Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cha từng đợc ai công bố
trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Võ Ngọc Quân
mơc lơc
2.1 §Ỉc ®iĨm ®Þa chÊt c«ng tr×nh khu vùc thµnh phè Hå ChÝ Minh 18
2.1.1 TrÇm tÝch ngn gèc s«ng biĨn hƯ tÇng Thđ §øc (zamQII-
IIIt®) 18
2.1.2 TrÇm tÝch ngn gèc s«ng biĨn hƯ tÇng Cđ Chi (amQIII3cc)
18
2.1.3 TrÇm tÝch hƯ tÇng B×nh Ch¸nh (QIV1-2bc) 19
2.1.4 TrÇm tÝch hƯ tÇng CÇn Giê (QIV2-3cg) 20
2.1.5 TrÇm tÝch hƯ tÇng Nhµ BÌ - B×nh Trng (amN13-N21) 21
2.1.6 TrÇm tÝch hƯ tÇng Bµ Miªu (amN22) 21
Lớp 1 23
Đát sét màu nâu 23
Lớp 2 23
Đất bùn sét 23
Lớp 3 23
Bùn á sét 23
Lớp 4 23
Bùn á cát 23
Lớp 5 23
Lớp 6 23
cát 23
Tr×nh tù tÝnh to¸n s¬ bé c¸c th«ng sè khoan phơt nh sau: 40
Qua ®Ỉc ®iĨm ®Þa chÊt c«ng tr×nh cđa khu vùc bê s«ng R¹ch GiÏ, thµnh phè
Hå ChÝ Minh (nh ®· tr×nh bµy ë ch¬ng 2), cho thÊy bỊ dµy ®Êt u kh«ng
qu¸ lín (kho¶ng 7.0m), bªn díi líp ®Êt u lµ líp sÐt nưa cøng vµ líp c¸t
Cà Mau đi khu Công nghiệp khí điện đạm, cảng Dung Quất, một số hố móng
công trình nhà cao tầng tại thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, công nghệ này
chủ yếu đợc sử dụng để xử lý nền đất yếu, cha có ứng dụng nào để xử lý cho
công tác phòng chống trợt các bờ sông. Tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
các bờ sông đều đợc cấu tạo bởi đất yếu (bùn sét), hiện tợng trợt các bờ sông
này diễn ra hàng ngày, hàng tháng, hàng năm và gây ra rất nhiều tác động xấu
cho công tác xây dựng, quy hoạch lãnh thổ, ảnh hởng đến đời sống dân c và
hàng loạt các tác động xấu khác. Để gia cố các bờ sông này, hiện nay, rất nhiều
chủ đầu t chọn các biện pháp gia cố rất tốn kém nh tờng cừ Baret, cọc ván
bêtông dự ứng lực, hoặc xử lý bằng rọ đá. Công nghệ cọc đất-xi măng hoàn
toàn có thể đợc sử dụng để xử lý hiện tợng trợt bờ sông, vừa đảm bảo an toàn
phòng chống trợt, vừa đạt hiệu quả kinh tế. Do đó, ứng dụng công nghệ cọc
đấtximăng để xử lý phòng chống trợt cho bờ sông khu vực Thành phố Hồ
Chí Minh có tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
2. Mục đích của đề tài
1
Phân tích, đánh giá lựa chọn công nghệ gia cố nền đất yếu bằng cọc
đấtximăng thích hợp để gia cố bảo vệ phòng chống trợt bờ sông khu vực
Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu: Phơng pháp và công nghệ xử lý phòng chống
trợt bờ sông bằng cọc đấtximăng.
- Phạm vi nghiên cứu: khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng cho
bờ sông Rạch Giẽ, khu đô thị Phớc Nguyên Hng.
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, cơ sở thực nghiệm và công nghệ của ph-
ơng pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc đất-ximăng.
