sự đa dạng thành phần loài và phân bố của tảo lục phù du ở sông hương và sông bồ, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 24

1
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Tảo phù du là một nhóm thực vật bậc thấp phong phú về thành phần loài và đa
dạng về cấu trúc,chúng có kích thước hiển vi, dạng đơn bào hay tập đoàn, sống trôi
nổi trong nước và có khả năng quang hợp. Trong thủy vực, tảo phù du có vai trò là
sinh vật sản xuất, mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn, là nguồn thức ăn cho nhiều
loài sinh vật thủy sinh, góp phần làm sạch nước tự nhiên và trong nhiều trường hợp,
chúng được dùng làm sinh vật chỉ thị ô nhiễm hữu cơ trong thủy vực.
Trong các ngành tảo thì tảo Lục được xem là ngành lớn nhất với số lượng loài
phong phú và phân bố rộng khắp trên toàn cầu, từ vùng ôn đới đến nhiệt đới; từ môi
trường nước ngọt, nước lợ đến nước biển. Ở Việt Nam, nghiên cứu điều tra cơ bản
về tảo Lục thường được tiến hành cùng với các nhóm tảo khác. Hiếm có những
chuyên khảo về tảo Lục theo vùng, miền hay trong các hệ sinh thái đặc trưng.
Dòng sông Hương ở Thừa Thiên Huế không những nổi tiếng bởi vẻ thơ mộng
đã đi vào thơ ca mà còn nổi tiếng với số loài động thực vật thủy sinh đa dạng và
phong phú. Hệ thống sông Hương có lưu vực dạng hình nan quạt với diện tích lưu
vực 2.830km
2
, chiếm gần 3/5 diện tích tự nhiên của tỉnh, chiều dài sông 104km.
Sông Bồ là phụ lưu cấp I của Sông Hương, bắt nguồn từ vùng núi A Sầu phía tây
tỉnh Thừa Thiên Huế, ở độ cao 900m, chảy theo hướng đông nam - tây bắc đổ
vào bờ trái sông Hương, cách cửa sông 9km. Sông Bồ có chiều dài 94 km, diện
tích lưu vực 938km
2
; cao trung bình 384m, độ dốc trung bình 27,4%, mật độ
sông suối 0,64km/km
2
, tổng lượng nước 0,95km
3
[18]. Hệ thống sông này có vai

Thừa Thiên Huế, từ đó làm cơ sở cho việc đánh giá đa dạng sinh học thủy sinh vật
tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bước đầu đánh giá tình trạng dinh dưỡng lưu vực sông Hương và sông Bồ tại
các điểm nghiên cứu thông qua sự hiện diện của tảo Lục phù du.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, luận văn này gồm có 3 chương, nội
dung của từng chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tài liệu. Giới thiệu qua về vị trí của ngành tảo Lục trong hệ
thống phân loại tảo; hệ thống phân loại tảo Lục; đặc điểm chung của ngành tảo Lục;
vai trò của tảo Lục và tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có
liên quan.
3
Chương 2:Phương pháp nghiên cứu. Chương này đề cập đến đối tượng nghiên
cứu, thời gian; địa điểm và tóm tắt các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong quá
trình thực hiện đề tài.
Chương 3: Kết quả và thảo luận. Trình bày các kết quả đạt được sau quá trình
nghiên cứu đề tài.
4
Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Ngành tảo Lục - Chlorophyta
1.1.1. Vị trí của tảo Lục trong hệ thống phân loại tảo
Trên thế giới hiện nay vẫn chưa có được một quan điểm nhất quán về hệ thống
phân loại tảo nói chung, tùy theo từng tác giả mà sự phân loại, sắp xếp các taxon
của tảo có sự khác nhau. Dưới đây là một số quan điểm phân loại tảo trên thế giới:
Vào thế kỷ XVII, Carlvon Linné (1754) chia giới thực vật làm 25 lớp, trong đó
ông xếp tảovào một lớp cùng với nấm, dương xỉ và địa y. Thời kỳ đó chưa có khái
niệm phân chia sinh giới với tế bào có nhân hoặc không nhân. Toàn bộ những thực
vật nhỏ bé, có màu, sống ở nước hoặc những nơi có độ ẩm được gọi là tảo [9].
Năm 1836 Harvey đã thừa nhận 4 nhóm tảo lớn là tảo nâu, tảo đỏ, tảo lục và tảo
silic, màu của chúng là sự biểu hiện của sắc tố khác nhau [12].

