I. ĐẶT VẤN ĐỀ :( Lý do chọn đề tài )
Trong xã hội hiện đại, TDTT được coi là một trong những phương tiện
quan trọng nhất để phát triển con người một cách toàn diện ( Đức -Trí - Thể -
Mỹ). Trong những năm gần đây cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành Thể
dục thể thao Việt Nam cũng có những thay đổi theo xu hướng phát triển của
thời đại. Chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới công tác giáo dục và đào
tạo để đáp ứng những yêu cầu cấp bách của xã hội, phấn đấu Thể dục thể thao
sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu và yếu kém trong khu vực, tạo nền tảng cho
sự phát triển nhanh và nhảy vọt.
Tại Đại hội X, Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “ Giáo dục và
Đào tạo là quốc sách hàng đầu. Phát triển Giáo dục là động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững”.
Điều đó càng chứng tỏ trách nhiệm to lớn của ngành Giáo dục và Đào
tạo, của các nhà trường và toàn xã hội, phải đảm bảo phát triển con người một
cách toàn diện cả về thể chất lẫn trí tuệ. Giúp thế hệ trẻ có kiến thức ngang
tầm với thời đại, có tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành giỏi, có ý thức vươn
lên trong học tập, có sức khoẻ tốt để có thể làm chủ đất nước trong tương lai.
Chỉ thị 36-CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Chấp Hành TW Đảng
Cộng Sản Việt Nam về công tác giáo dục Thể dục thể thao đã nêu rõ: “ Mục
tiêu cơ bản và lâu dài của công tác giáo dục Thể dục thể thao là hình thành
nền Thể dục thể thao phát triển, tiến bộ. Góp phần nâng cao sức khoẻ thể lực,
đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần của nhân dân, phấn đấu đạt vị trí xứng
đáng trong hoạt động Thể thao quốc tế, trước hết là khu vực Đông Nam Á”.
Do vậy, giáo dục sức khoẻ cho con người là một trong những nội dung
quan trọng không chỉ của ngành Giáo dục và Đào tạo mà còn là mối quan tâm
của toàn xã hội. Với mục đích: “Đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành
một con người mới, có sức khoẻ tốt, có thể lực cường tráng, có dũng khí kiên
cường, để tiếp tục sự nghiệp của Đảng một cách đắc lực và sống một cuộc
sống vui tươi lành mạnh”.
9 chỉ có 75 - 80% số học sinh đạt còn lại là chưa đạt.
2
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục thể chất. Là một giáo viên
trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn các em rèn luyện phát triển thể chất, qua thực
tế công tác tại trường, tôi luôn trăn trở làm thế nào để các em học sinh nữ chủ
động, sáng tạo, tích cực tập luyện trở thành những người có sức khoẻ tốt, có
tri thức, có đạo đức và thành người có ích cho xã hội.
Từ thực trạng nêu trên, kết hợp với kiến thức và kinh nghiệm của bản
thân, của đồng nghiệp trong những năm học tập và công tác tại trường, để đưa
chất lượng giảng dạy và học tập môn thể dục nói chung và nội dung nhảy xa
nói riêng tôi đã mạnh dạn cải tiến phương pháp tập luyện để giúp học sinh
học tập nội dung nhảy xa đạt kết quả cao hơn.
2/ PHƯƠNG PHÁP VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Để giải quyết đề tài trên bản thân tôi đi sâu vào nghiên cứu hai nhiệm
vụ chính là:
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu thực trạng học sinh nữ khối lớp 9 trường THCS
Vĩnh Thịnh, tập luyện nội dung nhảy xa.
Nhiệm vụ 2: Phương pháp tập luyện và hiệu quả của phương pháp tập
luyện nội dung nhảy xa, của học sinh nữ khối lớp 9 trường THCS.
Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tôi sử dụng hai nhóm phương
pháp sau:
* Nhóm phương pháp lý thuyết:
- Phương pháp phân tích:
Trên cơ sở nhận xét thực trạng của học sinh nữ lớp 9 học nội dung nhảy
xa ở trường THCS Vĩnh Thịnh, sự góp ý của đồng nghiệp.
