Puwanenthiren Pratheepkanth (2011) phân tích cấu trúc vốn và tác động của nó đến
khả năng sử dụng vốn trong thời gian từ năm 2005 đến 2009 (5 năm) của các doanh nghiệp
ở Srilanka. Kết quả chỉ ra rằng, ở Sri Lanka, mối quan hệ giữa cấu trúc cốn và khả năng sử
dụng vốn có mối quan hệ ngược ngược chiều. Các doanh nghiệp hầu hết dựa vào vốn nợ,
và vì vậy họ phải trả nhiều tiền lãi.
31
Các lý thuyết, như đã chỉ ra ở trên, đã đươc phát triển trong hai thập niêngần đây để
giải thích sự khác nhau trong tỷ lệ nợ trên vốn của các doanh nghiệp. Mặc dù còn những
tranh cãi chưa đi đến kết luận về sự liên quan giữa quyết định tài chính và giá trị của doanh
nghiệ, nhưng vẫn có những bằng chứng theo kinh nghiệm về việc các doanh nghiệp lựa
chọn giữa các công cụ tài chính tại một thời điểm như thế nào. Trên hết, những lý thuyết đã
phát triển ở các nước phát triển cần được kiểm chứng lại về tính phù hợp của nó ở các nước
đang phát triển như Ấn Độ trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong trường hợp mở rộng
thương mại. Ngoài những đóng góp hữu ích của nó được xác định bởi những kinh nghiệm
từ các doanh nghiệp của Mỹ và những nước phát triển khác, nhưng câu hỏi đặt ra cho các
nhà quản trị Ấn Độ là nên phát hành nợ hay cổ phần.
Chính phủ Ấn Độ bắt đầu chính sách mở rộng kinh tế vào năm 1991. Trước năm
1991, thay đổi trong lĩnh vực công nghiệp của quốc gia này là hạn chế đến mức tối thiểu.
Lĩnh vực này chiếm 1/5 trong tổng các hoạt động kinh tế của quốc gia này. Cấu trúc ngành
Đòn bẩy - tỷ lệ tài sản được tài trợ bằng nợ. Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng các
thước đo đòn bẩy khác nhau. Frank và Goyal (2003) cho rằng sự khác biệt giữa tỷ lệ nợ dựa
trên giá trị thị trường và tỷ lệ nợ dựa trên giá trị sổ sách ở chỗ tỷ lệ nợ dựa trên giá trị thị
trường phản ánh tình hình tương lai của doanh nghiệp trong khi tỷ lệ nợ dựa trên giá trị sổ
sách phản ánh tình hình vừa qua. Fama và Pháp (2002) chỉ ra một số mâu thuẫn phát sinh
từ việc sử dụng hai tỷ lệ nợ khác nhau. Theo họ, cả hai lý thuyết (lý thuyết trật tự phân
hạng và lý thuyết đánh đổi) áp dụng đối với giá trị nợ trên sổ sách, và vẫn còn một vài nghi
vấn nếu dự đoán được mở rộng với giá trị thị trường của nợ. Trong khi đo lường mức độ
đòn bẩy, các nhà nghiên cứu dựa trên hai phương pháp tiếp cận. Một là phương pháp của
Titman và Wessels (1988). Trong phương pháp này, họ tính toán đòn bẩy bằng tỷ số giá trị
sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của nợ cộng với giá trị thị trường của vốn cổ phần. Rajan
và Zingales (1995), Shah và Hijazi (2006) đã sử dụng phương pháp thứ hai. Họ sử dụng tỷ
số giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của nợ cộng với giá trị sổ sách của vốn chủ sở
hữu. Trong mô hình này, chúng tôi áp dụng giá trị sổ sách của tổng tài sản và giá trị sổ sách
của các khoản nợ để tính đòn bẩy do hai lý do: Thứ nhất, việc thanh toán các khoản nợ tùy
31
thuộc vào giá trị sổ sách của các khoản vay, không phải giá trị thị trường của nợ (Banerjee
và cộng sự - 2000); Thứ hai, cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ở nước đang phát triển như
Ấn Độ dựa trên các khoản nợ ngắn hạn nhiều hơn so với các khoản nợ dài hạn (Booth và
cộng sự - 2001).
Cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản được cho là có quan quan hệ tỉ lệ thuận với tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở
hữu của một doanh nghiệp vì các chủ nợ mong muốn các khoản cho vay được đảm bảo bởi
một số tài sản cố định thế chấp. Tài sản hữu hình là vật đảm bảo an toàn cho các khoản nợ.
Vì vậy, tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp càng cao, khả năng sử dụng đòn bẩy của
doanh nghiệp càng cao. Myers và Majluf (1984) khuyến cáo rằng nếu một doanh nghiệp đã
tìm đến các thị trường nợ để huy động vốn, nó chỉ có lợi khi bán các khoản nợ được bảo
đảm. Các chi phí liên quan đến bán nợ không có bảo đảm có thể cao do thông tin bất đối
xứng nhưng vẫn ở mức có thể khuyến khích các doanh nghiệp phát hành trái phiếu không
có bảo đảm.
trong cơ cấu vốn và lợi nhuận. Các nghiên cứu của Ấn Độ và Nepal cũng cho thấy những
bằng chứng tương tự như các nghiên cứu của những nước khác (Baral 1996). Chỉ có một
vài nghiên cứu cho thấy những bằng chứng ủng hộ lý thuyết đánh đổi.