ngành. Đáng chú ý là ngành Chromophycota là ngành lớn gồm 9 lớp, trong đó một
số lớp trước đó từng là các ngành riêng biệt, chẳng hạn như lớp Phaeophyceae,
Dinophyceae, Cryptophyceae [9].
Với hệ thống của van den Hoek vàcs.(1998)tảo được xếp thành 11 ngành trong
đó nhóm nhân sơ có 2 ngành Cyanophyta và Prochlorophyta. Đặc biệt theo các tác
giả, ngành Heteronkotophyta được xây dựng với nhiều lớp khác nhau bao gồm các
sinh vật rất đa dạng, từ tảo Nâu với cấu trúc tản phát triển, kích thước lớn, thậm chí
dài hơn 50m đến các tảo kích thước hiển vi như tảo Silic, tảo Vàng. Theo ông, tất cả
các thành viên của ngành này đề có sự giống nhau về vi cấu trúc và đặc điểm sinh
hóa học[21].
Lee (1999) đã chia tảo thành 9 ngành và phân bố thành 4 nhóm dựa vào sự tiến
hóa của lục lạp. Với hệ thống này, tảo gồm 8 ngành: i) nhóm tiền nhân (Cyano-
bacteria), ii) nhóm không có lưới nội sinh chất lục lạp (Glaucophyta, Rhodophyta,
Chlorophyta), iii) nhóm có một lưới nội sinh chất lục lạp (Euglenophyta, Di-
nophyta), iv) nhóm có 2 lưới nội sinh chất lục lạp (Heterokontophyta, Haptophyta,
Cryptophyta) [29].
Theo Gramham và Wilcox (2000) những kết quả nghiên cứu về trình tự sắp xếp
phân tử đã tạo được cơ sở cho nhận định về sự tồn tại của 8 đến 9 dòng tảo mà từ đó
thiết lập nên các ngành tảo với số lượng ngành cũng tương ứng số dòng này. Đó là
ngành Cyanobacteria, Glaucophyta, Euglenophyta, Cryptophyta, Haptophyta, Dino-
6
phyta, Ochromophyta, Rhodophyta và Chlorophyta. Phân ra các ngành cũng như
quan hệ giữa các tảo này được thực hiện dựa trên phân tích trình tự gen của
ribosome đơn vị 18S[23].
Như vậy, dù có nhiều quan điểm nhưng đa số thống nhất tảo Lục là một ngành và
được ghi nhận ngay từ khi nghiên cứu về phân loại tảo bắt đầu. Nếu như sự phân
loại tảo ở các thế kỷ trước đây chủ yếu dựa vào hình thái cấu trúc tế bào, đặc điểm
của tế bào sinh sản và chu trình sinh sản của chúng thì ngày nay, sự phát triển của
khoa học và công nghệ cho phép nghiên cứu phân loại dựa trên các đặc điểm siêu
hiển vi hay sử dụng kỹ thuật gen giúp các nhà tảo học xác lập được cây hệ thống

 Bộ Chlorodendrales
 Lớp Chlorophyceae
 Bộ Volvocales
 Bộ Chlorococcales
 Bộ Chaetophorales
 Bộ Oedogoniales
 Lớp Ulvophyceae
 Bộ Codiolales
 Bộ Ulvales
 Lớp Cladophorophyceae
 Bộ Cladophorales
 Lớp Bryopsidophyceae
 Bộ Bryopsidales
 Bộ Halimedales
 Lớp Dasycladophyceae
 Bộ Dasycladales
 Lớp Trentepohliophyceae
 Bộ Trentepohliales
 Lớp Pleurastrophyceae
 Bộ Pleurastrales
 Bộ Prasiolales
 Lớp Klebsormidiophyceae
 Bộ Klebsormidiales
 Bộ Coleochaetales
 Lớp Zygnematophyceae
 Bộ Zygnematales
 Bộ Desmidiales
 Lớp Charophyceae
 Bộ Charales
 Gramham (2000)[23] đã dựa vào đặc điểm của bộ máy roi để phân chia các lớp