- Phương pháp tổng hợp tài liệu:
Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài. Nhằm
mục đích tìm hiểu cơ sở lý luận tổng hợp ở tất cả các tài liệu cần thiết để đưa
ra phương hướng giải quyết đề tài.
thuật thực hiện động tác, thành tích đạt được trước khi nghiên cứu. Qua đó
đưa ra nhận định và phương pháp tập luyện cho học sinh thích hợp để đạt
hiệu quả cao nhất.
4.2. Quan sát và trò chuyện cùng học sinh.
Quan sát học sinh tập luyện nội dung nhảy xa, trò chuyện cùng với học sinh.
Từ đó thấu hiểu tâm lý và sự quan tâm của các em về nội dung nhảy xa trước
và sau khi thực nghiệm.
4.3. Đưa các bài dạy thực nghiệm và đối chứng vào tiết dạy.
4
Thực hiện công việc này nhằm tìm ra được phương pháp dạy và học tập
có hiệu quả nhất, từ đó rút ra kết luận về việc áp dụng phương pháp đổi mới
của bản thân.
5. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
* Điều tra thực trạng học sinh học nội dung nhảy xa kiểu “Ngồi”.
Thực hiện được công việc này thực chất chúng ta đã giải quyết xong
nhiệm vụ 1. Nhảy xa là hoạt động hết sức cơ bản và rất cần thiết đối với cuộc
sống con người. Để phát triển thể chất cho con người, ngay từ thời xa xưa,
người ta đã coi nhảy xa là phương tiện giáo dục thể chất hết sức quan trọng.
Tuy vậy, xuất phát từ tình hình thực tế của nhà trường cũng như của học sinh
hiện nay. Trong quá trình giảng dạy và kiểm tra kỹ thuật nhảy xa kiểu “Ngồi”.
Tôi thấy học sinh thường thực hiện động tác mà không nắm vững cơ sở lý
thuyết kỹ thuật, coi thường môn học, vì thế kết quả đạt được chưa cao nếu
không nói là còn thấp.
Vì vậy là một giáo viên dạy bộ môn Thể dục trong nhà trường, tôi luôn
trăn trở để tìm ra những phương pháp mới. Qua tham khảo tài liệu, học hỏi ở
đồng nghiệp và đặc biệt là qua thực tế giảng dạy tại trường tôi đã áp dụng một
số phương pháp tập luyện và những bài tập, nhằm nâng cao kĩ thuật và thành
tích nhảy xa của học sinh nữ khối lớp 9 .
Trước khi áp dụng những bài tập và phương pháp mới, tôi chọn 10 học
được (cm)
1 Trương Lan Anh 5 - 6 265
2 Phạm Mỹ Chinh 5 - 6 230
3 Trịnh Kim Xuyến 5 - 6 288
4 Huỳnh Như Ý 7 - 8 270
5 Nguyễn Bảo Ngân 5 - 6 268
6 Mã Mỹ Tho 5 - 6 270
7 Nguyễn Hồng Mơ 5 - 6 270
8 Trần Kim Ngân 3 - 4 228
9 Nguyễn Kiều Trinh 3 - 4 215
10 Dương Kim Trí 7 - 8 290
(Nhóm thực nghiệm A
2
)
TT Họ và tên Kỹ thuật đạt được Thành tích đạt được (cm)
1 Thạch Thị Na 7 - 8 285
2 Võ Kim Quyên 3 - 4 227
3 Tô Tài Linh 5 - 6 273
4 Sơn Thị Ngọc Kiều 7 - 8 290
5 Trần Bích Thảo 3 - 4 225
6 Phan Thị Nguyệt 7 - 8 285
7
Nguyễn Thị Ngọc Hiếu
5 -6 267
8 Dương Kim Nghía 5 - 6 270
9 Trương Gia Huệ 3 - 4 266
10 Nguyễn Kim Đổi 5 - 6 268
6
Sau khi tôi tiến hành kiểm tra ban đầu thì thấy thành tích và kỹ thuật
nhảy. Góc độ giậm nhảy phải hợp lý đạt từ 70-80
0
( số 6, H13a )
a) b)
Hình 13
Nếu góc độ giậm nhảy lớn hoặc nhỏ quá sẽ ảnh hưởng đến thành tích . Trên
hình 14, khi người nhảy giậm nhảy với góc độ
µ
2
đúng góc độ giậm nhảy sẽ
7
đạt thành tích xa nhất, khi giậm nhảy với góc độ
µ
1
hoặc
µ
3
chưa đúng góc độ
giậm nhảy, do vậy thành tích thấp hơn.
