Tiểu luận môn Quản trị doanh nghiệp Đề tài Chuyển Giá - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CHUYỂN GIÁ
GVHD : PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng
NHÓM : 7
LỚP : TCDN Đêm 4 – K21
 TP.HCM, tháng 11.2012 
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Tp. Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm…
CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 7
1. Nguyễn Thị Minh Ngọc
2. Nguyễn Thị Lan
3. Đinh Viết Khuê
4. Nguyễn Thị Hồng Nhung
5. Nguyễn Văn Hùng
6. Lại Thị Hằng
7. Nguyễn Thị Hồng Minh
LỜI MỞ ĐẦU 6
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIÁ 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Nguyên nhân dẫn tới chuyển giá 3
1.3 Phạm vi chuyển giá 4
1.4 Tác động của chuyển giá 5
1.4.1 Đối với các công ty đa quốc gia 5
1.4.2 Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư 5
1.4.3 Đối với các quốc gia xuất khẩu đầu tư 6
1.5. Các phương thức chuyển giá phổ biến 6
PHẦN II: CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM 10
2.1 Thực trạng hoạt động chuyển giá tại Việt Nam 10
2.1.1 Tình hình thu hút FDI của Việt Nam thời gian qua 10

soát được”, thì việc nghiên cứu để tìm giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá là cấp
thiết, khi mà luồng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều.
Vì vậy, nhóm đã tiến hành tìm hiểu và phân tích cơ sở lí thuyết, thực trạng và
những giải pháp để góp phần hạn chế tình hình chuyển giá ở Việt Nam trong giai đoạn
mở cửa hội nhập hiện nay. Trong quá trình phân tích có những sai sót mong được sự góp
ý của thầy. Nhóm xin chân thành tiếp nhận ý kiến đóng góp để hoàn thiện bài nghiên cứu.
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIÁ
1.1 Khái niệm
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài
sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị
trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company)
trên toàn cầu.
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay
đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có
đối tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch
như thế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn
có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán
hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự
khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích
không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên
kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của
họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi
bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc
gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất,
cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ
điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
Cho nên, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ

Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khả năng để kết luận
rằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá.
Ví dụ chuyển giá từ bên ngoài, qua giá thiết bị, máy móc, giá nguyên liệu và hợp
thức từ công ty mẹ chuyển sang.
Báo cáo quyết toán ngân sách năm 2009 của Chính phủ cùng kết quả kiểm toán cho
thấy giữa dự toán và quyết toán còn khoảng cách lớn. Chẳng hạn dự toán thu từ dầu thô
có 63.400 tỷ đồng nhưng thực thu tới hơn 83.300 tỷ đồng, vượt 31,6%.
1.2 Nguyên nhân dẫn tới chuyển giá
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 3
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các chủ
thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ thể
riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết. Với môi
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, câu hỏi làm sao để lợi ích tổng thể đạt tối ưu luôn
được đặt ra với các chủ thể kinh doanh. Chuyển giá được xem là một lời giải cho bài toán
lợi ích mà ở đó nhà đầu tư không cần thêm vốn hay mở rộng sản xuất. Đơn giản vì
phương cách này giúp họ giảm tổng nghĩa vụ thuế. Từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ gia tăng.
Tuy nhiên vấn đề chuyển giá ở Việt Nam còn hết sức mới mẻ. Trong xu thế mở rộng
cửa chào đón các tập đoàn kinh tế quốc tế, phát huy nội lực với các công ty cha - mẹ -
anh - chị - em , thì chuyển giá sẽ là công cụ dễ được các chủ thể kinh doanh sử dụng
nhằm thay đổi những nghĩa vụ thuế phải thực hiện với nhà nước. Sự mới mẻ và chứa
đựng những hấp dẫn về lợi ích kinh tế của chuyển giá là điều được các nhà quản lý lưu
tâm, được các chủ thể kinh doanh, người hoạch định chiến lược tài chính của doanh
nghiệp lên chương trình hành động cho mình.
1.3 Phạm vi chuyển giá
Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành vi phải
được xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết. Điều 9 Công ước mẫu của
OECD về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp được xem là liên kết
(associated enterprises) khi:
• Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia

giảm thuế. Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng ãi
hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn về điều này.
1.4 Tác động của chuyển giá
1.4.1 Đối với các công ty đa quốc gia
 Tác động tích cực
 Được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế suất, lĩnh vực đầu tư…) tạo
điều kiện cho các công ty đa quốc gia dễ dàng trong việc thực hiện giảm thiểu trách
nhiệm ở quốc gia các công ty đa quốc gia đang đầu tư.
 Thực hiện chuyển giá, các công ty đa quốc gia sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư,
nhanh chóng thu hồi nguồn vốn cho các cơ hội đầu tư khác.
 Thực hiện chuyển giá sẽ giúp các công ty đa quốc gia nhanh chóng chiếm lĩnh thị
trường ở các nước đang đầu tư.
 Tác động tiêu cực
 Nếu bị các quốc gia phát hiện và thực hiện chế tài thì các công ty đa quốc gia phải
chịu một khoản phạt rất lớn, bị rút giấy phép kinh doanh tại quốc gia đó hoặc ảnh
hưởng nghiêm trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ
hơn của các cơ quan thuế ở những nước mà các công ty đa quốc gia đi đầu tư sau đó.
1.4.2 Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư
1
Chẳng hạn như Luật Thuế TNDN của Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Canada hoặc Công ước mẫu về định giá chuyển giao của OEDC
đều chỉ điều chỉnh đối với chuyển giá quốc tế (all cross-border)
2
Atul Dua, Tranfer Pricing-Atax: Corporate and Securities Perspective, IPBA Journal, số 40, tháng 12/2005, tr. 22.
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 5
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
 Tác động tích cực
 Khi có hoạt động chuyển giá ngược, do nước thu hút đầu tư có mức thuế thu nhập
thấp làm tăng thu nhập cho nước tiếp nhận vốn.
 Tác động tiêu cực
 Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột thay đổi do việc

thành phẩm. Các thành viên của MNC có trụ sở tại các quốc gia có thuế suất thuế TNDN
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 6
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
cao sẽ mua vào các nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm với giá cao và bán
ra cho các công ty thành viên với giá thấp nhằm tối thiểu hóa thuế TNDN. Giá mua vào
và giá bán ra cho các thành viên trong MNC bị áp đặt nhằm tối thiểu hóa thu nhập phải
nộp thuế.Ngoài ra, thông qua việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa các MNC cũng thu
lợi từ các biểu thuế xuất khẩu hay nhập khẩu nhằm tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của
MNC.
Ví dụ:
Cụ thể, Thanh tra Cục Thuế phát hiện, từ tháng 1.2006 Bat-Vinataba ký hợp đồng với
Cty Bat Marketing-Singapore (Bat MS) về cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ như: Quản lý
cấp loại, chất lượng và tính ổn định của nguyên liệu thuốc lá; kế hoạch nhu cầu và thay
thế lá thuốc lá (bao gồm cả việc quản lý nguyên liệu lá thuốc và gia liệu từ nhà cung cấp
trong nội bộ Tập đoàn Bat hay các bên cung cấp thứ ba). Duy trì công thức pha trộn
Giá cả chi phí được thanh toán là: 0,25USD/1 kg thuốc lá sợi để sản xuất các loại thuốc lá
mang nhãn hiệu BAT 9 trong 2 năm đầu) và 0,50USD/kg cho các năm tiếp theo.
Bat-Vinataba đã hoạch toán chi phí này vào giá vốn hàng bán để giảm thu nhập chịu
thuế thu nhập DN trong 4 năm (từ năm 2002 đến 2008) tổng cộng hơn 217 tỉ đồng.
Nhưng Cty đã không chứng minh được các chứng từ thể hiện Bat-MS đã thực hiện các
dịch vụ này. Đồng thời khoản chi phí này đã làm gia tăng thêm khoản chi cho nhà cung
cấp nguyên liệu nước ngoài là Bat-MS ngoài giá bán nguyên liệu thuốc lá nhập khẩu.
Đây là khoản Cty cố tình chuyển thu nhập từ Cty chịu thuế suất cao sang Cty liên kết có
thu nhập chịu thuế suất thấp ở nước ngoài, nên không thể chấp nhận là khoản chi phí hợp
lý.
3
Chuyển giá thông qua các TSCĐ hữu hình như định giá thật cao các TSCĐ chuyển
giao cho các công ty thành viên tại các quốc gia có thuế suất cao. Giá chuyển giao được
xác định cao hơn nhiều lần so với giá trị thật của tài sản đó. Thông qua hoạt động chuyển
giao tài sản này thì các MNC đã chuyển một phần thu nhập ra nước ngoài, các DN sẽ