• Oocystaceae
• Microthamniales
• Trebouxiales
• Prasiola clade
 Chlorodendrophyceae
 Prasinophytes (paraphyletic)
• Pyramimonadales
• Mamiellophyceae
• Pycnococcaceae
• Nephroselmidophyceae
• Prasinococcales
• Palmophyllales
• Từ các dẫn liệu trên cho thấy, cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có được
một quan điểm nhất quán về hệ thống phân loại tảo Lục. Tùy theo quan điểm của
từng tác giả mà có sự sắp xếp các taxontrong hệ thống phân loại khác nhau.
• 1.1.3. Đặc điểm chung của ngành tảo Lục
• Ngành tảo Lục có khoảng 500 chi với 8.000 loài [9]. Tảo Lục gồm nhiều loài
phiêu sinh đơn bào hoặc tập đoàn. Bên cạnh đó, cũng gặp nhiều dạng đa bào sống
bám đáy thủy vực và các giá thể rắn vào thời kỳ đầu của vòng đời rồi sống trôi nổi.
• Tảo Lục chủ yếu sống ở nước ngọt, chỉ 10% sống ở biển. Phần lớn loài nước
ngọt thường có đặc điểm phân bố toàn cầu trong khi ở môi trường biển tuy cấu trúc
thành phần loài gần giống nhau ở các vùng nhiệt đới nhưng thành phần loài sống ở
các vùng biển lạnh giá Bắc và Nam bán cầu có sự khác biệt lớn. Ngoài ra, cũng gặp
một số tảo Lục sống khí sinh trên vỏ cây, đất và đá và ngay cả ở vùng núi cao nơi
thường xuyên phủ tuyết như loàiChlamydomonas nivalis[9].
• 1.1.3.1. Cấu trúc tế bào
• Tất cả tảo Lục đều có tế bào mang roi hoặc là ở cả pha dinh dưỡng và sinh
sản hay ở pha sinh sản, trừ tảo Lục tiếp hợp. Roi ở tảo Lục có cấu trúc giống nhau
mặc dù có thể khác nhau về kích thước và roi không phủ tơ roi vi ống 3 phần như ở
Heterolontophyta [9].

trừ trường hợp cấu trúc cơ thể dạng a-míp và có mô phân hóa cao, còn lại ở tảo Lục
các mức độ khác nhau về hình thái đều thể hiện rất đa dạng: từ hạt monas, dạng hạt,
dạng palmella, dạng sợi với nhiều kiểu khác nhau, dạng bản và không có cấu trúc
như tế bào bình thường vì có nhiều nhân.
• Hình thái tảo Lục gồm những dạng chính sau đây:
• - Tảo Lục có roi bao gồm kiểu đơn bào, kiểu tập đoàn; kiểu tập đoàn thường
có bao hoặc chất nhầy; tế bào sinh dưỡng có 2 roi, 4 hoặc 8 roi bằng nhau, 1 nhân ở
trung tâm, có 2 không bào co rút ở gần phần gốc roi. Lục lạp (có hoặc không có hạt
tạo bột) của hầu hết các loài có dạng hình chén, dạng chữ H, dạng hình sao, dạng
phiến hoặc phân chia thành nhiều đơn vị có dạng hình đĩa.
• - Tảo Lục dạng hạt, đơn độc có hình cầu, hình bán cầu, hình trứng, hình thận,
hình quả tim, hình quả lê, hình quả chanh hay elip mở rộng, hình thoi hay hình con
suốt, hình trụ, dạng điếu xì gà, hình kim, hình cái nêm, hình tháp; kiểu tập đoàn
thường tạo thành nhóm dạng ngôi sao có 4, 8, 16, 32 tế bào, tập đoàn dạng hình lá;
hình dạng tế bào trong mỗi tập đoàn khác nhau là không giống nhau.
• - Dạng đơn bào hay tập đoàn đôi khi thêm lông, gai hoặc sừng không chuyển
động thường có tên gọi phổ biến là những quả bóng nhỏ màu xanh, thoạt nhìn
những cơ thể này trông rất giống nhau nhưng chịu khó quan sát cẩn cận và chi tiết
thì sẽ khám phá rằng chúng có các đặc điểm về hình thái ổn định và riêng biệt, phân
chia ra làm nhiều chi khác nhau.
• Tảo Lục không chuyển động bao gồm nhiều loài và hiện diện ở khắp mọi nơi,
trên toàn thế giới. Tảo Lục đóng vai trò quan trọng trong các quá trình diễn thế sinh
thái.
• Tảo Lục tiếp hợp và bộ Desmidiales: đây là lớp tảo Lục rất đa dạng về hình
thái:
• - Kiểu tảo Lục tiếp hợp hoặc đơn bào hoặc có nhiều đơn vị tế bào liên kết lại
với nhau tạo thành sợi không phân nhánh; ở một vài chi đơn bào, các tế bào tập hợp
lại trong một bao nhầy chung rồi hình thành tập đoàn không theo quy luật.
• - Bộ Desmidiales gồm các loài có hình thái tế bào rất đặc sắc và vô cùng đa
dạng: tế bào từ dạng hình trụ, hình elip cho đến hình trụ kéo dài, thẳng hoặc cong;