- Nghiên cứu đặc điểm địa chất công trình các bờ sông khu vực thành
phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích lựa chọn công nghệ hợp lý gia cố bờ sông khu vực thành
Minh bằng cọc đấtximăng
Lời cảm ơn
3
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận đợc sự quan tâm
giúp đỡ của của các thầy trong bộ môn Địa chất công trình trờng Đại học Mỏ-
Địa Chất nh: PGS.TS Nguyễn Huy Phơng, TS Tô Xuân Vu và đặc biệt là
PGS.TS Tạ Đức Thịnh đã tận tình hớng dẫn và giúp đỡ trong quá trình học tập
và nghiên cứu của mình. Ngoài ra, tác giả còn nhận đợc sự giúp đỡ, động viên
nhiệt tình của bạn bè và đồng nghiệp. Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Do điều kiện thời gian có hạn, đối tợng nghiên cứu còn mới mẻ cộng
với khả năng và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, luận văn chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận đợc sự đóng góp, bổ
sung những ý kiến bổ ích để tác giả hoàn thiện hơn và phát triển luận án khi
có điều kiện nghiên cứu tiếp.
4
Chơng 1
Cơ sở lý thuyết, thực nghiệm phơng pháp gia cố
bảo vệ bờ sông bằng cọc đất-xi măng
1.1 Cơ sở lý thuyết
Cũng nh các phơng pháp cải tạo, gia cố và xử lý nền đất yếu khác, ph-
ơng pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc đất-ximăng nhằm thay đổi tính chất cơ
lý của đất theo hớng nâng cao sức chịu tải, giảm biến dạng của nền, tăng sức
chống cắt. Do đó, có thể ứng dụng phơng pháp gia cố đất yếu bằng cọc đất-
ximăng để xử lý nền và đảm bảo ổn định mái dốc của bờ sông.
Vấn đề là làm sáng tỏ cơ chế của quá trình gia tăng cờng độ của đất,
xác định các quá trình nào sẽ xảy ra trong đất khi gia cố bằng cọc đất-ximăng.
Làm sáng tỏ cơ chế của những quá trình cơ học và hóa lý xảy ra trong đất,
hoàn thiện phơng pháp tính toán nền và chống trợt của mái dốc chính là đã
xây dựng đợc cơ sở lý thuyết của phơng pháp.
Trên cơ sở phân tích lý thuyết các phơng pháp gia cố nền bằng cọc đất-
+ V
r
(1.2)
Nh vy, s thay i th tớch khi t l:
V = Vo V = (V
ho
+ V
ro
) - (V
h
+ V
r
) (1.3)
Th tớch cỏc ht rn c coi nh khụng i trong quỏ trỡnh gia c,
ngha l V
ho
= V
h
, do ú:
V = V
ro
- V
r
V = V
r
(1.4)
Biu thc (1.4) cho thy: s thay i th tớch khi t khi gia c chớnh
l s thay i th tớch l rng trong khi t.
Nh vậy, khi gia cố nền bằng cọc đất- xi măng, quá trình nén chặt đất sẽ
xảy ra tức thời. Hiệu quả nén chặt phụ thuộc vào thể tích vật liệu đợc đa vào
3
.Fe
2
O
3
, nên khi sử dụng hỗn hợp vữa ximăngnớc
vào trong đất sẽ xảy ra các quá trình thủy hóa sau:
6
2(3CaO.SiO
2
) + 6H
2
O = 3CaO.2SiO
2
+ 3H
2
O + Ca(OH)
2
Sản phẩm thủy hóa của ximăng xảy ra nhanh và phần lớn cờng độ của
cột đạt sau vài tuần. Hydrat Canxi cũng đợc hình thành trong quá trình thủy
hóa cũng có phản ứng với các hạt đất sét làm tăng thêm cờng độ của đất, nhng
phản ứng này xảy ra rất chậm và kéo dài trong vài năm. Quá trình trên đợc
biểu diễn bằng hình 1.1 dới đây:
Hình 1.1. Quá trình đạt cờng độ của đất gia cố xi măng
Khi gia cố nền đất yếu bằng cọc cát, sức kháng cắt của cọc cát dới tác
dụng của tải trọng ngoài xác định theo định luật Coulomb = tg , với là
góc ma sát trong của cát. Nhng trong cọc đất-xi măng, do hỗn hợp vữa
ximăng-đất có thêm lực dính nên khả năng chịu lực nén và lực cắt của cọc đất-
ximăng tăng lên rất đáng kể. Lúc đó, sức kháng cắt của cọc đất-xi măng xác
còn biến dạng thì tính toán theo nền. Sở dĩ còn nhiều những quan điểm trái
ngợc nhau là vì bản thân vấn đề rất phức tạp, cần phải có nhiều công trình
nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm làm sáng tỏ vai trò mang tải của cọc, của
đất nền xung quanh cọc, nghĩa là xem cọc và nền cùng đồng thời làm việc.