suất tiền vay cao đồng nghĩa với việc giá thành cao, giảm lợi nhuận, thuế TNDN giảm.
Cũng có trường hợp, công ty mẹ ở nước ngoài đứng ra bảo lãnh cho MNC ở Việt Nam
vay vốn với chi phí bảo lãnh rất cao.
4
http://tapchithue.com.vn/dien-dan-nghiep-vu/159-dien-dan-nghiep-vu/711-chong-chuyen-gia-chi-rieng-nganh-thue-la-chua-du.html
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 8
PHẦN II: CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng hoạt động chuyển giá tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình thu hút FDI của Việt Nam thời gian qua
Với chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, trong những năm qua, Việt Nam đã
thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhờ đó,
các dự án đầu tư nước ngoài đã không ngừng tăng lên cả về số lượng lẫn quy mô, góp
phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế đất nước tăng trưởng và phát triển.
Biểu đồ 1: Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam từ năm 1988 - 2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê (1988 – 2010) – Cục Đầu tư nước ngoài (2011 – 2012)
5
Sau gần 25 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời, Việt Nam đã đạt được nhiều
thành công trong thu hút FDI. Đỉnh điểm của giai đoạn này là năm 2008 với 64 tỷ USD
vốn đăng ký đạt được
6
. Bước sang năm 2010 và 2011, lạm phát cao cũng như nền kinh tế
tụt hạng năng lực cạnh tranh đã khiến nhà đầu tư bớt hứng thú đầu tư vào Việt Nam, năm
2011 tổng lượng vốn đăng ký chỉ đạt 14,7 tỷ USD. Bảy tháng đầu năm 2012, vốn FDI
đăng ký đạt 8,03 tỷ USD, bằng 66,9% so với cùng kỳ năm 2011.
7
Lượng vốn FDI vào Việt Nam đã có nhiều đóng góp nổi bật trong quá trình phát triển
đất nước. Từ năm 2001 đến năm 2011, thông qua các loại thuế, các doanh nghiệp FDI đã
nộp hơn 15,5 tỷ USD vào ngân sách nhà nước; tổng sản phẩm của doanh nghiệp FDI
chiếm tới 20% GDP; trung bình mỗi năm từ 2000 đến 2010 giải quyết việc làm cho
khoảng hơn 1 triệu lao động. Ngoài ra, FDI cũng giúp đẩy mạnh xuất khẩu (mặc dù tăng

trên thực tế, các doanh nghiệp này đều có công ty mẹ tại nước ngoài và hàng sản xuất ra
99% là xuất khẩu sang nước thứ ba.
9
Thực trạng này diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương thu hút FDI lớn, như Hà
Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương,… Điển hình tại Bình Dương, số doanh nghiệp FDI kê
khai lỗ năm 2010 là 754/1.490 DN, chiếm tỷ trọng 50,6%, trong đó có tới 200 doanh
nghiệp lỗ quá vốn chủ sở hữu; tại Đồng Nai, tỷ lệ số doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lần
lượt là 52,2%; tại TP. Hồ Chí Minh, số lượng doanh nghiệp FDI chỉ chiếm khoảng 3%
tổng số doanh nghiệp trên địa bàn nhưng số tiền mà khối doanh nghiệp này khai báo lỗ
chiếm đến hơn 20% tổng số tiền mà các doanh nghiệp trên địa bàn khai báo lỗ; số doanh
nghiệp FDI khai báo lỗ trên 4 năm chiếm trên 50%.
9
http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1372&Style=1&ChiTiet=57088
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 11
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
Biểu đồ 2: Số lượng các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ và lãi trên địa bàn TP. Hồ Chí
Minh qua các năm
Nguồn: Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh
10
Các doanh nghiệp FDI báo cáo thua lỗ nhưng vẫn mở rộng đầu tư
Có thể kể đến những trường hợp điển hình, như Metro Cash & Carry Việt Nam khai
lỗ từ năm 2001 đến 2009 là 1.157 tỉ đồng, đứng đầu bảng trong danh mục các doanh
nghiệp FDI khai lỗ. Thua lỗ nhưng doanh nghiệp này vẫn tiếp tục khai trương trung tâm
bán sỉ thứ 19 của mình tại Việt Nam, có tổng diện tích bán hàng lên tới 5.100 m2. Trong
các năm 2010, 2011 và 2012, Metro đã xây dựng bốn trung tâm mới mỗi năm.
Hoặc Coca Cola, số lỗ luôn ở mức trên 100 tỷ đồng/năm trong vòng 10 năm qua, có
năm gần bằng 1/3 doanh thu. Nhưng kế hoạch mới công bố cho thấy Coca Cola sẽ tiếp
tục rót thêm 300 triệu USD vào Việt Nam trong 3 năm tới, đưa tổng vốn đầu tư vào thị
trường này lên nửa tỷ USD trong vòng 5 năm.
11