dụng để bổ sung vào khẩu phẩn thức ăn của các loại gia cầm, ngoài ra cũng được sử
dụng hiệu quả trong nghề nuôi cá cảnh.
• Ngoài ra, tảo Lục còn được sử dụng như là một loại thực phẩm chức năng,
giúp bổ sung dinh dưỡng và có lợi ích trong việc điều trị ung thư. Chlorella hiện
đang được sử dụng như là một loại thực phẩm bổ sung, chứa tới 18 loại axit amin,
16 loại vitamin, 11 loại khoáng chất, nhiều loại men, hydrocacbonat, DNA và RNA,
đường, chất xơ, axit béo không no, omega-3, Chlorophyll và một thành phần độc
đáo là nhân tố tăng trưởng tự nhiên CGF, có tác dụng làm tăng cường interferon,
làm sạch máu, gan, thận và ruột, kích thích sinh sản tế bào hồng cầu, tăng oxy cho
các tế bào và não, trợ tiêu hóa, kích thích quá trình sửa chữa ở các mô; giúp tăng PH
máu để đạt trạng thái kiềm hơn; giúp giữ cho trái tim hoạt động bình thường; giúp
tăng cường sản phẩm của các khu hệ sinh vật trong đường tiêu hóa. Tất cả mọi
người đều dùng được các sản phẩm từ rong này để điều trị các căn bệnh như: mệt
mỏi kinh niên (fatigue), áp huyết cao, tim mạch, mất trí nhớ, cholesterol cao, lão
hóa da, ngộ độc máu, tuần hoàn máu kém, đau đầu, rối loạn giấc ngủ, sưng và đau
khớp, béo phì và các bệnh nhiễm trùng, dị ứng, chấn thương [43, 44].
• Sắc tố beta carotene được tìm thấy trong tảo Lục được sử dụng làm màu thực
phẩm và cũng có thể có lợi ích trong điều trị ung thư [42].
• 1.1.4.2. Đối với môi trường
• Các nhà nghiên cứu công bố vào tháng 1 năm 2009 rằng tảo Lục đóng vai trò
quan trọng trong việc làm giảm sự nóng lên toàn cầu như làm giảm tốc độ băng
tan… bằng việc hấp thụ khí cacbonic từ đó làm giảm những tác động của sự nóng
lên toàn cầu [42]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Chlamydomonas reinhardtii có
khả năng sản xuất hydro từ nước trong điều kiện kỵ khí. Hydro được cho là một loại
nhiêu liệu lý tưởng trong tương lai mà không gây ra hiệu ứng nhà kính [34].
• Trước nguy cơ cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch và nguy cơ về tổn thương
bầu khí quyển do việc đốt các nhiên liệu hóa thạch mang lại, nhiên liệu sinh học
được xem là một yếu tố thay thế bền vững. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tiến
hành nuôi thử nghiệm một số loài tảo để phục vụ cho mục đích lấy sinh khối để sản
xuất nhiên liệu sinh học như các loài tảo thuộc chi Chlorella và chi Scenedesmus…

