BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ DỊCH CHIẾT
COMPOST LÊN TUYẾN TRÙNG BƯỚU RỄ
CÂY HỒ TIÊU Ở IN VITRO
CHUYÊN NGÀNH : CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MÃ NGÀNH : 111
GVHD : Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH : VŨ THỊ MỸ LINH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KTCN TP. HCM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC
KHOA: MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
BOÄ MOÂN: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
HỌ VÀ TÊN: Vũ Thị Mỹ Linh LỚP : 05DSH
MSSV : 105111035 NĂM HỌC: 2005 - 2009
PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN
Người duyệt (chấm sơ bộ):
Đơn vị:
Ngày bảo vệ:
Điểm tổng kết:
Nơi lưu trữ Đồ án tốt nghiệp:
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, với lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm
ơn đến:
Th.S Dương Đức Hiếu đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và tạo mọi
điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Quý thầy cô trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, khoa
Công Nghệ Sinh Học và Môi Trường đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 4
năm học qua.
Quý thầy cô, anh chị và các bạn tại phòng Công nghệ Biến đổi sinh học cùng
tất cả các thầy cô tại Viện Sinh học nhiệt đới Tp.Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện
2.2.1 Khái niệm về tuyến trùng thực vật 8
2.2.2 Lịch sử nghiên cứu về tuyến trùng 9
2.2.3 Ý nghĩa của tuyến trùng thực vật 10
2.2.4 Phân loại tuyến trùng thực vật 10
2.2.5 Đặc điểm cấu tạo và hình thức sinh sản của tuyến trùng thực vật 11
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng lên tuyến trùng thực vật 13
2.4 Quan hệ tương hỗ giữa tuyến trùng với khác vi sinh vật khác 14
2.5 Tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp. 14
2.5.1 Đặc điểm chuẩn loại 15
2.5.2 Đặc điểm sinh học 15
2.5.3 Vòng đời của tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp 18
2.6 Biện pháp phòng trừ 19
2.6.1 Ngăn ngừa 20
2.6.2 Luân canh 20
2.6.3 Biện pháp canh tác 21
2.6.4 Biện pháp hóa học 21
2.6.5 Biện pháp vật lý 22
2.6.6 Biện pháp sinh học 22
2.6.7 Sử dụng các chế phẩm sinh học 24
2.6.8 Sử dụng các độc tố thực vật 25
2.6.9 Sử dụng phân bón hữu cơ sinh học 27
2.7 Khái quát về compost 30
2.7.1 Khái niệm về compost 30
2.7.2 Lợi ích của compost 30
2.7.3 Khả năng kiểm soát bệnh thực vật của compost 33
2.7.3.1 Các nghiên cứu sử dụng compost trong kiểm soát tuyến trùng ký sinh thực
vật 33
2.7.3.2 Cơ chế tác động của compost lên tuyến trùng ký sinh thực vật 36
2.7.3.3 Triển vọng của việc ứng dụng compost trong kiểm soát tuyến trùng ký sinh
thực vật 39
5.1 Kết luận 62
5.2 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CFU/g : Colony Forming Unit/gram, số khuẩn lạc/g
EC : Electrical conductivity, độ dẫn điện
IJ2 : Infective Juvenile 2, tuyến trùng cảm nhiễm tuổi 2
NĐ : Nồng độ
PGPR : Plant-growth promoting rhizobacteria, vi khuẩn vùng rễ kích thích
sinh trưởng thực vật.
