sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy học sinh học 6 - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ QUÝ HƯƠNG
SÆÍ DUÛNG BAÌI TÁÛP THÊ NGHIÃÛM
TRONG DAÛY HOÜC SINH HOÜC 6
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHAN ĐỨC DUY
Huế, năm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Huế, tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
ii
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng và nỗ
lực của bản thân còn có sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, các học sinh và của
người thân.
Bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc của
mình tôi xin cảm ơn PGS.TS. Phan Đức Duy, thầy
hướng dẫn của tôi, thầy đã cho tôi những góp ý
chuyên môn vô cùng quí báu cũng như luôn quan
tâm, động viên tôi trước những khó khăn trong khi
thực hiện đề tài.

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6
3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 7
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 7
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
8. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
9. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 10
10. CẤU TRÚC LUẬN VĂN 10
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1.1. Thí nghiệm và bài tập thí nghiệm 12
1.1.2. Kỹ năng học tập của học sinh 16
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20
1.2.1. Trạng trạng dạy - học Sinh học ở trường trung học cơ sở 20
1.2.2. Nguyên nhân của những thực trạng trên 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 25
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ
DUY CHO HỌC SINH TRONG DẠY - HỌC SINH HỌC 6 25
2.1. PHÂN TÍCH CẤU TRÚC, NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 6 25
2.1.1. Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học 6 25
2.1.2. Các kỹ năng tư duy cơ bản cần rèn luyện cho học sinh thông qua bài tập thí
nghiệm 29
2.2. HỆ THỐNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 6 30
2.2.1. Qui trình thiết kế bài tập thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh
30

PP Phương pháp
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
SL Số lượng
STT Số thứ tự
THCS Trung học cơ sở
TL% Tỷ lệ phần trăm
TN Thí nghiệm
2
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của giáo viên 20
Bảng 1.2. Kết quả điều tra về phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm 21
trong dạy học Sinh học ở các trường THCS 21
Bảng 1.3. Kết quả điều tra về học tập của học sinh 22
Bảng 2.1. Các bài tập thí nghiệm được lựa chọn để thiết kế trong 31
chương trình Sinh học 6 31
Bảng 3.1. Các tiêu chí và các mức độ đánh giá việc rèn luyện 49
kỹ năng phân tích thí nghiệm 49
Bảng 3.2. Tổng hợp các mức độ từng tiêu chí của 50
kỹ năng phân tích thí nghiệm 50
4
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Qui trình thiết kế BTTN để rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh 30
Hình 2.2a. Hai cây TN ban đầu 35
Hình 2.2b. Một cây ngắt ngọn và một cây không ngắt ngọn 35
Hình 2.2c. Kết quả hai cây TN sau vài ngày 35
Hình 2.3a. TN sự vận chuyển nước 36
trong thân (Bắt đầu TN) 36
Hình 2.3b. TN sự vận chuyển nước 36

kiện để HS phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề, cũng
như kỹ năng thao tác thực hành, đồng thời chưa kích thích được tính hứng thú học
tập môn Sinh học của học sinh.
Chương trình Sinh học 6 giúp HS bắt đầu làm quen với thế giới sinh vật,
trước hết là thực vật. Đây là một phần khá hấp dẫn đối với người học, kiến thức khá
gần gũi, có nhiều thí nghiệm thú vị. Vì vậy, nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học thì
một trong những biện pháp được ưu tiên sử dụng là bài tập thí nghiệm. Việc cho HS
giải các bài tập thí nghiệm không những rèn luyện kỹ năng tư duy cho HS mà còn
khiến các em hứng thú hơn trong học tập, đồng thời giúp các em dễ khắc sâu kiến
thức. Trên cơ sở đó, các em biết vận dụng các kiến thức Sinh học vào đời sống.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Sử dụng
bài tập thí nghiệm trong dạy học Sinh học 6”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
6
Nghiên cứu thiết kế và sử dụng các bài tập thí nghiệm (BTTN) trong chương
trình Sinh học 6 – trung học cơ sở (THCS) nhằm rèn luyện kỹ năng tư duy cho học
sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Sinh học ở trường THCS.
3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế và sử dụng bài tập thí nghiệm phù hợp nội dung, phát huy tính
tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập thì sẽ rèn luyện được kỹ năng tư duy
cho học sinh và nâng cao được chất lượng dạy - học Sinh học 6 nói riêng và bộ môn
Sinh học ở trường phổ thông nói chung.
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các bài tập thí nghiệm và phương pháp sử dụng chúng để rèn luyện kỹ năng
tư duy cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy - học Sinh học 6.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài phải thực hiện được các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về bài tập thí nghiệm, vai trò và
phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm.

