Số hóa bởi Trung tâm Học liêu http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN THỊ NGỌC
SO SÁNH YÊU CẦU ĐỌC HIỂU
CỦA PISA VÀ CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC CƠ SỞ VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐỖ NGỌC THỐNG
Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liêu http://lrc.tnu.edu.vn
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn,
phòng Quản lý và Đào tạo sau Đại học trường Đại học Sư phạm - ĐHTN đã tạo điều
kiện cho em có một môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi để hoàn thành tốt luận
văn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia giảng
dạy tận tình lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt K19 -
Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Ngọc Thống -
người hướng dẫn luận văn của em. Thầy đã tạo mọi điều kiện động viên và tận tình
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngọc
Số hóa bởi Trung tâm Học liêu http://lrc.tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
iv
3.1.2. Những nội dung cần so sánh 64
3.2. So sánh yêu cầu đọc hiểu của PISA và chương trình Ngữ văn THCS Việt Nam 65
3.2.1. Mục tiêu đọc hiểu 65
3.2.2. Đối tượng đọc hiểu 66
3.2.3. Yêu cầu đọc hiểu 67
3.2.4. Cách thức kiểm tra, đánh giá 69
3.3. Một số đề xuất điều chỉnh chương trình đọc hiểu môn Ngữ văn THCS Việt Nam 71
3.3.1. Xác định rõ mục đích của đọc hiểu và dạy đọc hiểu 71
3.3.2. Điều chỉnh đối tượng, yêu cầu và cấu trúc chương trình đọc hiểu 72
3.3.3. Đổi mới phương pháp dạy đọc hiểu và cách thức kiểm tra, đánh giá 73
3.4. Giới thiệu một số đề kiểm tra đọc hiểu dựa trên tinh thần PISA 75
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT VIẾT
TẮT
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thế kỷ XX đã trôi qua, cả nhân loại bước vào thế kỷ mới, một thế kỷ với những
hứa hẹn mới, thách thức mới, đòi hỏi mới, khó khăn mới đang đặt ra nhiều suy nghĩ,
trăn trở cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi cá nhân. Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn
minh trí tuệ, thế kỷ của sự bùng nổ công nghệ thông tin và khoa học công nghệ diễn
ra với tốc độ ngày càng nhanh và khối lượng ngày càng lớn.
Hiện nay, thế giới đang hướng tới xu thế hội nhập, thống nhất trong đa dạng.
Vì thế giới đang xích lại gần nhau nên thị trường lao động được mở ra. Thị trường lao
động đòi hỏi cần có những công dân toàn cầu, lực lượng lao động toàn cầu, đó là thế
hệ HS 3.0. Trước sự thay đổi như vũ bão của nhân loại, có nhiều vấn đề toàn cầu mà
thế hệ trẻ phải đối mặt như: AIDS, bùng nổ dân số, đô thị hóa tràn lan, tình trạng
nghèo đói, an ninh lương thực, khí hậu biến đổi, nạn thất nghiệp… Điều cần thiết là
phải giáo dục cho HS những kiến thức chung, những giải pháp để ứng phó với các
vấn đề mà thời đại mới đặt ra. Do đó, giáo dục mỗi nước ngoài bản sắc riêng phải
hướng tới cái chung, nhà trường phổ thông phải có nhiệm vụ trang bị cho HS những
phẩm chất và năng lực chung mà nhiều nước đang hướng tới.
Bởi vậy, chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) đã hướng tới mục tiêu kiểm
tra, đánh giá những phẩm chất, năng lực chung cần phải có ở HS độ tuổi 15 để đáp
ứng được những yêu cầu học tập và đối mặt với các thách thức của cuộc sống. Nhận
thức được vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng của các chương trình đánh giá quốc
tế trong việc hoạch định chiến lược và chính sách phát triển giáo dục quốc gia nên
năm 2012 Việt Nam đã quyết định tham gia vào chương trình PISA.