Root –knot nematodes: Tuyến trùng bướu rễ
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4. 1 Tỷ lệ % tuyến trùng chết do tác động của compost 1 49
Biểu đồ 4. 2 Tỷ lệ % tuyến trùng chết do tác động của compost 2 51
Biểu đồ 4. 3 Tỷ lệ % tuyến trùng chết do tác động của compost 3 52
Biểu đồ 4. 4 Tỷ lệ % tuyến trùng chết do tác động của compost 4 54
Biểu đồ 4. 5 Tỷ lệ % tuyến trùng chết do tác động của các compost
ủ từ phụ phế phẩm của J. curcas 56
Biểu đồ 4. 6 Tỷ lệ % tuyến trùng chết do tác động của compost 5 57
Biểu đồ 4. 7 Tỷ lệ % tuyến trùng chết do tác động của compost 6 58 DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
DANH MỤC HÌNH Trang
Hình 2.1 Hình ảnh về vườn tiêu tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương 5
Hình 2.2 Hình ảnh về nhóm tuyến trùng ký sinh thực vật 11
Hình 2.3 Hình ảnh về tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne 16
Hình 2.4 Tuyến trùng cái và túi trứng của tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne 18
Hình 2.5 Vòng đời của tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne 19
Hình 3.1 Sinh vật thử nghiệm và các nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 42
Hình 3.2 Một số hình ảnh về rây lọc tuyến trùng và dịch chiết các compost 45
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 2
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay Việt Nam đang đứng đầu thế giới về xuất khẩu tiêu. Tiêu Việt Nam
đã có mặt ở 73 nước trên thế giới. Sản lượng xuất khẩu chiếm khoảng 50% lượng
tiêu xuất khẩu toàn cầu, khẳng định vị trí số 1 trên thị trường quốc tế [35]. Chuỗi
công việc với những công đoạn khác nhau liên quan đến hạt tiêu thương phẩm đã thu
hút hàng trăm ngàn lao động chủ yếu ở những vùng sâu vùng xa, kinh tế chưa phát
triển. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc tạo việc làm, thu nhập ổn định, từ đó bình
ổn đời sống xã hội cũng như góp phần CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây hồ tiêu lại trở thành cây thiếu bền vững. Sự thiếu
bền vững thể hiện ở sự bấp bênh về giá cả do sự suy giảm về chất lượng và sản lượng
hạt tiêu mà nguyên nhân chính là sự phát sinh các dịch bệnh hại trên cây tiêu. Các
dịch bệnh hại trên cây tiêu như: bệnh chết nhanh, bệnh chết chậm, bệnh tiêu điên,
bệnh tuyến trùng ký sinh…mà nguyên nhân gây bệnh do tác nhân vi khuẩn và nấm
chứng minh hiệu quả trong kiểm soát tuyến trùng thực vật (Babatola, 1990;
Abubakar và Majeed, 2000) [11]. Ngoài ra, việc sử dụng compost trong nông nghiệp
còn góp phần giải quyết một lượng lớn phế thải có thể gây ra các vần đề về môi
trường sau này. Đặc biệt, đã có một số nghiên cứu ghi nhận khả năng ngăn chặn một
số bệnh gây bởi tuyến trùng bướu rễ của compost phế thải nông nghiệp (McSorley và
Gallaher, 1995; Oka và Yermiyahu, 2002). Thêm vào đó, sự bổ sung compost còn
làm tăng độ màu mỡ của đất cũng như chất lượng và sản lượng cây trồng (Boehm và
cộng sự, 1993). Sự kiểm soát tuyến trùng có thể dựa trên các hợp chất độc tố được
tiết ra từ compost. Sự kết hợp các hợp chất cao phân tử như hợp chất tanin và
phenolic với compost có thể ngăn chặn được tuyến trùng bướu rễ [12].Trên cơ sở đó,
chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tác động của một số dịch chiết compost lên
tuyến trùng bướu rễ cây hồ tiêu ở in vitro ”. Đề tài được thực hiện tại phòng Công
nghệ biến đổi sinh học, Viện Sinh học nhiệt đới Tp. HCM.
1.2 Mục đích và nội dung nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với các nội dung chính sau:
- Phân tích các chỉ tiêu hóa lý của compost như: độ ẩm, pH, tỷ lệ C/N, axit
humic,… nhằm đưa ra các chỉ tiêu phù hợp khi bón cho cây trồng.
- Chiết xuất thô các hoạt chất từ các compost.
- Bước đầu khảo sát tác động của các dịch chiết compost được ủ từ lá, bánh
dầu Jatropha curcas, bèo lục bình (Eichhronia crassipes) và từ rác thải sinh hoạt lên
tuyến trùng bướu rễ trên cây hồ tiêu, nhằm tìm ra nồng độ dịch chiết phù hợp để
phòng trừ tuyến trùng bướu rễ.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 4
- Xây dựng bảng giá trị EC
50
để đánh giá độc tính của các loại compost lên
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 5 CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
0
C và cao hơn 40
0
C tiêu không phát triển được. Ẩm độ thích hợp bình quân
75 – 90%, ẩm độ cao làm cho hạt phấn dễ dính vào cuống nhị cái và thời gian thụ
phấn kéo dài do cuống nhụy trương to khi có ẩm độ, tạo điều kiện cho sự hình thành
quả tốt hơn. Cây tiêu cần có mùa khô rõ rệt khoảng 3-4 tháng để quả chính tập trung.