trạng dạy học bộ môn Sinh học.
+ Tham khảo giáo án của một số giáo viên.
+ Dự giờ của một số giáo viên.
- Đối với học sinh:
Sử dụng phiếu điều tra để điều tra hứng thú học tập bộ môn Sinh học của học sinh.
7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Sử dụng phương pháp thực nghiệm theo tiêu chí. Căn cứ vào các tiêu chí đặt
ra để tiến hành đo mức độ đạt được của kỹ năng theo thời gian.
7.5. Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý kết quả nghiên cứu:
Sử dụng một số công thức toán học để xử lí các kết quả điều tra và thực
nghiệm sư phạm. Các tham số sử dụng để xử lý: phần trăm (%)
8. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
8.1. Trên thế giới
Phương pháp thực nghiệm đã được Galile - Nhà vật lý học - xây dựng vào
thế kỷ XVII và rất có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý với câu nói nổi tiếng
“Muốn hiểu biết thiên nhiên phải trực tiếp quan sát thiên nhiên, phải làm thí
nghiệm ” Về sau, các nhà khoa học khác đã kế thừa phương pháp đó và xây dựng
nó cho hoàn chỉnh hơn. Phương pháp này được thâm nhập vào nhiều ngành khoa
học tự nhiên cũng như các ngành khoa học xã hội khác, trong đó có Sinh học.
Ngay sau Galile, một nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỷ XVII là J.A.Konmenxki
đã đưa ra biện pháp dạy học bắt học sinh phải tìm tòi suy nghĩ để nắm bắt được bản
chất của các sự vật hiện tượng, trong đó có phương pháp thực hành thí nghiệm.
J.J.Ruxo cũng cho rằng phải hướng học sinh tích cực tự giành lấy kiến thức bằng
cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.
8
Vận dụng phương pháp thực hành thí nghiệm vào dạy học đã được nhiều nhà
giáo dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu như: B.P Exipop, M.A Danilop, M.N
Scattin, I.F Kharlamov, I.I Samova, M.N Veczelin (Nga), Skinner (Mỹ), Okon (Ba
Lan). Skinner (1968) đã cho rằng: Dạy học là quá trình tự khám phá, và ông đã đưa
ra mô hình dạy học khám phá bằng việc sử dụng thí nghiệm thực hành.

học cơ sở” - Luận văn thạc sĩ, Đại học sư phạm Huế. Theo tác giả, một trong
những yếu tố tăng cường tính tích cực sáng tạo của học sinh là sử dụng các bài tập
thí nghiệm [12].
Cao Ngọc Sằng (2005) - sử dụng thí nghiệm làm tăng tính tích cực hoạt
động học tập của học sinh trong dạy học [17].
Nguyễn Thị Dung (2006) với đề tài “Tích cực hóa hoạt động học tập trong
giờ thực hành củng cố môn Sinh học ở phổ thông” cho rằng, với quan niệm dạy học
mới hiện nay, việc tích cực hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố cần được
coi trọng, bằng cách tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm con đường chứng minh
cho các vấn đề được học [3].
Nguyễn Tiến Dũng (2007) với nghiên cứu “Tác dụng của bài tập thí nghiệm
trong dạy học vật lí ở trường phổ thông”. Tác giả đã nghiên cứu vai trò của thí
nghiệm trong việc phát huy các kỹ năng tư duy của học sinh trong dạy học [4].
Như vậy, việc sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong dạy học đã
được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng bài tập
thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư duy thực nghiệm trong các khâu của quá trình
dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy - học trong môn Sinh học còn rất hạn chế.
Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu lý luận, đề xuất quy trình thiết kế bài tập thí
nghiệm và đề xuất giải pháp sử dụng các bài tập thí nghiệm trong dạy học Sinh
học là rất cần thiết.
9. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Xây dựng được các bài tập thí nghiệm rèn luyện kỹ năng tư duy cho học
sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy - học Sinh học 6.
- Sử dụng các bài tập thí nghiệm đã thiết kế để rèn luyện cho học sinh kỹ
năng phân tích thí nghiệm.
10. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế và sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện kỹ năng tư