1.2. Do yêu cầu của bối cảnh mới nên mỗi quốc gia phải xem lại cách dạy, chương
trình giáo dục trong tất cả các môn học, trong đó cần xem xét yêu cầu đọc hiểu đã đáp
ứng được đòi hỏi của quốc tế hoặc còn những khác biệt cần điều chỉnh, thay đổi.
Muốn vậy, chúng ta phải so sánh chương trình nói chung và nội dung cụ thể của từng
Đọc hiểu tạo ra cơ hội để cá nhân thực hiện sự phát triển, gắn bó với định hướng học
tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại đặt ra cho con người”.[19, tr. 9]. Vì
vậy, chương trình giáo dục của các quốc gia đều quan tâm tới vấn đề này.
3
1.4. Chương trình Ngữ văn THCS của Việt Nam đã quan tâm tới kỹ năng đọc hiểu.
Nhưng để biết chương trình của Việt Nam về đọc hiểu đã đáp ứng được yêu cầu của
quốc tế ở mức độ nào thì chúng ta phải so sánh yêu cầu đọc hiểu của chương Ngữ văn
THCS Việt Nam với yêu cầu đọc hiểu quốc tế trong đó PISA là một điển hình. Từ đó,
chúng ta sẽ thấy được chương trình Ngữ văn THCS của Việt Nam đã đạt được những
gì và phải bổ khuyết, điều chỉnh những gì về yêu cầu đọc hiểu.
Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “So sánh
yêu cầu đọc hiểu của PISA và chương trình Ngữ văn THCS Việt Nam”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nghiên cứu về PISA
PISA được tổ chức lần đầu vào năm 2000, đến nay đã có hơn 70 nước trên thế
giới tham gia. Các tài liệu về PISA khá phong phú, nhất là các trang mạng chính thức
của OECD (www://oecd.org) và trang web của Bộ Giáo dục nhiều nước. Nhưng chủ
yếu các tài liệu về PISA đều bằng tiếng nước ngoài, các tài liệu tham khảo bằng tiếng
Việt về chương trình PISA không nhiều.
Tác giả Nguyễn Thành Huy với bài viết “Chương trình đánh giá học sinh quốc
tế PISA và nền giáo dục Phần Lan” đã giới thiệu về quy trình đánh giá của PISA từ
khâu làm đề đến khâu tổ chức HS tham gia đánh giá. Tác giả khẳng định “trước
PISA, chưa từng có điều tra so sánh về nền giáo dục giữa các nước. Mục đích chung
của các nước tham gia dự án này là để hoàn thiện và chuẩn hóa nền giáo dục quốc
gia nhằm tăng tính cạnh tranh để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu”. [18, tr. 31]
Là một người làm việc tại Phần Lan, tác giả Nguyễn Thành Huy đã có điều
kiện tiếp xúc trực tiếp với nền giáo dục của quốc gia này. Bởi vậy, trong bài viết của
viết “Chương trình đánh giá quốc tế đối với học sinh THCS” [27] đã giới thiệu về tổ
chức OECD và chương trình PISA. Hiện nay, PISA là một trong những chương trình
đánh giá HS uy tín nhất trên thế giới. Tác giả bài viết đã nêu lên những nét chính về:
mục đích, đặc điểm và lĩnh vực đánh giá của PISA. Tuy nhiên, vấn đề bài viết tập
trung là bốn kỹ năng được PISA đánh giá: năng lực làm toán phổ thông, năng lực đọc
hiểu phổ thông, năng lực khoa học phổ thông và kĩ năng giải quyết vấn đề. Tác giả
Phùng Thanh Quang chưa đi sâu tìm hiểu một năng lực cụ thể, chỉ dừng lại ở sự giới
thiệu khái quát về bốn năng lực trên. Mặc dù vậy, bài viết đã mang đến cho người đọc
những kiến thức bổ ích về chương trình đánh giá còn khá mới mẻ với Việt Nam.