Hình 14
Từ cơ sở của lý thuyết, kết hợp với động tác mẫu của giáo viên các em
nắm vững kiến thức và biết vận dụng vào thực hành, tạo cho các em tính hứng
thú trong học tập, từ đó thực hiện đúng kỹ thuật động tác, thành tích sẽ được
nâng cao. Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng là
một trong những phương tiện để đạt được hiệu quả học tập cao hơn.
* Phương pháp tập luyện và hiệu quả tập luyện của hai nhóm.
Muốn đổi mới phương pháp tập luyện, trước tiên phải đổi mới phương
- Luyện tập nâng cao dần yêu cầu.
- Trò chơi và thi đấu.
- Trực quan gián tiếp (xem tranh ảnh), băng hình qua giáo án điện tử.
- Sửa sai và giúp đỡ.
6.NHỮNG KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ THỰC NGHIỆM:
*Đặc biệt trong quá trình tập luyện cho học sinh hình thành giai đoạn
bước bộ trên không tôi sử dụng bục giậm nhảy, để tăng độ cao của cơ thể so
với hố cát. Từ đó học sinh có thời gian trên không được lâu hơn để hình thành
động tác bước bộ trên không, để củng cố giai đoạn giậm nhảy và giai đoạn
trên không, tôi vận dụng bài tập giậm nhảy vượt chướng ngại vật ( sử dụng xà
ngang, cột nhảy cao) để đạt được đúng góc dộ giậm nhảy( 70-80
0
) và thu cao
2 gối hình thành tư thế ngồi xổm trên không. Bên cạnh đó tôi luôn áp dụng
phương pháp chia nhóm tập luyện, quay vòng để tăng cường lượng vận động,
các em sẽ có thời gian tập luyện nhiều hơn, giảm được thời gian chờ đợi,
đồng thời cũng phát huy được khả năng tự quản của học sinh trong giờ học.
Trước khi chia nhóm tập luyện, tôi thường đưa ra yêu cầu về kỹ thuật và an
toàn, hướng dẫn cho học sinh về đội hình tập luyện và các khẩu lệnh Đưa
những điều này thành một trong những nội dung thi đua cho từng tổ để các
em tự kiểm tra đánh giá lẫn nhau. Điều quan trọng hơn là phải đảm bảo an
toàn cho các em trong tập luyện và thi đấu.
9
7/ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG
Áp dụng những phương pháp và các bài tập trên, sau 7 tuần tập luyện
tôi đã kiểm tra và thu được kết quả như sau:
Bảng 2: KẾT QUẢ KIỂM TRA SAU THỰC NGHIỆM
(Nhóm đối chứng A
1
9 Trương Gia Huệ 7 - 8 272
10 Nguyễn Kim Đổi 7 - 8 273
* Tính theo tỷ lệ % kết quả của 2 nhóm sau thực nghiệm :
Nhóm đối chứng A
1
Số
lượng
Yếu Trung bình Khá Giỏi
SL % SL % SL % SL %
10 01 10 03 30 04 40 02 20
10
Nhóm thực nghiệm A
2
Số
lượng
Yếu, kém Trung bình Khá Giỏi
SL % SL % SL % SL %
10 0 0 02 20 04 40 04 40
III. KẾT LUẬN:
So sánh kết quả của hai nhóm, nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
thì ta thấy phương pháp tập luyện của nhóm thực nghiệm có tính ưu việt hơn
phương pháp tập luyện của nhóm đối chứng và có giá trị áp dụng vào thực
tiễn trong giảng dạy nội dung Nhảy xa ở trường THCS .
Qua kết quả thu được ta thấy nhóm đối chứng A
1
thành tích và kỹ thuật
thấp hơn so với nhóm thực nghiệm A
2,