Theo Nguyễn Đức Thâm, BTTN là bài tập đòi hỏi HS khi giải phải làm TN,
qua đó hình thành nên các kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo.
Nguyễn Thượng Chung cho rằng, BTTN là bài tập đòi hỏi học sinh phải vận
dụng một cách tổng hợp các kiến thức lí thuyết và thực nghiệm, các kỹ năng hoạt
động trí óc và chân tay để tự mình giải quyết vấn đề, đề ra phương án, lựa chọn
phương tiện, tiến hành TN… nhằm rút ra kết luận khoa học [6].
Trong dạy học Sinh học, BTTN là dạng bài tập luôn đi kèm với TN mà khi
giải bài tập HS không những dựa vào kết quả của TN mà còn vận dụng tổng hợp
các kiến thức lý thuyết và thực nghiệm, các kỹ năng hoạt động trí óc và thực hành
12
kết hợp với vốn hiểu biết về thực tiễn đời sống của HS. Bằng các thao tác tư duy
phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa giúp các em giải thích
được kết quả TN, từ đó lĩnh hội được các khái niệm, phân tích được cơ chế của các
quá trình, quy luật Sinh học.
BTTN được sử dụng trong dạy học Sinh học 6 khi nghiên cứu các quá
trình sinh lí, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên sự sinh trưởng và phát triển
của cơ thể thực vật. HS tự mình khám phá ra những điều mới mẻ từ tác động chủ
ý của các em lên đối tượng TN, qua đó kích thích hứng thú học tập, tạo sự say
mê, niềm tin yêu khoa học. Các em thấy được vai trò của con người trong việc
chinh phục cải tạo tự nhiên.
ii. Vai trò của bài tập thí nghiệm
BTTN giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, trong
việc hình thành nhân cách của HS và phát huy được tính tự giác, tự lực, sáng tạo
của HS, cụ thể:
- Qua BTTN, HS có điều kiện tự tìm mối quan hệ giữa cấu trúc và chức
năng, giữa hiện tượng và bản chất, giữa nguyên nhân và kết quả, do đó giúp các em
nắm vững tri thức, phát triển các khái niệm.
- BTTN tạo sự tò mò, ham hiểu biết của HS trong quá trình học tập. Trong
khi lập các phương án để tiến hành TN, HS thường dự đoán quá trình xảy ra của
hiện tượng hay kết quả TN. Nếu kết quả đúng như dự kiến làm cho HS tin tưởng

 Dạng 3: Bài tập đi kèm với các thí nghiệm mô tả bằng lời (mang tính chất
thực nghiệm tưởng tượng).
Trong 3 dạng trên thì ưu tiên sử dụng dạng 1 vì nó mang tính chất thực hành rất cao.
Ở dạng 2 và 3, học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên tham gia thiết kế,
mô tả, đề xuất phương án thí nghiệm trên giấy và bút (bằng lời hoặc bằng hình vẽ);
hoặc xem xét tính hợp lí của cách thiết kế cũng như các diễn biến và kết quả thí
nghiệm từ đó rút ra kết luận. Loại bài tập này được sử dụng trong trường hợp
thiếu thiết bị thí nghiệm, thời tiết xấu không tiến hành thí nghiệm được, hoặc sử
dụng trong khâu kiểm tra đánh giá (Gọi là bài tập thực hành thí nghiệm tư duy
trên giấy và bút).
Việc vận dụng bài tập thí nghiệm tư duy trên giấy và bút, tuy học sinh không
có điều kiện học tập và rèn luyện các thao tác thí nghiệm, nhưng ưu điểm chính của
phương pháp là đòi hỏi học sinh phải tư duy tích cực mới có thể hiểu được thí
nghiệm, trả lời được các câu hỏi, bài tập để tìm ra được kết luận cần thiết. Vì vậy
hình thức thí nghiệm tư duy không chỉ vận dụng trong dạy và học Sinh học ở các
nước đang phát triển, kinh tế khó khăn mà ngay cả ở các nước phát triển hình thức
này cũng được vận dụng [4], [17], [20].
iv. Phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy - học Sinh học
14
- BTTN có thể sử dụng ở tất cả các khâu trong quá trình dạy học: nghiên cứu
bài học mới, củng cố - hoàn thiện kiến thức, kiểm tra đánh giá.
+ Sử dụng bài tập thí nghiệm trong khâu nghiên cứu bài học mới
Trong khâu nghiên cứu bài học mới, BTTN được dùng như là một bài tập
tình huống, bài tập nhận thức, đặt ra vấn đề mới mà khi giải xong HS sẽ lĩnh hội
được kiến thức mới và hình thành nên kỹ năng mới. HS phải tự mình tiến hành TN,
quan sát hiện tượng, phân tích TN… để rút ra kết luận có giá trị nhận thức mới. Vai
trò của GV là hướng dẫn HS phân tích kết quả, tìm ra mối quan hệ nhân quả bằng
các câu hỏi định hướng. Bài tập này thường đưa ra trước khi nghiên cứu một nội
dung mới, vấn đề mới.
+ Sử dụng bài tập thí nghiệm trong khâu củng cố - hoàn thiện kiến thức