thể là chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình (như máy móc, thiết bị, công
nghệ) hoặc vô hình (định giá thương hiệu) giữa các bên liên kết; hay chuyển giá thông
qua các chuyển giao dịch vụ, chi phí giữa các bên liên kết; chuyển giá qua khâu xác định
vốn góp trong các liên doanh; chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất. Các hình thức
chuyển giá này sẽ được phân tích cụ thể dưới đây.
2.2 Một số hình thức chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam
2.2.1 Chuyển giá qua khâu xác định giá trị vốn góp trong các liên doanh
Tình trạng nâng giá tài sản góp vốn mang lại sự thiệt hại cho cả 3 đối tượng là phía
liên doanh góp vốn Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và cả người tiêu dùng Việt Nam. Bên
liên doanh Việt Nam bị thiệt trong phần vốn góp, làm cho tỷ lệ góp vốn nhỏ lại; Chính
phủ Việt Nam bị thất thu thuế; còn người tiêu dùng Việt Nam phải tiêu dùng sản phẩm
với giá cả đắt hơn giá trị thực tế của sản phẩm.
Điển hình như, một khách sạn liên doanh giữa Tổng công ty Du lịch Sài Gòn và Vina
Group đã xác định giá trị đưa vào góp vốn của Vina Group là 4,34 triệu USD. Nhưng
theo sự thẩm định giá của công ty giám định giá thì giá trị tài sản góp vốn của Vina
Group chỉ có giá trị là 2,99 triệu USD. Như vậy, trong nghiệp vụ định giá trị góp vốn liên
doanh này, phía Việt Nam đã bị thiệt hại 1,35 triệu USD, tương đương 45,2%.
12
http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/quantri/72326/Dau-dau-chong-chuyen-gia.html
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 13
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
Do nâng giá trị tài sản góp vốn nên tỷ lệ vốn cao hơn phía Việt Nam, vì vậy bên đối
tác nước ngoài thường sẽ nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp. Đối tác nước
ngoài sẽ điều hành công ty theo mục đích của họ để cho tình hình thua lỗ kéo dài và bên
liên doanh Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động đành phải bán lại
phần vốn góp và hàng loạt các công ty liên doanh trở thành công ty 100% vốn nước
ngoài.
2.2.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ
Bên cạnh việc nâng giá trị tài sản vốn góp khi tiến hành liên doanh thì các công ty đa
quốc gia còn thực hiện việc chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu

2.2.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường
Các công ty đa quốc gia (Multinational corporation – MNC) khi đi vào đầu tư kinh
doanh tại một quốc gia thì họ thường sẽ thích liên doanh với một công ty nội địa hơn là
vào đầu tư thẳng là công ty 100% vốn nước ngoài. Nguyên nhân là các MNC này muốn
sử dụng hệ thống phân phối và thị phần có sẵn của các công ty nội địa. Sau một thời gian
liên doanh thì các MNC này sẽ dùng các thủ thuật khác nhau, trong đó có thủ thuật
chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công ty liên doanh thành công ty 100%
vốn nước ngoài.
Có rất nhiều chiêu thức mà các hãng ngoại đưa ra để tăng cường quyền lực và đạt các
mục tiêu lợi ích sau khi liên doanh được thành lập. Với những liên doanh cùng ngành
nghề, chuyển giá là hiện tượng phổ biến khi phía nước ngoài thường yêu cầu Việt Nam
tiêu thụ một số sản phẩm của mình. Chiêu thức này khá giống với mối quan hệ hợp tác
giữa Lotte và Bibica.
Ngày 04/10/2007, Lễ ký kết Hợp đồng Hợp tác chiến lược giữa Bibica và Lotte đã
diễn ra, theo chương trình hợp tác, Bibica đã chuyển nhượng cho Lotte 30% tổng số cổ
phần (khoảng 4,6 triệu cổ phần). Tập đoàn Lotte – Hàn Quốc là 1 trong những tập đoàn
bánh kẹo lớn nhất tại Châu Á, sau khi trở thành đối tác chiến lược, Lotte hỗ trợ Bibica
trong lĩnh vực công nghệ, bán hàng và tiếp thị, nghiên cứu phát triển; phối hợp với Bibica
thực hiện dự án Công ty Bibica miền Đông giai đoạn 2 (Bình Dương) tạo điều kiện giúp
Bibica mở rộng và phát triển kinh doanh trong lĩnh vực bánh kẹo và trở thành một trong
những công ty sản xuất kinh doanh bánh kẹo hàng đầu Việt Nam. Đồng thời, Lotte cung
cấp cho Bibica sự hỗ trợ thương mại hợp lý để Bibica nhập khẩu sản phẩm của Lotte,
phân phối tại Việt Nam, cũng như giúp Bibica xuất khẩu sản phẩm sang Hàn Quốc.
13
Niềm tin càng được củng cố khi những cam kết bước đầu đã được thực hiện. Lợi
nhuận năm 2009 của BBC tăng hơn 170% so với năm 2008. Không lâu sau đó, Lotte đã
gia tăng tỉ lệ sở hữu tại BBC thêm gần 6% nữa.
13
Website: bibica.com.vn
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 15

Lotte: Bibica là bàn đạp để thâm nhập thị trường, 2012
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 16
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
Tuy nhiên, trước sức ép tăng vốn thêm 10 triệu USD, việc doanh nghiệp tư nhân sản xuất
và thương mại Minh Vân quyết định bán lại 20% cổ phần ngay trong thời điểm này được
xem là phương án khả thi nhất. Lotte được chính thức trở thành nhà đầu tư có 100% vốn
nước ngoài, tức là được hoàn toàn chủ động trong các chiến lược kinh doanh tại thị
trường Việt Nam sau khi đã có bước tiến đáng kể trong thị trường bán lẻ nhờ sự hợp tác
với Minh Vân. Lotte thẳng tiến thâm nhập vào thị trường bán lẻ.
2.2.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất
Động cơ của hành vi chuyển giá, không gì khác, chính là lợi nhuận của hoạt động
kinh doanh xét trên phương diện tổng thể. Việc xác định giá giao dịch giữa các thành
viên của các bên liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi
tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị
điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Chẳng hạn như, công ty B và C
đều là công ty con của tập đoàn A. Công ty B áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp 25%. Công ty C kinh doanh ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn nên được áp dụng
mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%. Khi B cung cấp vật tư cho C với giá thấp
hơn giá thị trường giao dịch sòng phẳng thì làm cho lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh
nghiệp của B giảm đi, còn lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của C tăng lên
tương ứng. Phần lợi nhuận tăng lên ở công ty C chỉ phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
với thuế suất 10%. Nếu bán đúng giá thị trường thì phần lợi nhuận này nằm ở công ty B
và phải chịu thuế suất 25%. Như vậy, nếu xét riêng biệt thì công ty B thiệt, còn công ty C
được lợi. Nhưng xét tổng thể thì tổng thuế phải nộp của cả hai công ty đã giảm đi.
Ví dụ trên cho thấy chuyển giá xuất hiện khi có những điều kiện nhất định. Đó là: Sự
chênh lệch về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc gia khác nhau; Có quy
định nhiều mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với những đối tượng khác nhau
trong một quốc gia, chẳng hạn như quy định các mức thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất
phổ thông; Có các quy định về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn.
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của Việt Nam tương đối cao so với