5
2.2. Nghiên cứu đọc hiểu của PISA
Tài liệu nghiên cứu về đọc hiểu của PISA không nhiều, hiện tại vấn đề này
mới chỉ được đề cập đến trên tạp chí Khoa học Giáo dục, số 40, tháng 1/2009 với bài
viết “Đánh giá năng lực đọc - hiểu của học sinh phổ thông nhìn từ yêu cầu của
PISA” [30] của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống. Tác giả đã cung cấp cho người đọc những
hiểu biết sơ bộ về PISA - chương trình đánh giá HS quốc tế. PGS.TS Đỗ Ngọc Thống
đã lý giải nguyên nhân vì sao chương trình PISA chủ trương coi trình độ đọc hiểu là
một trong ba lĩnh vực chủ yếu để xác định năng lực HS giai đoạn cuối của giáo dục
bắt buộc.
Đồng thời, tác giả bài viết đã đưa ra những kiến nghị về sự thay đổi cần thiết
đối với chương trình Ngữ văn Việt Nam nếu muốn đáp ứng được những đòi hỏi của
chương trình đánh giá quốc tế. Có thể nói, đây là bài viết đầu tiên đề cập đến vấn đề
đọc hiểu của PISA và yêu cầu đọc hiểu của chương trình Ngữ văn Việt Nam. Tuy
nhiên, do khuôn khổ của bài viết, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống mới chỉ dừng lại ở những
vấn đề khái quát, chưa đi sâu đối chiếu, so sánh văn bản, chương trình sách giáo khoa
cụ thể là yêu cầu đọc hiểu của chương trình Ngữ văn THCS Việt Nam với chương
trình đánh giá học sinh quốc tế PISA về lĩnh vực đọc hiểu.
hiểu trong chương trình Ngữ văn THCS Việt Nam, một số đề thi vào lớp 10 môn Ngữ
văn và yêu cầu đánh giá đọc hiểu của PISA.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, chúng tôi xác định đề tài cần giải quyết
các nhiệm vụ sau:
5.1. Khảo sát và giới thiệu đặc điểm, yêu cầu đọc hiểu của PISA thông qua một số đề
kiểm tra của chương trình này.
5.2. Khảo sát yêu cầu đọc hiểu của chương trình Ngữ văn THCS Việt Nam thông qua
hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong sách giáo khoa Ngữ văn cấp II (từ lớp 6 đến lớp 9) và
một số đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn.
5.3. So sánh yêu cầu đọc hiểu của PISA và chương trình Ngữ văn THCS Việt Nam để
chỉ ra những điểm phù hợp mà chương trình đọc hiểu môn Ngữ văn bậc THCS đã đáp
ứng được và những điểm bất cập, từ đó đưa ra kiến nghị điều chỉnh chương trình đọc
hiểu môn Ngữ văn THCS Việt Nam. Giới thiệu một số đề kiểm tra đọc hiểu theo tinh
thần PISA.
7
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đã đặt ra, chúng tôi vận dụng các phương pháp
nghiên cứu:
6.1. Phương pháp phân tích
Phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích các đề thi vào lớp 10 môn
Ngữ văn, các câu hỏi về đọc hiểu trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS.
6.2. Phương pháp tổng hợp
Từ những phân tích trên, chúng ta có được những nhận xét, đánh giá về yêu
cầu đọc hiểu của chương trình Ngữ văn THCS Việt Nam thông qua phương pháp
tổng hợp.
6.3. Phương pháp so sánh
PIRS (Progress in International Reading Literacy Study )… Một trong những
chương trình đánh giá quốc tế có uy tín và phổ biến nhất hiện nay đó là PISA.
1.1.1. Khái niệm
PISA là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for International
Student Assessment”(Chương trình đánh giá học sinh quốc tế) do Tổ chức hợp tác và
Phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development -
OECD) khởi xướng và chỉ đạo, nhằm tìm kiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu quả của
hệ thống giáo dục, qua đó rút ra các bài học về chính sách giáo dục phổ thông đối với
mỗi nước tham gia. PISA là một chương trình đánh giá có quy mô rộng lớn với nhiều
tính ưu việt. Đồng thời, PISA đòi hỏi rất cao về tính chuyên nghiệp và các yêu cầu về
chuyên môn kỹ thuật đối với tất cả những người tham gia, từ các nhà quản lý, điều
hành đến các giáo viên, HS trong mỗi cuộc đánh giá.