+ Sử dụng BTTN để rèn luyện kỹ năng thiết kế TN
Học sinh trình bày được mục đích thí nghiệm, dụng cụ và vật liệu tiến hành
thí nghiệm, mô tả được cách tiến hành thí nghiệm hoặc cách thức bố trí thí nghiệm,
tiến hành thí nghiệm và giải thích được kết quả thí nghiệm. Đối với dạng bài tập
này học sinh có thể đưa ra nhiều phương án thí nghiệm khác nhau nhưng nếu đúng
đều có thể chấp nhận, đây là một trong số các bài tập phát huy được tính sáng tạo
của học sinh một cách có hiệu quả.
1.1.2. Kỹ năng học tập của học sinh
1.1.2.1. Kỹ năng học tập
Kỹ năng học tập là khả năng của con người thực hiện có kết quả các hành
động học tập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định, nhằm đạt tới mục đích,
nhiệm vụ đề ra.
Trong hệ thống kỹ năng học tập, có những kỹ năng khái quát chung cho mọi
môn học (kỹ năng chung) và có những kỹ năng đặc thù cho mỗi môn học.
Đối với học sinh THCS, có hệ thống kỹ năng học tập chung như sau:
1. Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu
thập, xử lí, sử dụng thông tin: Kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng quan
sát, kỹ năng tiến hành thí nghiệm, kỹ năng phân tích- tổng hợp, kỹ năng so sánh,
kỹ năng phán đoán- suy luận, kỹ năng khái quát hóa, kỹ năng vận dụng các kiến
thức đã học…
2. Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng tổ chức, tự điều chỉnh quá trình
học tập liên quan đến việc quản lí phương tiện học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên
ngoài và chất lượng: Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá, kỹ năng tự điều chỉnh…
3. Các kỹ năng phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: Kỹ năng
hợp tác, kỹ năng học nhóm… [3], [9].
16
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi quan tâm đến việc xây dựng và thiết kế các
bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số kỹ năng tư duy thực nghiệm trong nhóm hệ
thống kỹ năng nhận thức.
1.1.2.2. Một số kỹ năng nhận thức

chứng, nghĩa là so sánh kết quả của hai đối tượng cùng loại, có đặc điểm hoặc sự
tác động trái ngược nhau.
Qua sự so sánh giúp HS phân biệt, hệ thống hoá và củng cố các khái niệm, đồng
thời so sánh là một thao tác tư duy rất quan trọng giúp HS tìm ta cái mới [1], [13].
1.1.2.2.3. Kỹ năng khái quát hóa
Khái quát hoá là hoạt động trí tuệ cấp cao nhằm gom các đối tượng có cùng
thuộc tính và bản chất vào một nhóm, là quá trình chuyển từ cái đơn nhất lên cái
chung.
Sự khái quát hoá giữ vai trò chủ yếu trong khi hình thành các khái niệm mới.
Ở học sinh khái quát hoá diễn ra trên cơ sở phân tích, so sánh [13].
1.1.2.2.4. Kỹ năng phán đoán - suy luận
Kỹ năng phán đoán là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái
niệm thuộc lĩnh vực chuyên môn đã có; năng lực vận dụng chúng để phát hiện ra
các thuộc tính bản chất của các sự vật hiện tượng; đưa ra những xét đoán hoặc nhận
định nhằm giải quyết các nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định.
Suy luận là hình thức của tư duy nhờ đó rút ra phán đoán mới từ một hay
nhiều phán đoán theo các quy tắc lôgic xác định.
Bất kì suy luận nào cũng gồm tiền đề, kết luận và lập luận. Tiền đề (phán
đoán xuất phát) là phán đoán chân thực từ đó rút ra phán đoán mới. Kết luận là phán
đoán mới thu được bằng con đường logic từ các tiền đề. Cách thức logic rút ra kết
luận từ các tiền đề gọi là lập luận.
Quan hệ suy diễn logic giữa các tiền đề và kết luận được quy định bởi mối
quan hệ các tiền đề về mặt nội dung. Nếu các phán đoán không có sự liên hệ về mặt
nội dung thì không thể lập luận để rút ra kết luận.
Căn cứ vào cách thức lập luận, suy luận được chia thành suy luận diễn dịch
và suy luận quy nạp. Suy luận diễn dịch là suy luận trong đó lập từ cái chung đến
cái riêng, cái đơn nhất. Suy luận quy nạp là suy luận trong đó lập từ cái riêng, cái
đơn nhất đến cái chung.
Trong dạy học bằng phương pháp thí nghiệm, cần phải chú ý rèn luyện tư
duy thực nghiệm bằng phương pháp suy luận quy nạp [3], [21].