Quy mô Doanh nghiệp
Lý thuyết chi phí phá sản giải thích mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa cơ cấu vốn và quy
mô của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có có mức độ đa dạng hoá cao hơn sẽ ít bị phá
sản hơn (Rajan và Zingales, 1995). Họ cũng sẽ phát sinh chi phí thấp hơn trong việc phát
hành nợ hoặc vốn chủ sở hữu. Vì vậy, các doanh nghiệp lớn thường sẽ sử dụng nhiều vốn
vay trong cơ cấu vốn hơn so với các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, người ta lập luận rằng các
doanh nghiệp nhỏ hơn có xu hướng có ít nợ dài hạn hơn vì xung đột giữa cổ đông – chủ nợ
(Titman và Wessels, 1988; Michaelas và cộng sự năm 1999). Trong khi hầu hết các bằng
chứng thực nghiệm ghi nhận mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy
(Kester-1986; Lasfer-1999; Rajan và Zingales -1995; Barclay và cộng sự-1995; Booth và
cộng sự-2001), một số nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa quy mô doanh
nghiệp và cơ cấu kỳ hạn nợ của doanh nghiệp (Michaelas và cộng sự-1999). Lý thuyết chi
31
phí phá sản cho thấy chi phí phá sản thấp thì mức độ nợ sẽ cao. Các nghiên cứu thực
nghiệm được tiến hành trong những năm 1970, dựa theo lý thuyết này, cũng cho thấy mối
quan hệ tỷ lệ thuận giữa quy mô của doanh nghiệp và cơ cấu vốn (Martin và những người
khác-1988). Nhưng kết quả của một số nghiên cứu thực nghiệm khác lại không chứng minh
được với mối quan hệ lý thuyết này.
Tuổi của các doanh nghiệp
Tuổi của một doanh nghiệp cũng được xem là một yếu tố quan trọng quyết định tỷ lệ
nợ (Berger & Udell-1998; Coleman & Carski-1999; Romano và cộng sự-2000). Các doanh
nghiệp càng lâu đời có khả năng tiết kiệm tài chính càng cao và do đó có khả năng tránh
dùng đến nợ. Do đó, tuổi của doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nợ của
doanh nghiệp đó. Các doanh nghiệp mới thành lập có xu hướng sử dụng tài trợ từ bên ngoài
trong khi các doanh nghiệp thành lập lâu có xu hướng tích lũy lợi nhuận giữ lại. Vì vậy,
tuổi doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với đòn bẩy. (Petersen và Rajan-1994)
Rủi ro kinh doanh
quan hệ tỷ lệ thuận giữa tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp. Điều này
được dựa trên lập luận rằng, trong trường hợp các yếu tố khác không đổi, tốc độ tăng
trưởng cao hơn hàm ý một nhu cầu cao hơn đối với tài trợ, doanh nghiệp sẽ dựa nhiều hơn
vào tài chính bên ngoài thông qua nợ (Sinha 1992). Do đó, theo lý thuyết trật tự phân hạng,
các nhà quản lý ưu tiên tài trợ nội bộ hơn tài trợ từ bên ngoài và ưu tiên chứng khoán nợ
hơn nếu phát hành cổ phiếu (Myers 1984). Như vậy, lý thuyết trật tự phân hạng cho thấy
các doanh nghiệp càng phát triển, tỷ lệ các khoản nợ trong cơ cấu vốn càng cao. Chung
(1993), Chaplinsky và Niehaus (1990) đưa ra những bằng chứng cho thấy điều ngược lại so
với lý thuyết trật tự phận hạng. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy mối quan hệ giữa đòn
bẩy và cơ hội tăng trưởng là cả hai chiều thuận và nghịch. Trong khi Titman và Wessels
(1988), Chung (1993) và Barclay và đồng sự (1995) tìm thấy một mối quan hệ tỷ lệ nghịch,
Kester (1986) không tìm thấy bất kỳ mối quan hệ quan trọng nào giữa hai yếu tố này.