PISA được thực hiện theo chu kì ba năm một lần (bắt đầu từ năm 2000). Đối
tượng đánh giá là HS trong độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc ở
hầu hết các nước thành viên OECD. Trong mỗi kỳ đánh giá, PISA hướng trọng tâm
vào việc kiểm tra những năng lực phổ thông mà HS ở các quốc gia đạt được sau một
quá trình học tập và rèn luyện. PISA giúp các nước có cơ hội nhìn nhận một cách khá
toàn diện về những “kĩ năng cơ bản”, “năng lực cá nhân” mà HS của quốc gia họ đạt
được, từ đó đưa ra những quyết định điều chỉnh các chính sách hiện hành cho phù
hợp hoặc xây dựng các chính sách mới nhằm phát triển giáo dục một cách bền vững.
9
1.1.2. Mục đích và đặc điểm của PISA
1.1.2.1. Mục đích của PISA
Mục đích tổng quát của PISA là nhằm kiểm tra sự chuẩn bị của HS ở độ tuổi kết
thúc giáo dục bắt buộc trước các thách thức của cuộc sống sau này. Cụ thể hơn nữa,
PISA hướng vào các mục đích sau:
Xem xét, đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở những lĩnh vực Đọc hiểu,
giá: chính sách công, năng lực phổ thông, năng lực học tập suốt đời. Đối với vấn đề
chính sách công, các chính phủ, các nhà trường, giáo viên và phụ huynh đều muốn có
câu trả lời cho tất cả các câu hỏi như “nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ
cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống chưa?; phải chăng
một số loại hình giảng dạy và học tập của những nơi này hiệu quả hơn những nơi
khác?; nhà trường có thể góp phần cải thiện tương lai của HS có gốc nhập cư hay có
hoàn cảnh khó khăn không?”…
Về năng lực phổ thông, thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình
giáo dục cụ thể, PISA chú trọng việc xem xét đánh giá các năng lực của HS trong
việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năng phổ thông cơ bản vào các tình huống thực
tiễn. Ngoài ra, PISA còn xem xét đánh giá khả năng phân tích, lý giải và truyền đạt
một cách có hiệu quả các kiến thức và kĩ năng đó thông qua cách HS xem xét, diễn
giải và giải quyết các vấn đề.
Với năng lực học tập suốt đời, PISA quan niệm HS không thể học tất cả mọi
thứ cần biết trong nhà trường. Để trở thành những người có thể học tập suốt đời có
hiệu quả, ngoài việc thanh niên phải có những kiến thức, kĩ năng phổ thông cơ bản,
họ còn phải có ý thức về động cơ học tập và cách học. Do vậy, PISA tiến hành đo
năng lực thực hiện của HS về các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và Khoa học, đồng
thời tìm hiểu động cơ, niềm tin vào bản thân cũng như các chiến lược học tập của HS.
1.2. Những yêu cầu đọc hiểu của PISA
1.2.1. Mục đích và yêu cầu đọc hiểu của PISA
Năng lực đọc hiểu được hiểu là khả năng biết đọc, có trình độ đọc hiểu. Theo
PISA, định nghĩa về đọc hiểu và năng lực đọc hiểu có sự thay đổi theo thời gian và
điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội. “Năng lực đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và
phản hồi lại trước một bài đọc viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và
tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội”. Mục đích
và yêu cầu đọc hiểu của PISA bao gồm các nội dung sau:
- Tương tác xã hội
- Thực hành đọc
12
Siêu nhận thức (metacognition) trong đọc chỉ sự hiểu biết và khả năng sử
dụng phong phú cách thức phù hợp với việc “mổ sẻ” văn bản. Kiến thức văn bản đòi
hỏi người đọc đóng một vai trò tích cực trong việc đọc và tự rút ra kết luận, lấp đầy
khoảng trống, tạo ra cấu trúc vĩ mô (khái niệm hóa phạm vi cấu trúc rộng lớn của một
văn bản)…
1.2.2. Đối tƣợng và hình thức kiểm tra
1.2.2.1. Đối tượng đọc
Đối tượng đọc được xác định là văn bản (Text). Nhưng văn bản ở đây được
hiểu theo nghĩa rộng. Đó là một tập hợp kí hiệu (hình thức) để biểu đạt một ý nghĩa,
hàm chứa một thông điệp (nội dung). Vì thế, đọc là một hành động giải mã
(decoding).