Vấn đề sẽ đơn giản hơn nhiều nếu quan niệm nền đất yếu đă đợc gia cố là một
nền mới, có tính chất cơ lý mới. Rõ ràng là, trớc khi gia cố, nền thiên nhiên là
một nền đất yếu với các tính chất cơ lý không đáp ứng đợc yêu cầu xây dựng.
Sau khi gia cố, các chỉ tiêu cơ lý đă thay đổi một cách đáng kể nh độ ẩm, hệ
số rỗng giảm, khối lợng thể tích, lực dính, góc ma sát trong tăng nhờ các quá
trình cố kết và tác dụng của các phản ứng hoá lý giữa xi măng, với đất nền
trong quá trình gia cố, một phần nhờ vào quá trình nén chặt cơ học (tác dụng
nén chặt cơ học chiếm vai trò không lớn). Vì vậy, việc tính toán sức chịu tải
và độ lún của nền sau gia cố có thể tính nh đối với nền thiên nhiên.
8
1.1.3.1. Tính toán ổn định của nền đất đợc gia cố
a. Cờng độ kháng cắt của nền gia cố
Thờng cọc đất-ximăng đợc dùng để ổn định mái dốc, khối đắp hoặc t-
ờng hào. Mặt phá hoại theo mặt phẳng hoặc cung tròn, huy động sức kháng
cắt của cọc và đất xung quanh cọc. Phân tích ổn định dựa theo các phơng pháp
hiện hành. Nền xử lý có cờng độ kháng cắt tính theo công thức:
S
tb
= S
u
(1- a) + a S
U-DXM
(1.5)
Trong đó: S
u
là sức kháng cắt của đất, tính theo phơng pháp trọng số
+= 5.0
''
Cng chu ti di hn ca cc n cú th ly t 0.7 n 0.95 cng
chu ti ti hn ca cc, cc t-ximng c thit k cú th chu ti ln
nht q
1max
vi cng chu ti di hn ca cc n 0.90 cng chu ti ti
hn ca cc:
ult
aq
90.0
max1
=
Ti thit k ca cc l:
max1
AqQ
DXcoc
=
(1.7)
Trong ú:
A: Tit din cc t-ximng
9
a: A/c
2
i vi li cc vuụng, vi c l khong cỏch cc
S
U-DXM
: Cng khỏng ct khụng thoỏt nc ca cc t-ximng
sức kháng kéo của đất xử lý ở vùng gối nhau khoảng 5% đến 15% cờng độ
kháng nén không hạn chế nở hông (có thể thấp hơn hoặc cao hơn tùy theo chất
lợng và hiệu quả trộn sâu). Khi các cọc phân cách với nhau, sức kháng cắt của
cọc trong hàng bằng sức kháng cắt của cọc đơn.
e. Xử lý toàn khối
Do tính chất của đất nền xử lý khác xa nền cha xử lý, có thể xem khối
xử lý đợc chôn trong đất để truyền tải trọng tác dụng đến lớp thích hợp
(Kitazume, 1996).
Bớc đầu tiên gồm phân tích ổn định công trình bên trên làm việc đồng thời
với nền xử lý.
Bớc thứ hai gồm phân tích ổn định của nền xử lý chịu tác động của
ngoại tải: phá hoại trợt, lật, mất khả năng chịu tải.
Bớc thứ ba, kiểm tra độ lún của nền.
Có thể dùng phơng pháp Phần tử hữu hạn để phân tích ứng suất và biến
dạng của nền xử lý phức tạp, số liệu đầu vào chiếm vai trò quan trọng.
1.1.3.2. Tính toán biến dạng của nền đất đợc gia cố
Các công thức tính toán lấy theo TCXDVN 385:2006 Gia cố nền đất
yếu bằng cọc đất- ximăng
a. Độ lún toàn phần
Cọc để giảm độ lún thờng đợc bố trí theo lới tam giác hoặc ô vuông.