31
CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Cơ sở dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn từ 1991-1992 đến 2009-2010 để
phân tích mô hình hành vi của các yếu tố quyết định cấu trúc vốn của các công ty ngành
công nghiệp sắt và thép ở Ấn Độ được lựa chọn trong giai đoạn tự do hóa. Các dữ liệu tài
chính được sử dụng cho mục đích của nghiên cứu này được thu thập từ www.bseindia.com,
Công ty cơ sở dữ liệu Capitaline 2000 và trang web indiainto.com, các báo cáo của
CMIE… đã được sử dụng để thu thập dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu. Ngoài ra, các trang
web của các công ty, báo cáo tài chính được công bố của các công ty được lựa chọn trong
ngành công nghiệp, các báo cáo nghiên cứu của những người đóng góp khác nhau về chủ
đề này, bài viết trên các tạp chí khác nhau, tạp chí, báo và tài liệu công bố khác về chủ đề
này đã được kiểm tra để thu thập thông tin cần thiết cho nghiên cứu. Nghiên cứu này được
dựa trên các dữ liệu thu thập từ các công ty được liệt kê như các công ty hạng 'A' ở BSE
(Bombay Stock Exchange) (chủ yếu là các công ty hữu hạn được thành lập theo Luật công
ty năm 1956 của Ấn Độ) trong khoảng thời gian khác nhau, từ 1991-1992 đến 2009-2010.
Nghiên cứu này tập trung vào các công ty sắt thép, tất cả các doanh nghiệp (được niêm yết
trên sàn chứng khoán Bombay) trong các lĩnh vực được đề cập (dữ liệu được công bố sẵn)
Lang (1988), Harris and Raviv (1990), Rajan
and Zingales, 1995; Wiwattanakantang, 1999;
Hirota, 1999; Wald, 1999; Booth et al. (2001),
Bevan and Danbolt (2002), Deesomsak,
Paudyal and Pescetto (2004), Chen (2004);
Tài sản
thế chấp
Tài sản cố định
ròng cộng với
hàng tồn kho
cộng với khoản
phải thu chia cho
tổng tài sản.
+
Grossman and Hart (1982); Biger, Nguyen,
and Hoang(2008), Jensen M, Meckling W,
(1976)&Myers,SC, (1977)
Lợi nhuận
(ROA)
Tỷ lệ phần trăm
của lợi nhuận
trước thuế chia
cho tổng tài sản
-
Kester (1986) Friend and Lang (1988), Titman
and Wessels (1988), Rajan and
Zingales(1995),Wald(1999),Wiwattanakantang
(1999), Booth et al. (2001) Deesomsak,
Paudyal and Pescetto (2004)
Quy mô
Wald (1999), Chen (2004).
Tác dụng
của tấm
chắn thuế
(NDTS)
Lợi nhuận trước
thuế ít hơn (thanh
toán thuế doanh
nghiệp chia cho
tỷ lệ thuế doanh
nghiệp là 25% *)
+
Bardley, Jarrel and Kim (1984); Harris and
Raviv (1990); Chaplinsky and Niehaus (1993)
Wald (1999); Hirota (1999).
Tính thanh
khoản
Tỷ lệ tiền mặt và
thị trường chứng
khoán với tài sản
hiện tại.
-
Rajan and Zingales (1995), Wald (1999),
Ozkan (2001), Panno (2003), Deesomsak,
Pandyal and Pescetto (2004).
Cơ hội
phát triển
(GROWTH
)
Tăng trưởng tổng
Biến độc lập
Tỷ lệ thành phần tài sản (ASSET) = Tài sản cố định thuần/ Tổng tài sản
Giá trị tài sản thế chấp tài sản (COLLATERAL) = (tài sản cố định ròng + tồn kho +
Các khoản phải thu) / Tổng tài sản
Tỷ lệ thu nhập (lợi nhuận)
PROF1= Lợi nhuận trước thuế / Tổng tài sản.
PROF2= Lợi nhuận trước thuế / doanh thu.
Kích thước của công ty = logarit tự nhiên của bán hàng
Tuổi = Số năm kể từ khi thành lập.
Rủi ro (Lợi nhuận biến động)
VOLA 1 = logarit tự nhiên của độ lệch chuẩn của lợi nhuận trước thuế
VOLA2 = σ EBIT / μ EBIT
Lá chắn thuế không nợ (NDTS) = khấu hao / Tổng tài sản.
Linh hoạt (FLEX) = Tiền và thị trường chứng khoán / Tài sản ngắn hạn.
Cơ hội tăng trưởng (GROWTH)
GROWTH1 =% Thay đổi trong tổng tài sản (TA), kép hàng năm
31
0
n
n
TA
TA
=
TAn = Tổng tài sản vào cuối tuần quan sát.
TA0 = Tổng tài sản vào đầu thời kỳ quan sát
n = số thời gian quan sát.
GROWTH2 =% thay đổi trong kinh doanh (S), kép hàng năm
0
các yếu tố quyết định cơ cấu vốn. Do đó chúng tôi thừa nhận rằng đòn bẩy có thể được giải
thích bởi yếu tố quyết định sau đây:
LEVERAGE= f (Phần tài sản, tài sản thế chấp tài sản, lợi nhuận, kích cỡ, Tuổi, rủi ro
kinh doanh, lá chắn thuế không nợ, linh hoạt, cơ hội tăng trưởng) (1)
Mô hình kinh tế của phương trình (1) được quy định và mở rộng như sau:
LEVERAGE= α + β
1
ASSET + β
2
COLLATERAL + β
3
PROF1 + β
4
PROF2+ β
5
SIZE +
β
6
AGE +β
7
VOLA
1
+β
8
VOLA
2
+β
9
NDTS + β
10