PISA quan niệm có hai dạng văn bản: Văn bản liền mạch (Continuous texts)
và văn bản không liền mạch (Non - continuous texts), có thể gọi là văn bản rời rạc,
hoặc văn bản không liền mạch.
Văn bản liền mạch: được hiểu là một đoạn văn, một phần, một bài, một
chương hoàn chỉnh, liền mạch. Loại văn bản này bao gồm các dạng văn bản sau đây:
Tự sự, giải thích, miêu tả, lập luận, giới thiệu, tư liệu hoặc ghi chép, siêu văn bản…
Ví dụ : Tranh tường (Graffiti )
Tôi rất tức giận khi mà bức tường của trường được lau sạch và sơn lại lần thứ
tư để thoát khỏi graffiti. Sáng tạo là đáng khâm phục nhưng mọi người nên tìm cách
chứng tỏ bản thân mà không gây thêm chi phí cho xã hội.
Tại sao bạn lại làm hư đi thanh danh của giới trẻ bằng cách vẽ graffiti ở
những nơi nó bị cấm? Những họa sĩ chuyên nghiệp không treo tranh của họ ngoài
đường phố, đúng không? Thay vào đó họ kiếm tiền và tạo danh tiếng thông qua
% của tổng số bài tập:
văn bản điện tử
Cá nhân
30
30
Giáo dục
25
15
Nghề nghiệp
15
15
Công cộng
30
40
Tổng
100
100
Thành thạo trong việc đọc hiểu không chỉ là chìa khóa để mở cửa thế giới văn
bản in mà còn cả các loại văn bản điện tử, phù hợp với sự gia tăng ngày càng mạnh
mẽ, trở thành một phần của đời sống tuổi trẻ cũng như người lớn. Đánh giá đọc các
văn bản điện tử cần phải xem xét, gạn lọc lại toàn bộ các khâu nhằm theo kịp với sự
phát triển của công nghệ, công cụ đánh giá và những hiểu biết các khái niệm về sự
tương tác của môi trường điện tử.
Ở PISA 2009, một số tình huống (kịch bản) được giới thiệu cho HS. Mỗi tình
huống, HS được yêu cầu đánh giá về chất lượng và tính hữu ích của cách đọc và cách
hiểu văn bản khác nhau để đạt được mục tiêu mong đợi.
Ví dụ về một bài tập nhằm đánh giá siêu nhận thức và thực hiện nhiệm vụ đó
trong PISA 2009:
Đọc nhiệm vụ: Em muốn giúp đỡ một bạn HS 12 tuổi hiểu 3 trang văn bản viết
về động vật và cây cối trong rừng. Em đánh giá như thế nào về sự hữu ích của các
cùng kiểm tra lại xem tóm tắt
đã nêu được hết các điểm quan
trọng của văn bản chưa?
1
2
3
4
5
6
b)
Tôi bảo em 12 tuổi đọc to văn
bản hai lần và sau đó chép lại
văn bản.
1
2
3
4
5
4
5
6
e)
Tôi đọc to văn bản còn em HS
gạch chân các từ không hiểu.
Tôi cố gắng giúp em hiểu rõ
những gì chưa hiểu, sau đó viết
tóm tắt.
1
2
3
4
5
6
f)
Em HS 12 tuổi đọc to văn bản
và tôi chữa khi em mắc lỗi.