tế, chứ chưa có giải pháp chống chuyển giá nội địa.
17
Với sự ra đời của Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010, lần đầu tiên ở Việt
Nam một văn bản pháp lý về chống chuyển giá được áp dụng cho tất cả các loại hình
doanh nghiệp, cả doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp khác. Thêm vào đó, những hạn
chế, bất cập của Thông tư 117/2005/TT-BTC đã được khắc phục. Về cơ bản, các quy
định và các phương pháp xác định giá thị trường của Thông tư 66/2010/TT-BTC đã phù
hợp với thông lệ quốc tế. Theo Thông tư này, có 5 phương pháp xác định giá thị trường
16
Pháp luật thành phố HCM, Thuế khổ vì các chiêu chuyển lỗ, 2012
17
Ts. Lê Xuân Trường, Chống chuyển giá ở Việt Nam
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 18
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
là: Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập; Phương pháp giá bán lại; Phương pháp giá
vốn cộng lãi; Phương pháp so sánh lợi nhuận; Phương pháp tách lợi nhuận.
Ở một cấp độ pháp lý cao hơn, Điểm e Khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế quy định
cơ quan thuế có quyền ấn định thuế khi người nộp thuế “Mua, bán, trao đổi và hạch toán
giá trị hàng hoá, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường”. Quy
định này không hoàn toàn xử lý vấn đề chuyển giá, song cũng tạo ra căn cứ pháp lý nhất
định để xử lý vấn đề chuyển giá.
Như vậy, có thể thấy, nỗ lực đầu tiên đáng ghi nhận của các cơ quan quản lý nhà nước
thời gian qua là việc đã thiết lập và dần dần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động
chống chuyển giá, tạo những cơ sở nhất định cho hoạt động của ngành Thuế trong đấu
tranh chống chuyển giá của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI.
Trên nền tảng pháp lý đó, trong những năm qua, ngành Thuế đã có nhiều cố gắng
trong việc đấu tranh chống chuyển giá, mà trọng tâm là chống chuyển giá đối với các
doanh nghiệp FDI. Một trong những biện pháp quan trọng trong thực tiễn chống chuyển
giá đối với các doanh nghiệp FDI là tập trung thanh tra các doanh nghiệp liên tục kê khai
lỗ kéo dài mà vẫn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh. Qua thanh tra bước đầu đã phát

hiệu quả cao ngay được.
Việc thu thập, sàng lọc thông tin trong bối cảnh các giao dịch quốc tế đa dạng,
phức tạp trên phạm vi toàn cầu. Không phải tất cả các cơ quan thuế các nước đều sẵn
sàng hợp tác để cung cấp thông tin, và cũng không phải lúc nào họ cũng có thông tin để
cung cấp và cung cấp kịp thời. Trong khi đó, muốn xác định giá chuyển giao theo các
nguyên tắc chống chuyển giá mà pháp luật quy định thì phải thu thập đầy đủ thông tin,
nếu không có thông tin thì không thể xác định được giá chuyển giao.
Hành vi chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tinh
vi, phức tạp, do vậy thời gian để xử lý giải quyết cho một vụ việc chuyển giá thường bị
kéo dài. Một trong những khó khăn lớn, đó là căn cứ xử lý về ấn định giá vì cơ quan thuế
rất khó xác định giá giao dịch thông thường trên thị trường (giá thỏa thuận khách quan
giữa các bên không có quan hệ liên kết). Hiện nay, việc xác định quan hệ liên kết rất khó
khăn, sự mua, bán có thể diễn ra qua các khâu trung gian (ngoài các đối tượng liên kết
theo quy định tại Thông tư 66) theo sự chỉ định của nhà đầu tư mà cơ quan quản lý Nhà
nước chưa có văn bản để chế tài. Mặt khác, hàng hóa lại rất đa dạng, giá cả còn tùy thuộc
vào uy tín nhãn hiệu, thị hiếu người tiêu dùng… Do đó, việc quy định cùng mặt hàng
trong việc xác định giá cả là chưa phù hợp, cần phải có tiêu chí xác định cho từng ngành
nghề cụ thể…
Quy định về kê khai thông tin giao dịch liên kết chưa thực sự giảm thiểu gánh
nặng thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp có hành vi chuyển
giá thông qua các giao dịch liên kết có giá trị nhỏ sẽ ảnh hưởng không đáng kể đến số thu
ngân sách nhà nước và lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo quy định
Nhóm 7 – Lớp TCDN Đêm 4.K21 20
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Chuyển giá
hiện hành của Việt Nam, doanh nghiệp vẫn phải xác định giá thị trường và kê khai đối
với giao dịch liên kết có giá trị nhỏ trong khi chi phí và thời gian xác định giá thị trường,
kê khai với cơ quan thuế là đáng kể và không thấp hơn đối với việc xác định giá thị
trường và kê khai giao dịch lớn.
b. Bất cập trong quản lý
Cuộc “đấu tranh” chống hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp trong thời gian


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status