Tiêu không thích hợp với mưa lớn và đọng nước ở vùng rễ. Tiêu không thích hợp nơi
có gió lớn, gió dễ làm đổ nọc tiêu gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của
tiêu. Gió lạnh về mùa đông ảnh hưởng đến ra hoa, đậu quả. Tiêu là cây ưa ánh sáng,
nhất là trong thời kỳ cho quả. Tuy nhiên tiêu cần cây che bóng khi thời tiết nắng gắt.
Tiêu có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ bazan, đất sét pha cát, phù sa
bồi, đất xám, v.v. Đất dễ thoát nước đặc biệt không úng ngập, mực nước ngầm sâu
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 7
>1m. Đất giàu mùn, tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, giàu dinh
dưỡng, độ pH: 5,5-6,5.
Tiêu được trồng tại nhiều địa phương từ Quảng Trị đến Kiên Giang, nhưng có
6 tỉnh trọng điểm là Đồng Nai, Đắc Lắc, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Gia Lai và
Đắc Nông. Các tỉnh nói trên duy trì thường xuyên một sản lượng hạt tiêu lớn và đưa
Việt Nam trở thành nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới. Hiện nay, các địa
phương có diện tích trồng tiêu nhiều nhất phải kể đến Đắc Lắc 9.000ha, Gia Lai
3.800ha, Bình Phước 12.000ha, Bà Rịa - Vũng Tàu 5.400ha, Đồng Nai 4.100ha và
Quảng Trị 2.400ha. Sự "bùng nổ" diện tích tiêu thời gian qua là do lợi nhuận của cây
tiêu so với một số cây trồng khác đã tăng đến mức "kỷ lục": gấp 32,8 lần cà phê, 16
lần cao su, 14 lần điều.
Trong những năm qua, nghề trồng tiêu đã có những bước nhảy vọt, lượng tiêu
khẩu Việt Nam đã và đang trở thành một mắt xích trong chuỗi phân phối toàn cầu,
khả năng chi phối giá cả thị trường cũng được mở rộng. Điều này cho thấy giá trị
kinh tế to lớn mà cây tiêu đem lại.
Quá trình trồng, chế biến hạt tiêu đã quy tụ hàng trăm thương lái, đại lý và các
doanh nghiệp thu mua cung cấp cho khoảng 100 doanh nghiệp chế biến, tạo ra sản
phẩm sau thu hoạch và xuất khẩu. Chuỗi công việc với những công đoạn khác nhau
liên quan đến hạt tiêu thương phẩm đã thu hút hàng trăm ngàn lao động, chủ yếu tại
những địa phương kinh tế chưa phát triển, vùng xa, vùng sâu. Điều này có ý nghĩa
lớn trong tạo việc làm, thu nhập ổn định và từ đó bình ổn đời sống xã hội cũng như
từng bước góp phần CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Để ngành trồng tiêu phát triển bền vững, Bộ NN và PTNT đề ra mục tiêu: giữ
ổn định diện tích cây tiêu ở mức 50.00ha, sản lượng 100.000 tấn/năm, các địa
phương phải hướng dẫn người trồng thực hiện quy trình của tiêu chuẩn GAP để tạo
ra sản phẩm sạch, an toàn, làm cho giá trị hàng hoá ngày càng gia tăng, xây dựng
những vùng nguyên liệu tập trung. Chuyển từ sản xuất tiểu nông với kinh nghiệm
truyền thống sang sản xuất theo hướng an toàn, chất lượng cao, tổ chức các câu lạc
bộ, tổ hợp sản xuất, giúp nhau cùng phát triển.
2.1.3 Các sâu bệnh hại chính ở cây tiêu [25, 35]
Mối hại tiêu: mối xông đất tạo thành đường di chuyển trên trụ, dây và rễ
tiêu. Mối gây hại phần non của rễ, phần vỏ của thân và tạo vết thương trên các bộ
phận này tạo điều kiện cho nấm, tuyến trùng xâm nhập và gây bệnh cho cây tiêu.