Mẫu tảo và mẫu nước được lấy tại 3 trạm ở độ sâu 0,3m trong vòng 12 tháng
(10/1999 – 12/2000). Các tác giả đã xác định được 40 loài thuộc 30 chi, trong đó
các loài ưu thế là Monoraphidium spp., Oocystis sp., Chlamydomonas sp.,
Crucigenia ractanularis (A. Braun) Gay.,Dictyosphaerum pulchella Wood., and
Tetraedron, trong khi đó các loài Pediastrum tetras (Ehrenberg) Ralfs. Cosmarium
sp., Staurastrum pentacerum (Wole.) G.M. Smith., Staurodesmus convergens (Ehr.)
Teil, Tetraedron gracile (Reinsch) Hansgirg, Bulbochaete sp. và Chaetophora sp. là
những loài ít gặp nhất. Qua xử lý thống kê cho thấy số lượng tảo tương quan dương
với độ sâu và độ dẫn của nước.
• Pérez và cs. (2002) [31] đã tiến hành điều tra thành phần loài tảo Lục thuộc
lớp Chlorophyceae ở hạ lưu sông Ebro (Tây Ban Nha), kết quả thu được cho thấy
có 60 taxa được xác định, trong đó có 58 taxa thuộc bộ Chlorococcales và 2 taxa
thuộc bộ Ulotrichales: Elakatothrix genevensis (Reverdin) Hindák và Elakatothrix
subacuta Korsikov.
• Jena và cs. (2007) [25] nghiên cứu bộ Chlorococcales (lớp Chlorophyceae) ở
phía Đông và Đông Bắc Ấn Độ. Có tổng số 80 mẫu được thu từ 64 vị trí thuộc nhiều
loại hình thủy vực nước ngọt khác nhau như: ao, mương, hồ chứa, sông, suối, mặt đất
ẩm ướt và ruộng lúa. Kết quả phát hiện được 56 taxa thuộc 21 chi. Có 16 loài lần đầu
tiên được phát hiện ở Ấn Độ: Treubaria setigera (Archer) G.M. Smith, Pediastrum
simplex Meyen var. biwaense Fukushima, Pediastrum simplex Meyen var.
echinulatum Wittrocck, Coenochloris polycocca (Korsˇikov) Hindák, Radiococcus
nimbatus (De Wildeman) Scmidle, Coenocystis reniformis Korsˇikov và Oocystis
rhomboidea Fott, Glaucocystis simplex Tarnogradskij, Monoraphidium contortum
(Thuret) Komárková and Legnerová, Ankistrodesmus densus Koráikov,
Ankistrodesmus fusiformis Corda, Ankistrodesmus stipitatus (Chodat) Komárek và
Legnerova, Ankistrodesmus tortus Komárek et Comas, Actinastrum aciculare
Playfair f. Minimum (Huber-Pestalozzi) Compère, Tetrastrum elegans Playfair,
Desmodesmus protuberans (Fritsch et Ritch) Hegewald và Scenedesmus
pseudopoliensis Hortobagyi.
• Stamenković và Cvijan (2008) [38] công bố về khu hệ tảo Lục đơn bào thuộc