yêu cầu để người dạy và người học đều an tâm với kết quả đào tạo, đồng thời phải phát
hiện đúng những người chưa đạt yêu cầu để có trách nhiệm đào tạo bổ sung.
Bước 8: Thắc mắc - Giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh nêu câu hỏi
khi học sinh có nhu cầu cần hỏi. Cơ hội nhất là ở giai đoạn “tập sử dụng kỹ năng”,
19
khi đó giáo viên nên đi lại trong lớp kiểm tra các thao tác thực hành kỹ năng của
học sinh và trả lời thắc mắc cho các em [9].
1.1.2.4. Các yêu cầu khi sử dụng bài tập thí nghiệm để rèn luyện một số
kỹ năng tư duy cho học sinh
- Phải phù hợp với nội dung chương trình, bài học.
- Gần gũi với đời sống thực tiễn của học sinh.
- Phải phù hợp với trình độ học sinh.
- Các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm đơn giản, dễ tìm, các thao tác thí nghiệm
không quá khó.
- Tạo khả năng để học sinh đưa ra nhiều giải pháp khi giải bài tập.
- Rèn luyện được một kỹ năng nào đó.
- Khắc sâu một kiến thức lí thuyết nhất định.
Khi xây dựng các BTTN cần chú ý:
+ Xác định được chủ đề của BTTN.
+ Xác định được mục đích dạy học thông qua BTTN.
+ Nội dung của BTTN cần phải đầy đủ thông tin, dữ kiện, yếu tố cấu thành
thí nghiệm để phân tích và giải quyết bài tập.
+ Nhiệm vụ học sinh cần giải quyết [4], [17].
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Trạng trạng dạy - học Sinh học ở trường trung học cơ sở
Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành quan sát sư phạm,
tham khảo giáo án, dự giờ, trao đổi ý kiến với một số GV bộ môn, dùng phiếu
điều tra HS, thăm giò ý kiến của GV ở một số trường THCS ở Tỉnh Thừa Thiên
Huế nhằm thu thập số liệu cụ thể về thực trạng dạy và học Sinh học ở các trường
THCS hiện nay.

10 20,00 29 58,00 11 22,00
8 Dạy học bằng sơ đồ hóa
18 36,00 30 60,00 2 4,00
9
Dạy học có sử dụng phiếu
học tập
31 62,00 19 38,00 0 0
10
Cho học sinh tự học với
sách giáo khoa
10 20,00 32 64,00 8 16,00
Qua bảng số liệu điều tra trên, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng các phương
pháp dạy học tích cực đã được đa số GV quan tâm, vận dụng nhiều trong thực tiễn
dạy học (85,00% GV thường xuyên sử dụng phương pháp hỏi đáp – tìm tòi, 62,00%
GV thường xuyên dạy học có sử dụng phiếu học tập). Tuy nhiên, đối với phương
pháp sử dụng bài tập thí nghiệm GV có sử dụng nhưng không thường xuyên
(60,00% GV thỉnh thoảng có sử dụng, 36,00% GV là không sử dụng).
Bảng 1.2. Kết quả điều tra về phương pháp sử dụng bài tập thí nghiệm
trong dạy học Sinh học ở các trường THCS
Phương pháp sử dụng
Mức độ sử dụng
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
SL TL% SL TL% SL TL%
Sử dụng BTTN trong khâu
nghiên cứu bài học mới
6 12,00 18 36,00 26 52,00
Sử dụng BTTN trong khâu
củng cố kiến thức
10 20,00 32 64,00 8 16,00
Sử dụng BTTN trong khâu

yêu thích
A. Thầy dạy chán
32 31,07
B. Khó học
47 45,63
C. Trừu tượng, xa thực tiễn
20 19,42
D. Không có tác dụng tốt với nghề nghiệp sau này
4 3,88
4. Cảm nhận
về giờ học
A. Giờ học đầy hứng thú và bổ ích
150 37,50
B. Giờ học bình thường
173 43,25
C. Giờ học ít hứng thú
56 14,00
D. Giờ học nhàm chán
21 5,25
A. Nghe giảng, ghi chép, xây dựng bài
204 51,00
B. Nghe giảng, ghi chép , không xây dựng bài.
171 42,75
C. Nghe giảng, không ghi chép, thỉnh thoảng nói
chuyện riêng
22 5,50
D. Làm việc khác
3 0,75
6. Giờ học
Sinh học hứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status