Rệp sáp giả (Pseudococidae): gây hại trên đọt non, lá non, chùm quả, dây
tiêu trên mặt đất, hoặc gốc tiêu, rễ tiêu dưới mặt đất.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 9
Bệnh sinh lý
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 10
Triệu chứng: sự phát triển yếu đi dần dần và đặc điểm lá bị vàng là triệu
chứng đầu tiên do tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne gây ra. Hiện tượng bạc vàng lá
xuất hiện ở toàn bộ cây. M. incognita ký sinh làm giảm khả năng hấp thu các
khoáng: P, K, Cu, Zn, và Mn (Ferraz và cộng sự, 1988). Sắc tố của lá bị giảm đáng
kể bởi tuyến trùng bướu rễ, làm cho lá già và chết (Ferraz và Lordello, 1989). Ở rễ
xuất hiện các khối u lớn , tại đó tuyến trùng cái sẽ đẻ trứng và ký sinh sâu trong các
mô rễ (Ramana, 1992; Ramana và cộng sự, 1994). Rễ bị thối, cây sinh trưởng kém
đi, trở nên còi cọc, thân khô héo, tuyến trùng bướu rễ tạo ra các u bướu ở rễ, tạo đều
kiện cho nấm bệnh xâm nhập và phát triển mạnh.
Ngưỡng xâm nhiễm (infection threshold lever) của Meloidogyne spp. là 47 ấu
trùng/ 100g đất và 305 ấu trùng/ 10g rễ (Mustika, 1978). Ngưỡng gây hại (damage
threshold lever) là 100–10.000 ấu trùng/cây giống (Freire và Bridge, 1985c;
Mohandas và Ramana, 1991), và ngưỡng kinh tế (economic threshold lever) là
10.000 ấu trùng/ 100g.
2.2 Khái quát về tuyến trùng thực vật
2.2.1 Khái niệm về tuyến trùng thực vật [3, 9]
Tuyến trùng thực vật là nhóm tuyến trùng chuyên hóa với đời sống ký sinh ở
thực vật đang phát triển. Trải qua quá trình tiến hóa tuyến trùng đã thích nghi và có
mặt trong hầu hết các bộ phận của thực vật như: rễ, thân, lá, hoa, quả, trong đó rễ là
nơi gặp nhiều nhóm tuyến trùng ký sinh nhất. Tuyến trùng ký sinh thực vật có những
tập quán dinh dưỡng rất khác nhau, một số loài dinh dưỡng trên những mô ngoài của
thực vật, một số khác xâm nhập vào các mô sâu hơn, một số khác có thể làm cho cây
chủ tạo ra những nguồn dinh dưỡng đặc biệt tại nơi chúng ký sinh. Trong quá trình
phát triển và dinh dưỡng trên thực vật, tuyến trùng có thể gây ra nhiều biến đổi về cơ
học cũng như về sinh lý, sinh hóa bất lợi đối với thực vật chủ. Do quá trình châm
chích, di chuyển và dinh dưỡng trên cơ thể thực vật tuyến trùng ký sinh thường gây
ra tổn thương cơ học như phá hủy mô, tạo ra các vết thương bề mặt và bên trong thân
Tuyến trùng thực vật đã được tìm thấy từ giữa thế kỷ 18. Lần đầu tiên
Needham (1743) đã phát hiện ra tuyến trùng thực vật trên bông lúa mì, khi quan sát
những hạt lúa mì bị dị tật, teo lại ông đã phát hiện ra hàng loạt các động vật dạng sợi
di chuyển xoắn vặn trong nước, được Steinbuch đặt tên là Vibrio tritici. Trong những
năm cuối thế kỷ 19 và 4 thập niên đầu của thế kỷ 20 chỉ có ít các nhà khảo sát nghiên
cứu tuyến trùng. Trong giai đoạn này tuyến trùng ký sinh thực vật ít được chú ý, cho
đến khi ở Mỹ, Cobb xuất bản cuốn sách đầu tay về sự tồn tại và tầm quan trọng của
tuyến trùng khác không phải là giun tròn ký sinh ở động vật thì mới bắt đầu dấy lên
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 12
sự quan tâm thực sự đến tuyến trùng ký sinh thực vật. Từ những năm 1960 tại Mỹ và
nhiều nước khác trên thế giới, tuyến trùng học nói chung và tuyến trùng thực vật nói
riêng đã trở thành môn khoa học nghiên cứu các quy luật sinh thái học, phát triển của
tuyến trùng, nhất là các loài tuyến trùng ký sinh thực vật.