• 1.2.2. Tình hình nghiên cứu tảo Lục ở Việt Nam
• Năm 1997, Dương Đức Tiến và Võ Hành [17] đã biên soạn cuốn “Tảo nước
ngọt Việt Nam, phân loại bộ tảo lục (Chlorococcales)”. Trong đó mô tả chi tiết đặc
điểm phân loại hơn 800 loài và dưới loài tảo Lục thuộc bộ Chlorococcales ở Việt
Nam.
• Hồ Thanh Hải và cs. (2001)[6] trong nghiên cứu “Bước đầu khảo sát môi
trường nước và khu hệ thủy sinh vật của các thủy vực ở khu vực Động Phong Nha,
tỉnh Quảng Bình”, các tác giả đã tiến hành lấy mẫu ở sông phía trong động Phong
Nha, vũng nước nằm trong hang Tối, sông ngoài động và một số hồ ao vùng phụ
cận. Kết quả thu được như sau: trong số 54 loài thực vật nổi thu được thì tảo Lục có
thành phần loài phong phú hơn cả (25 loài, chiếm 46,3%) bao gồm các họ
Desmidiaceae, Zygnemataceae, Scenedesmaceae, Schizogoniaceae, Volvocaceae,
Distyosphariaceae, Ankistrodemaceae, Cladophoraceae, Botriococcaceae.
• Tác giả Phan Thị Anh Đào và cs. (2006) [3] khi khảo sát lưu vực sông Cầu
trong nghiên cứu “Hiện trạng thủy sinh vật ở một số nhánh sông trong lưu vực sông
Cầu”, đã tiến hành lấy mẫu tại 5 mặt cắt trên tổng số 200km chiều dài sông và xác
định được 113 loài thực vật nổi hiện diện tại khu vực này, trong đó tảo Lục có số
loài đông nhất với 36 loài (chiếm tỉ lệ 40% trên tổng số các loài xác định được).
• Phạm Thanh Lưu và Đỗ Thị Bích Lộc (2006) [8] tiến hành một nghiên cứu
tương tự về thực vật nổi tại sông Đồng Nai: “Đa dạng sinh học khu hệ thực vật nổi
ở sông Đồng Nai năm 2006”. Trên 437km chiều dài sông, các tác giả đã tiến hành
thu mẫu 2 đợt (mùa mưa và mùa khô) với 15 điểm nghiên cứu và xác định được 249
loài thực vật nổi, trong số này có 78 loài tảo Lục (chiếm 32%). Có 11 họ thuộc 4 bộ
thuộc ngành tảo Lục được xác định bao gồm: Ankistrodesmaceae, Chlorococcaceae,
Characiaceae, Oocystaceae, Hydrodictyaceae, Scenedesmaceae, Coelastraceae,
Dictyosphaeriaceae, Zygnemataceae, Desmidiaceae, Volvocaceae.
• Tác giả Võ Hành và Mai Văn Sơn (2009) [7] đã công bố kết quả nghiên cứu
trên 36km vùng hạ lưu sông Mã với 72 mẫu thu được tại 4 mặt cắt trong 2 đợt
(tháng 12 năm 2008 và tháng 3 năm 2009) trong nghiên cứu “Nghiên cứu đa dạng
tảo Lục (Chlorophyta) ở hạ lưu sông Mã (Thanh Hóa)”như sau: có 117 loài và dưới

sinh trên sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế”. Tại khu vực sông Hương đoạn qua
thành phố Huế (từ Kim Long đến đập Thảo Long) tiến hành thu mẫu tại 3 điểm: Kim
Long, Phu Văn Lâu (đoạn giữa cầu Phú Xuân và cầu Tràng Tiền) và trước đập Thảo
Long, chỉ khảo sát nhanh qua 1 đợt trong tháng 9 năm 2007. Qua phân tích kết quả
đợt khảo sát, về thành phần loài có 71 loài thực vật phù du, trong đó, ngành tảoLục có
22 loài chiếm tỷ lệ 31%.
• 1.3. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
• 1.3.1. Điều kiện tự nhiên
• Theo Dư địa chí tỉnh Thừa Thiên Huế [19], hệ thống sông Hương có lưu vực
dạng hình nan quạt với diện tích lưu vực 2.830 km
2
, chiếm gần 3/5 diện tích tự
nhiên của tỉnh, chiều dài sông 106 km. Hệ thống sông Hương có 3 nhánh sông
chính: Sông Bồ, sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch (dòng chính). Các nhánh sông
chính này đều bắt nguồn từ khu vực núi trung bình thuộc huyện A Lưới, Nam Đông
chảy qua các huyện Phong Điền, Hương Trà, Nam Đông, thành phố Huế, huyện
Hương Thủy (nay là thị xã Hương Thủy) và cuối cùng chảy vào phá Tam Giang.
Theo đặc điểm hình thái dòng chính của hệ thống sông Hương có thể tách thành hai
đoạn sông: đoạn chảy qua đồi núi và đoạn sông chảy qua đồng bằng duyên hải.
Đoạn sông chảy qua đồi núi thường có đáy sông dốc, nhiều thác ghềnh, không bị
ảnh hưởng triều. Vào mùa lũ lưu lượng, vận tốc, mực nước đều rất cao, ngược lại
trong mùa cạn các đặc trưng thủy văn này đều đạt giá trị rất thấp, lòng sông lộ nhiều
cuội sỏi, đá tảng. Trên đoạn sông chảy qua vùng đồng bằng dòng sông hiền hòa,
chảy quanh co và bị ảnh hưởng mạnh của thủy triều và độ mặn. Ngoài các nhánh
sông tự nhiên, còn có các sông đào nối sông Hương với sông Bồ, nối sông Hương
với đầm Cầu Hai, nối sông Bồ với phá Tam Giang.
• Sông Bồ là một trong ba nhánh sông chính của sông Hương. Sông Bồ bắt
nguồn từ vùng núi có độ cao tuyệt đối khoảng 650m ở phía Đông A Lưới, chảy qua
lãnh thổ Hương Trà, Phong Điền theo hướng Nam - Bắc cho đến phía dưới ngã ba
hội lưu với Rào Tràng, từ ngã ba đó đến Phú Ốc sông chuyển hướng Tây Nam -