Phân tích lún dựa trên quan điểm đồng biến dạng, nói cách khác, cho rằng
hiệu ứng vòm phân bố lại tải trọng sao cho biến dạng thẳng đứng tại độ sâu
11
nhất định trở thành bằng nhau trong cọc và đất quanh cọc.
Đối với nhóm cọc, độ lún trung bình sẽ đợc giảm bởi ứng suất cắt của
đất, huy động tại bề mặt tiếp xúc theo chu vi khối với đất xung quanh. Chỉ
chuyển dịch khá nhỏ (vài mm) đủ để huy động sức kháng cắt của đất. ứng
suất cắt gây nên độ lún lệch các cọc trong nhóm. Độ lún lệch này sẽ giảm dần
theo mức độ cố kết của đất, cho nên sẽ không kể đến trong tính lún tổng. Ph-
ơng pháp tính lún của giáo s Broms nh sau:
tích tiết diện cọc, B, L -kích thớc khối gia cố;
Ec- Mô đun đàn hồi của vật liệu cọc; Có thể lấy Ec =
(50ữ100) S
U-DXM
trong đó S
U-DXM
là sức kháng cắt của vật
liệu cọc.
E
s
- Mô đun biến dạng của đất nền giữa các cọc. (Có thể
lấy theo công thức thực nghiệm Es = 250Su, với Su là sức
kháng cắt không thoát nớc của đất nền).
Ghi chú: Các thông số Ec, S
U-DXM
, Es, Su xác định từ kết quả thí
nghiệm mẫu hiện trờng cho kết quả phù hợp thực tế hơn.
12
Hình 1.3. Tính lún nền gia cố khi tải trọng tác dụng cha vợt quá
sức chịu tải cho phép của vật liệu cọc
Độ lún S
2
đợc tính theo nguyên lý cộng lún từng lớp hoặc phơng pháp
lớp tơng đơng. áp lực đất phụ thêm trong đất có thể tính theo lời giải
cho bán không gian biến dạng tuyến tính (tra bảng) hoặc phân bố giảm
dần theo chiều sâu với độ dốc (2:1) nh hình 1.3. Phạm vi vùng ảnh hởng
lún đến chiều sâu mà tại đó áp lực gây lún không vợt quá 10% áp lực
đất tự nhiên (theo quy định trong tiêu chuẩn thiết kế nền nhà và công
trình TCXD 45-78).
tiếp và thí nghiệm thấm mẫu đất-ximăng.
Thí nghiệm mẫu cọc đất-ximăng đợc tiến hành trên 03 mẫu thử, tỷ lệ
trộn mẫu là 45kg ximăng cho 1.0m dài cọc, tơng đơng 159kg ximăng cho 1.0
m
3
khối trộn.
Mẫu thí nghiệm đợc lấy bằng phơng pháp khoan xoay lấy mẫu ở một số
cọc đất xi-măng. Kết quả thí nghiệm trên một số mẫu thử cọc đất-ximăng tại
khu vực bờ sông Khu đô thị Phớc Nguyên Hng, Thành phố Hồ Chí Minh cũng
cho thấy cờng độ kháng nén và sức kháng cắt của mẫu đất khu vực đợc gia cố
bằng cọc đất-ximăng đợc tăng lên đáng kể.
Các chỉ tiêu vật lý và cơ học của mẫu đất trớc khi gia cố đợc thể hiện
trong bảng 1.1:
14
Bảng 1.1. Bảng cơ lý lớp đất yếu trớc khi gia cố
Chỉ tiêu Ký hiệu Đơn vị Giá trị
Lực dính c T/m
2
0.59
Góc ma sát trong
độ 2
0
41
Hệ số nén lún a cm
2
/kg 0.236
Môđun biến dạng E T/m
2
60
2
0.679
Cờng độ kháng cắt S
Đ-XM
kG/cm
2
1.70
Mô đun đàn hồi của cọc đất xi măng E
Đ-XM
= (100-150)S
Đ-XM
. Lấy E
Đ-XM
=
100.S
Đ-XM
để tính toán, ta có E
Đ-XM
= 170 kG/cm
2
(1.700 t/m
2
). Tỷ số E
Đ-XM
/ E
Đ
28
Từ các kết quả trên cho thấy, nền đất sau khi gia cố có các chỉ tiêu về
sức chống cắt tăng lên từ 3 đến 28 lần. Điều đó chứng tỏ, nền đất yếu khi đợc
cc)
Trầm tích nguồn gốc sông biển hệ tầng Củ Chi (amQ
III
3
cc) có thành phần
đất đá rất đa dạng, nhiều màu sắc, bề dày thay đổi từ 2,5 - 25m. Các trầm tích
này phân bố rộng rãi nhng lộ ra không liên tục ở các quận 3, 5, 10, Tân Bình
và Gò Vấp, phần diện tích còn lại bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn. Có thể chia
trầm tích hệ tầng Củ Chi thành 2 tập: tập trên và tập dới.