Ở Việt Nam, mặc dù nghiên cứu tuyến trùng chỉ mới bắt đầu từ những năm
1970 trở lại đây nhưng đã khẳng định được vai trò to lớn của tuyến trùng về cả
phương diện tuyến trùng gây hại (tuyến trùng thực vật) và có lợi (tuyến trùng ký sinh
gây bệnh côn trùng, tuyến trùng sống tự do trong đất, nước) trong nông nghiệp và
sinh thái môi trường ở nước ta [3].
2.2.3 Ý nghĩa của tuyến trùng thực vật [3]
Tuyến trùng ký sinh thực vật có ý nghĩa quan trọng trong nông nghiệp, chúng
đã được ghi nhận như một nhóm gây hại quan trọng đối với thực vật trong lĩnh vực
sâu bệnh hại. Chúng còn được ghi nhận như các cơ thể sống có vai trò quan trọng
trong đất và nước cũng như hệ sinh thái nông nghiệp nói chung. Việc nghiên cứu và
phân loại tuyến trùng thực vật để biết được thành phần loài tuyến trùng và xác định
các loài ký sinh gây hại quan trọng liên quan đến các dấu hiệu gây hại, trên cơ sở
điều tra và phân loại để biết được phân bố và vai trò của các loài tuyến trùng đối với
chẽ với đặc tính sinh sống và cây ký chủ nên chúng có hình dạng đa dạng như: quả
lê, quả chanh, hình cầu, hình tròn, hình giọt nước nhỏ giọt. Chiều rộng thân từ 15-
20µm, có thể rộng 250-550µm hoặc hơn nữa. Tuyến trùng có màu trắng trong nên có
thể quan sát chúng dưới kính hiển vi một cách dễ dàng cả cấu tạo trong và ngoài. Các
loài tuyến trùng sống trên lá có hình sợi chỉ nằm trong các gian bào của tế bào thực
vật. Loại phá hủy mô tế bào thì có dạng là hình trụ, hình thoi sống ở trong đất [9].
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH: VŨ THỊ MỸ LINH Trang 14 Tylenchulus (hình quả lê) Meloidogyne (hình cầu/bầu)
Hirschmanniella (hình giun dài)
Helicotelynchus (hình giun xoắn)
Pratylenchus (hình giun)
quá trình sinh sản và phát triển qua các giai đoạn từ tuyến trùng non lên tuyến trùng
trưởng thành để phân giới đực cái (loài Meloidogyne spp.; Globodera rostochiensis;
Heterodera avenae). Tuyến trùng Heterodera Schachtii và Meloidogyne javanica
sống và phát triển trong cây thiếu đạm thì con đực hình thành nhiều hơn con cái so
với cây bón đủ phân. Tuyến trùng các loài Meloidogyne spp. tăng khi bón ít kali và
dưới tác động của điều kiện ngoại cảnh từ tuyến trùng con tuổi 2 có thể phát triển
thành tuyến trùng trưởng thành vừa có cơ quan sinh dục cái lại vừa có cơ quan sinh
dục đực [3].
Tuyến trùng đẻ trứng là chủ yếu, trứng được hình thành trong cơ thể mẹ và
phát triển trong tế bào trứng. Một trứng đã thụ tinh là trứng có một nhân với số các
nhiễm sắc thể, sau đó thực hiện quá trình phân chia nhân tế bào trứng. Trứng sau khi
thụ tinh phát triển trong túi trứng (loài Meloidogyne spp.), một số khác nằm trong cơ
thể mẹ (loài Heterodera spp.), vỏ cơ thể mẹ chuyển thành nang và tuyến trùng non
phát triển trong đó, sau đó chui ra ngoài ở tuổi 2 trong điều kiện ngoại cảnh phù hợp.
Tuyến trùng non tuổi 1 là giai đoạn cuối cùng của quá trình phân chia nhân và
phát triển trong vỏ tế bào trứng. Số lượng trứng trong một cơ thể mẹ nở được bao
nhiêu phụ thuộc hoàn toàn vô sự thụ tinh của trứng trong túi trứng. Tùy thuộc vô
nhóm sinh thái khác nhau và điều kiện sinh thái mà sự thụ tinh của tuyến trùng thực
vật cũng khác nhau, các loài trong bộ Tylenchida đẻ trứng với số lượng khác nhau:
loài Anguina đẻ 2.500 trứng (A. tritici), nhóm Meloidogyne spp. đẻ 2882 trứng [9].