g

1

2

3

4

5

6

7

8

9

1

1

1
• m
m

1


2.900mm, những năm mưa nhiều có thể cao hơn 3.500mm [13].
• Lượng mưa tăng đần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam cũng như phụ
thuộc vào mùa mưa hay ít mưa, trong đó giữa các trung tâm mưa lớn và địa bàn ít
mưa là những vùng chuyển tiếp với lượng mưa 2.800 - 3.200mm[13].
• Trong mùa ít mưa, nước không đủ cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất thì khi
mùa mưa đến với lượng mưa chiếm 68 - 75% lượng mưa năm lại phát sinh lũ lụt
lớn, gây thiệt hại sản xuất, tài sản, tính mạng cư dân cũng như tác động tiêu cực đến
môi trường sinh thái[13].
• Nhìn chung sự phân bố ngày mưa phù hợp với phân bố tổng lượng mưa năm.
Hàng năm có khoảng 200 - 220 ngày mưa ở vùng núi, 150 - 170 ngày mưa lên đồng
bằng duyên hải[13].
• * Chế độ nhiệt
• Nhiệt độ trung bình năm ở lãnh thổ giảm từ Đông sang Tây, nhiệt độ trung
bình năm từ 24 – 25°C ở đồng bằng và gò đồi thấp hơn 100m giảm xuống 20 - 22°C
khi lên cao 500 – 800m và dưới 18°C tại núi cao trên 1.000m [19].
• Quy luật biến thiên nhiệt độ tăng dần về mùa hè đạt cực đại cao nhất vào các
tháng 6, 7 và 8. Hai tháng 12 và tháng 1 là tháng lạnh nhất trong năm. Biến thiên
nhiệt độ trung bình các tháng trong năm được thể hiện qua bảng sau:
• Bảng 1.2. Nhiệt độ trung bình tháng ở Thừa Thiên Huế
• Đơn vị:
0
C

Th

1

2

3

2

2

2

2

2

2

2

2

• (Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế, 2004)
• * Chế độ ẩm
• Độ ẩm trung bình năm từ 87,3 - 87,8%, độ ẩm trung bình cao nhất 92 -
93,0% (tháng XI,XII,I,II), độ ẩm trung bình thấp nhất 79,0 - 80,0% (tháng 6) [13].
• * Chế độ gió, bão
• Thừa Thiên Huế chịu sự khống chế của gió mùa mùa đông lẫn gió mùa hè
khu vực Đông Nam Á, do vậy, hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa rõ rệt. Tốc
độ gió trung bình tháng không lớn, dao động từ 1,0 đến 8,6m/s và ít thay đổi theo
mùa. Tốc độ gió trung bình năm lớn nhất (2,3m/s) quan trắc được ở A Lưới, kế đến
là đồng bằng duyên hải (1,8m/s) và cuối cùng tại thung lũng Nam Đông (1,4m/s).
Mặc dù tốc độ gió trung bình tháng, trung bình năm không lớn, nhưng ở Thừa
Thiên Huế vẫn thường xảy ra gió mạnh với các hướng khác nhau, khi có bão, lốc,
tố, gió mùa Đông Bắc hoặc gió mùa Tây Nam.
• - Bão: thường xuất hiện vào các tháng từ tháng 6 - 11 trong năm. Bão thường