Sau đó, tôi giải thích ý nghĩa
của các từ mà em đã đọc sai.
1
õy l dng ch yu v th hai l trc nghim t lun (TNTL) - õy l dng cõu hi
m phi vit cõu tr li (3 - 4 dũng) theo suy lun ca HS. Vớ d:
Cõu hi TNKQ: sõu ca h Chad hin ti l bao nhiờu?
A. Khong 2m
B. Khong 15m
C. Khong 50m
D. Nú ó hon ton bin mt
E. Thụng tin ny khụng c cp n
(Bi H Chad )
Cõu hi TNTL: Trong truyn, cỏc ti phm u c x theo lut. nc bn cú
cỏch no khỏc m trong ú lut v cỏch phỏn x cng ging nh trong cõu chuyn khụng? (Bi Quan to cụng minh)
17
- Cách cho điểm: Nêu mục đích câu hỏi, sau đó nêu cách cho điểm tối đa và
không cho điểm kèm đáp án. Các mã thể hiện mức độ trả lời bao gồm: mức đạt được
điểm tối đa cho mỗi câu hỏi được quy định là “Mức đầy đủ” (Điểm tròn) kí hiệu là
Mã 2; mức “Không đạt” (Không cho điểm) mô tả các câu trả lời không được chấp
nhận (Mã 0), lạc đề (Mã 8) hoặc bỏ trống không trả lời (Mã 9). Một số câu hỏi có
thêm “Mức chưa đầy đủ” cho những câu trả lời thỏa mãn một phần nào đó (Mã 1).
Đáp án của PISA rất đa dạng và phong phú, ngay cả đối với các câu hỏi trắc
nghiệm. Có những đáp án khá đơn giản, nhưng có những đáp án rất phức tạp theo
hướng mở. Vì vậy, một câu hỏi có thể có từ ba đến năm câu trả lời được chấp nhận là
đúng. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng suy nghĩ, nâng cao trình độ,
phải hình dung và bao quát hết được các khả năng HS có thể trả lời để đánh giá chính
xác trình độ của các em.
- Ngay cả những nhà lãnh đạo quan trọng cũng có thể bị đưa ra tòa.
- Các hình phạt.
Mã 8: Lạc đề.
Mã 9: Không trả lời.
1.3. Giới thiệu một số đề kiểm tra và cách chấm điểm của PISA trong lĩnh vực
đọc hiểu
Ví dụ 1: BÀN CHẢI ĐÁNH RĂNG
Chúng ta đánh răng của mình như thế nào để cho sạch lâu và cứng hơn?
Các nhà nghiên cứu Anh đã có những thử nghiệm khác nhau và cuối cùng tìm ra
một phương pháp đánh răng tuyệt vời. Hai phút đánh răng với bàn chải không cứng
sẽ mang lại kết quả tốt nhất. Bởi bàn chải cứng sẽ làm tổn hại men răng của bạn và
không còn chất gôm để dính thức ăn thừa.
Bente Hansen - một chuyên gia về đánh răng cho rằng việc đánh răng theo hàng
là một ý tưởng tốt. Bạn cần nắm lấy bàn chải như nắm cây bút “bắt đầu từ một góc và
chải dọc theo từng hàng”. Ông nói “đừng quên cả lưỡi của bạn, nó có thể chứa rất
nhiều vi khuẩn và làm hơi thở của bạn có mùi hôi”.
( “Đánh răng của bạn”- bài báo trích từ một Tạp chí Na-uy)
Sử dụng bài báo để trả lời các câu hỏi sau:
19
Câu hỏi 1: Bài báo viết về điều gì?
A. Phương pháp đánh răng tốt nhất.
B. Loại bàn chải đánh răng tốt nhất.
C. Tầm quan trọng của chiếc răng tốt.
D. Những cách đánh răng của nhiều người khác nhau.
Cách cho điểm
Mục đích của câu hỏi là để xác định được nội dung chính của bài đọc.