Tập trên có thành phần chủ yếu là sét, sét pha nâu vàng, loang lổ, lẫn sạn sỏi
laterit, trạng thái nửa cứng tới cứng, bề dày từ 3 - 8m, có nơi hơn 10m. Phần trên
cùng của tập có độ chặt cao, sức kháng xuyên đầu mũi từ 100 - 200kG/cm
2
,
tính nén lún nhỏ và độ bền tơng đối cao.
Tập dới có thành phần chủ yếu là cát pha và cát hạt mịn đến thô, độ chặt
trung bình, sức kháng xuyên đầu mũi của đất từ 20 - 70kG/cm
2
, tính nén lún trung
bình, độ thấm tơng đối cao.
18
Các trầm tích này có trạng thái cứng - dẻo cứng, sức chịu tải 3,0 -
3,5kG/cm
2
, chiều dày từ 1,5 - 5m.
2.1.3 Trầm tích hệ tầng Bình Chánh (Q
IV
1-2
bc)
Trầm tích hệ tầng Bình Chánh có thành phần đất đá đa dạng, phân bố
tích lộ ra ở các quận 4, 5, 6, 8, 11, quận Thủ Đức, huyện Bình Chánh, Nhà Bè
và phần còn lại bị phủ bởi cấc trầm tích hệ tầng Cần Giờ (Q
IV
2-3
cg). Thành
phần chủ yếu là sét, bùn sét, bùn sét pha, đôi chỗ có cát pha và cát hạt mịn.
Đất cha đợc nén chặt, hệ số nén chặt tự nhiên K
đ
nhỏ hơn 0, trạng thái dẻo
mềm đến chảy, liên kết keo xúc biến, độ bền không đáng kể, khối lợng thể
tích tự nhiên 1,45 - 1,85g/cm
3
, hệ số rỗng từ 0,8 - 2 và lớn hơn, hệ số nén lún
a
1- 2
= 0,090 - 0,634cm
2
/ kG. Giống nh các trầm tích biển, tại những nơi lộ ra
trên bề mặt, đất bị phong hóa yếu có màu vàng loang lổ. Tuy nhiên, do địa
hình thấp, mực nớc ngầm nằm nông, bị ảnh hởng của thủy triều nên lớp này
có bề dày không đáng kể.
19
Đáng lu ý là trầm tích Holoxen trầm tích sông biển đợc phân bố ở cửa
biển (từ mũi Nhà Bè đổ ra phía biển nên trong khu vực nghiên cứu trầm tích
này không giữ vai trò cấu tạo nên bờ và lòng sông Đồng Nai).
2.1.4 Trầm tích hệ tầng Cần Giờ (Q
IV
2-3
cg)
2.1.4.1 Trầm tích nguồn gốc sông biển (amQ
nén lún lớn, độ bền nhỏ, hàm lợng hữu cơ thờng biến đổi trong khoảng từ 6 -
15% đến 50 - 60%. Đất có tính bất đẳng hớng rõ rệt về tính thấm, tính biến
dạng và độ bền.