• Theo niên giám thống kê năm 2011 của Cục thống kê Thừa Thiên Huế, dân
số của tỉnh là: 1.103.136 người, số dân ở thành thị chiếm 48,44%. Cơ cấu dân số
như sau: nam 545.972 người (chiếm 49,49% tổng số dân của tỉnh); nữ 557.164
người (chiếm 50,51%) [2].
• Dân cư lưu vực sông Hương phân bố không đều, phần lớn tập trung vào các
thành phố, thị trấn, ven biển, ven sông. Mật độ dân số trung bình hiện nay là 219,17
người/km
2
, mật độ dân số thành phố Huế là 4778,88 người/km
2
, trong khi đó các
huyện như Phú Vang, Quảng Điền chỉ khoảng 500 – 600 người/km
2
, huyện Phong
Điền 94,52 người/km
2
, A Lưới 35,64 người/km
2
, Nam Đông 34,79 người/km
2
. Tốc
độ tăng dân số trong vùng còn cao. Theo thống kê, tốc độ tăng dân số của tỉnh Thừa
Thiên Huế năm 2011 so với năm 2010 là0,93% [2].
• 1.3.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế
• Cơ cấu kinh tế của Thừa Thiên Huế như sau:
• Bảng 1.3. Cơ cấu tổng sản phẩm tỉnh Thừa Thiên Huế theo ngành kinh tế qua
các năm
• Đơn vị: %

N

43
,6

20

10
0,
• 14,6 • 39,8

45
,6

20

10
0,
• 15,1 • 38,9

46
,0
• (Nguồn: Cục Thống kê ThừaThiên Huế, 2011)
• * Công nghiệp
• Trong cơ cấu sản phẩm kinh tế, khu vực công nghiệp đã tạo được sự chuyển
dịch đáng kể, từ 34,8% năm 2005 và đến năn 2010 đạt 39,8% trong GDP, đến năm
2011 là 38,95%. Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2011 đạt 7.603.239 triệu
đồng (theo giá sophân theo thành phần kinh tế), tăng đáng kể so với năm 2010.
Trong đó kinh tế Nhà nước đạt 1.207.134 triệu đồng; khu vực ngoài Nhà nước đạt
2.631.119 triệu đồng; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3.764.986 triệu đồng
[2].
• Tuy vậy hiệu quả và khả năng cạnh tranh của một số ngành công nghiệp còn

tăng 6,2% [2].
• Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá so sánh 1994 phân theo ngành hoạt động
năm 2011 là 149.978 triệu đồng. Trong đó, trồng và nuôi rừng đạt 23.952 triệu đồng
(chiếm 16%), khai thác lâm sản đạt 100.125 triệu đồng (chiếm 66,8%), dịch vụ và
các hoạt động lâm nghiệp khác đạt 25.901 triệu đồng (chiếm 17,2%).
• Cơ cấu ngành thủy sản bao gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và dịch vụ
thủy sản chiếm tỷ lệ tương ứng 58,2%; 41,5%; 0,3%. Giá trị sản xuất thủy sản theo
giá so sánh phân theo ngành hoạt động năm 2011 đạt 609.101 triệu đồng, tăng 8,7%
so với năm 2010.
• Hiện nay, ngành nông nghiệp đang chiếm tỷ trọng cao, ưu tiên đảm bảo an
ninh lương thực, đồng thời lĩnh vực chăn nuôi phục hồi nhanh và phát triển khá
nhanh. Trong đó thủy sản phát triển tốc độ chậm lại, để đảm bảo thực hiện thành
công chương trình sắp xếp nò sáo ở vùng đầm phá ven biển, song ngành thủy sản
vẫn giữ vai trò quan trọng trong duy trì tốc độ tăng trưởng của khu vực nông lâm
nghiệp và thủy sản.
• Cơ cấu trong khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chuyển dịch theo hướng
ổn định và bền vững, ưu tiên đảm bảo an ninh lương thực, bước đầu gắn sản xuất
với thị trường, kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết việc làm với nhiều
ngành nghề, dịch vụ phát triển phù hợp điều kiện của mỗi địa phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status