20
2.1.4.3 Trầm tích nguồn gốc đầm lầy biển (bmQ
IV
2-3
cg)
Phân bố chủ yếu ở các huyện Nhà Bè, Cần Giờ, gồm bùn sét, bùn sét
pha màu xám đen, chứa 20 - 30% tạp chất hữu cơ và vụn thực vật phân hủy
kém, bề mặt dày 2 - 10m và lớn hơn, phủ chỉnh hợp lên các trầm tích hệ tầng
Bình Chánh, bề mặt bị ngập nớc thờng xuyên, trên đó thảm thực vật đầm lầy
nớc mặn phát triển mạnh. Các trầm tích này có độ ẩm cao, thông thờng 70 -
90%, trạng thái chảy, hệ số rỗng rất lớn, độ sệt thay đổi rộng, rất kém ổn định,
tính thấm và độ bền nhỏ, tính nén lún lớn, hệ số nén lún thay đổi trong khoảng
0,5 - 1,0cm
2
/kg.
Nhìn chung, các trầm tích hệ tầng Cần Giờ đều là đất yếu, chứa một l-
ợng đáng kể vật chất hữu cơ và hàm lợng của nó liên quan mật thiết với nguồn
gốc thành tạo, thấp nhất là trong trầm tích nguồn gốc sông biển, kế đó là các
trầm tích đầm lầy biển và đầm lầy sông. Ngoài ra, trong các trầm tích đầm lầy
sông còn có mặt than bùn, phân bố tơng đối rộng, biến đổi mạnh về chiều dày,
độ ẩm cao, hệ số rỗng và tính nén lún rất lớn, độ bền nhỏ và bất đẳng hớng rõ
rệt về tính thấm, tính biến dạng và độ bền. Do đó, sự có mặt của chúng trong
cấu trúc nền đất gây nhiều khó khăn cho công tác khảo sát cũng nh thiết kế,
xử lý nền móng và thi công xây dựng, ảnh hởng bất lợi đến ổn định của công
trình, làm cho nền đất rất nhạy cảm trớc tác động của con ngời.
2.1.5 Trầm tích hệ tầng Nhà Bè - Bình Trng (amN
1
bình từ 10 - 30m. Mặt cắt trầm tích của tầng này có thể phân chia thành ba
lớp: dới cùng là cuội sỏi, ở giữa là cát sạn, trên cùng là sét pha, sét. Theo hớng
từ Bắc xuống Nam, chiều dày lớp sét pha, sét tăng nhanh trung bình từ 2 -
20m, còn cát sạn sỏi lại giảm. Lớp sét pha có hàm lợng sét biến đổi từ 11,4% -
63,0%. Trạng thái biến đổi từ cứng đến dẻo cứng. Sức chịu tải 3,0 -
5,0kG/cm
2
. ở vùng có địa hình cao, bề mặt của tầng bị phong hóa mạnh hình
thành lớp sét - sét pha chứa Laterit. Bề mặt của tầng Trảng Bom không bằng
phẳng, nhiều nơi bị bào khoét tới độ sâu 20 - 30m, thậm chí hơn 40m ở Tây
Nam Bình Chánh, và hình thành các trũng lớn ở vùng duyên hải, Nhà Bè, Bình
Chánh, Nam Thủ Đức, dọc sông Sài Gòn để chứa các trầm tích trẻ Holocen. ở
các khu vực Bắc Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn, nội thành, tầng Trảng Bom nổi
cao ở độ sâu 3 - 10m, là tầng chịu tải chính của công trình bề mặt.
Từ những trình bày nói trên, có thể thấy rằng tính chất cơ lý của các
trầm tích phụ thuộc vào tuổi và nguồn gốc của chúng. Các trầm tích Pleistocen
cổ hơn (hệ tầng Thủ Đức và Củ Chi) có mức độ thành đá cao hơn, độ bền lớn
hơn, đợc đặc trng bằng độ ẩm tự nhiên, độ rỗng, độ sệt, độ nén lún tơng đối
thấp, còn khối lợng thể tích tự nhiên, sức kháng cắt, môđun tổng biến dạng và
khả năng chịu tải tơng đối cao. Các trầm tích Holoxen trẻ hơn (hệ tầng Bình
Chánh, Cần Giờ) có mức độ thành đá thấp và độ bền rất nhỏ, về cơ bản đều là
các loại đất yếu, có độ ẩm tự nhiên vợt quá giới hạn chảy, tính nén lún rất lớn
và rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài. Các trầm tích có nguồn gốc
đầm lầy có hàm lợng vật chất hữu cơ cao làm cho đất có tính bất đẳng hớng rõ
rệt về tính thấm, tính biến dạng và độ bền.
22