Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG THỊ THU HỒI
TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 1997-2012
TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 1997-2012
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã ngành: 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ
Trước hết tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo
trong tổ Lịch sử Việt Nam, khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đại học Thái
Nguyên. Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo hướng dẫn khoa học:
Giáo sư – Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Cơ đã chỉ bảo tận tình, ân cần, động viên khích lệ tác
giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của Huyện ủy, UBND huyện Phổ Yên cùng toàn thể các ban ngành, đoàn
thể trong huyện đã cung cấp các tư liệu để tác giả hoàn thành luận văn. Tác giả xin
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Ngƣời thực hiện
Hoàng Thị Thu Hồi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC. Trang
Trang phụ bìa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
2.2.1. Tình hình chung 44
2.2.2. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên. 53
2.2.3. Tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
Phổ Yên hiện nay. 62
Chƣơng 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI
ĐOẠN 1997-2012 72
3.1. Một số nhận xét về đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên 72
3.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Phổ Yên có sự khác nhau giữa các vùng 72
3.1.2. Cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp có sự thay đổi theo hướng sản xuất
hàng hoá 76
3.1.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên đã tạo tiềm năng cho
thâm canh tăng vụ và chuyển dịch cơ cấu cây trồng 80
3.2. Nhận xét về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên giai đoạn
1997-2012 81
3.2.1. Hiệu quả kinh tế 82
3.2.2. Hiệu quả xã hội 86
3.2.3. Hiệu quả môi trường 88
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LĐ
Công lao động
MI
Thu nhập hỗn hợp
GO/IC
Gía trị sản xuất/Chi phí trung gian
GO/LĐ
Gía trị sản xuất/Công lao động
VA/IC
Gía trị gia tăng/Chi phí trung gian
VA/LĐ
Gía trị gia tăng/Công lao động
MI/LĐ
Thu nhập hỗn hợp/ Công lao động
Cây NNNN
Cây nông nghiệp ngắn ngày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Số lượng và cơ cấu dân số Phổ Yên năm 2008 17
Bảng 1.2: Diện tích, Dân số, Mật độ dân số năm 2012 phân theo xã 18
Bảng 1.3: Đặc điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên năm 1997 26
Bảng 2.1: Tài nguyên đất Việt Nam và những biến động về dân số 39
Bảng 2.2: Biến động đất nông nghiệp của cả nước (Đơn vị: ha) 40
Bảng 2.3. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất trồng cây hàng
Đất đai đóng vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người, nó là cơ sở tự nhiên là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất
đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng khác nhau. Trong sản xuất nông
nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, là loại tư liệu sản xuất đặc biệt,
không gì có thể thay thế được. Nhà kinh tế học thế kỉ XVII William Petty (1623-
1687) đã đưa ra một luận điểm nổi tiếng về vai trò của đất như sau: “Lao động là cha,
đất là mẹ của của cải vật chất”. Sau này, C.Mác đã một lần nữa khẳng định điều này
ông nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ”.[16;tr15]
Vấn đề ruộng đất là nội dung cơ bản trong chính sánh “Liên minh công nông”
của Đảng của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta. Ngay
trong “Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt” Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đã
nêu rõ đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Vấn đề ruộng đất cho nhân
dân được Hồ Chí Minh rất coi trọng Người đặt nó song hành cùng nhiệm vụ dân tộc,
phải có ruộng đất thì nhân dân ta mới mở mang được nông nghiệp, công nghiệp tạo
cơ sở vật chất để đánh thắng kẻ thù giải phóng dân tộc.
Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam đất nông nghiệp giữ một vai trò
rất lớn, nó là nguồn tư liệu sản xuất quan trọng nhất bảo đảm cho ngành nông nghiệp
phát triển ổn định, bền vững, và đảm bảo đời sống đầy đủ ấm no cho nhân dân. Dưới
thời phong kiến các triều đại đã liên tục đưa ra các chính sách khai hoang mở rộng đất
đai khắc phục tình trạng kiêm tinh chiếm đoạt ruộng đất của địa chủ quan lại. Tuy vậy,
do tình trạng chiếm đoạt của địa, chủ quan lại đã vượt ra tầm kiểm soát của các nhà nước
phong kiến nên mới có cảnh nông dân nghèo phiêu tán khắp nơi, không có đất đai cày
cấy, đời sống nhân dân không được đảm bảo, ruộng đất hoang hoá khắp nơi…
Sang thời kì đấu tranh chống Pháp giải phóng dân tộc Đảng ta đã chỉ rõ một
trong những nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là “ruộng đất cho
dân cày”, có ruộng đất thì nhân dân mới có đất đai cày cấy đảm bảo đời sống và như
vậy cách mạng Việt Nam mới thực sự thành công.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
diễn ra với tốc độ nhanh, mạnh khiến diện tích đất nông nghiệp thu hẹp.
Hơn nữa, do vị trí địa kinh tế thuận lợi, là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái
Nguyên nói riêng của cả vùng trung du với thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng sông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
Hồng, cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại thuận lợi với các hệ thống đường liên tỉnh, liên
huyện đi qua và không ngừng được nâng cấp. Do đó, trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của đất nước, Phổ Yên là huyện có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, các khu công nghiệp, khu đô thị mới không ngừng được hình thành và mở rộng.
Điều đáng nói là các khu công nghiệp hầu hết được hình thành trên nền đất nông nghiệp,
trong khi đất được lấy bị bỏ hoang vì chưa thể lấp đầy thì cùng với đó có biết bao người
nông dân bị rơi vào cảnh thiếu đất sản xuất. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, các
dự án phát triển đến đâu hộ nông dân mất đất đến đó, không còn đất làm ruộng phần
lớn hộ nông dân không có trình độ phải lên thành phố bỏ làng đi kiếm sống điều này
làm gia tăng dân số và tệ nạn xã hội ở các đô thị và tràn về cả vùng nông thôn.
Trước tình trạng đó cần có sự nghiên cứu để thấy rõ thực trạng chuyển đổi đất
nông nghiệp sang các mục đích khác, sự chuyển đổi đó có ảnh hưởng và tác động như
thế nào đối với tình hình kinh tế, xã hội của huyện, đến việc đảm bảo nhu cầu lương thực
cho đời sống nhân dân…Không những vậy trên cơ sở nghiên cứu cụ thể có thể đưa ra
những nhận xét, đánh giá cụ thể và đặc biệt là đưa ra được những biện pháp để hạn chế
vấn đề thu hẹp đất nông nghiệp của huyện hiện nay và đưa ra những giải pháp để nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn đất nông nghiệp hiện có, đồng thời có những biện pháp khai
phá mở rộng them diện tích đất nông nghiệp. Mặt khác, cần nghiên cứu về các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp hiện có trên địa bàn huyện Phổ Yên để có các biện pháp thâm
canh tăng vụ phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên của địa phương.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi xin chọn vấn đề “Tình
hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Tháí Nguyên giai
đoạn (1997-2012)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
dụng đất nông nghịêp đang diễn ra phổ biến trên địa bàn huyện, một nguyên nhân khiến
quỹ đất nông nghiệp hiện có của huyện bị thu hẹp và các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp ở huyện Phổ Yên một cách hệ thống và khoa học. Cũng chưa có công trình
nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu quỹ đất chưa sử dụng trên địa bàn huyện để đưa ra những
giải pháp khai thác sử dụng quỹ đất này cho sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tác giả luận văn muốn được góp phần
cùng với các nhà nghiên cứu làm rõ hiện trạng khái thác và sử dụng đất nông nghiệp
của huyện Phổ Yên dưới góc nhìn của một người học sử. Trên cơ sở đó, đưa ra những
nhận xét sắc đáng, những kết luận khoa học có căn cứ thực tế tạo điều kiện cho các
nhà quy hoạch, hoạch định chính sách có thể đưa ra những giải pháp hợp lý không
ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của huyện, đời sống của quần
chúng nhân dân khi triển khai các dự án cần sử dụng đất nông nghiệp làm mặt bằng
xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp hay nâng cấp cơ sở hạ tầng của huyện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
3. Đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình hình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ở huyện
Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2012.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: chủ yếu trên địa bàn huyện Phổ Yên từ khi tách tỉnh (1997)
đến năm 2012
Phạm vi thời gian: từ năm 1997 đến năm 2012. Đây là khoảng thời gian tình
hình kinh tế xã hội cũng như địa giới hành chính của huyện Phổ Yên nói riêng và tỉnh
Thái Nguyên nói chung có nhiều biến động. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp tới vấn
đề sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu về tình hình khai thác và sử dụng đất nông
Do các nguồn tư liệu báo cáo, số liệu thống kê còn nhiều chỗ cần làm rõ. Vì vậy
tôi đã tiến hành khảo sát thực địa tại một số nơi để sưu tầm, phát phiếu điều tra trong
nhân dân mà các báo cáo, số liệu thống kê không phản ánh đầy đủ.
5. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở các nguồn tư liệu, đề tài góp phần làm rõ những biến đổi về tình hình
sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên từ năm 1997-2012 trên các phương diện
hình thức sử dụng, mục đích sử dụng, hiệu quả sử dụng, thực tế tình hình chuyển đổi
mục đích sử dụng đất nông nghiệp đang diễn ra trên địa bàn huyện Phổ Yên…
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên, đề tài
đưa ra góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân huyện Phổ Yên một cách
hợp lý - khoa học - bền vững. Qua đó, mong muốn đóng góp thêm cơ sở khoa học
giúp các nhà hoạch định đề ra được những chính sách phù hợp thúc đẩy nông nghiệp
của huyện Phổ Yên phát triển phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn của huyện
6. Bố cục nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được xây dựng thành
3 chương:
Chƣơng 1. Khái quát về huyện Phổ Yên
Chƣơng 2.Tình hình khai thác và sử dụng đất nộng nghiệp huyện Phổ Yên từ
năm 1997 đến năm 2012
Chƣơng 3.Một số nhận xét về đặc điểm và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997-2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
Chƣơng 1
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHỔ YÊN
8
huyện Đại Từ và thị xã Sông Công (tỉnh Thái Nguyên); phía đông và đông bắc giáp
các huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang) và Phú Bình (Thái Nguyên). Trụ sở Huyện Phổ
Yên đặt tại thị trấn Ba Hàng cách thành phố Thái Nguyên 26km về phía Nam và cách
Thủ đô Hà Nội 56km về phía Bắc [17]. Xưa nay Phổ Yên đều giữ vị trí cửa ngõ phía
Nam của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và trung du miền núi phía Bắc nói chung, phên
dậu quan trọng trong bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long xưa kia, nhất là trong
những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Với vị trí địa lý như vậy, huyện Phổ Yên gần với trung tâm tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Giang, thủ đô Hà Nội và gần các khu công nghiệp lớn như khu công nghiệp Sông Công
(Thái Nguyên), các khu công nghiệp của Hà Nội nên có điều kiện giao lưu hàng hóa dễ dàng
và có khả năng phát triển kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, Phổ Yên càng
thể hiện rõ tầm quan trọng của vị trí “cửa ngõ” phía Nam tỉnh Thái Nguyên. Hàng
loạt các dự án đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào huyện làm cho bộ mặt huyện
thay đổi nhanh chóng, kinh tế, xã hội phát triển mạnh, đời sống của người dân ngày
càng nâng cao. Tuy vậy, tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh đã gây ra những
vấn đề bất cập trong quản lý sử dụng đất đai, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội
trên địa bàn huyện.
Với hai dải đất nằm dọc Sông Cầu, Sông Công nhiều làng ven sông trên bến dưới
thuyền, Phổ Yên được coi là một trong những nơi có thắng cảnh đẹp từ ngàn xưa của
xứ Thái Nguyên, là cái nôi của nền văn hóa lâu đời trên đất Việt: Khu di tích lich sử
xã Tiên Phong , đền Lục Giáp (xã Đắc Sơn), đến Gía xã Đông Cao… được xây dựng
với kiến trúc nghệ thuật độc đáo đã tạo nên vẻ đẹp thanh bình cho vùng quê lấy gieo
trồng lúa nước làm cơ sở sinh tồn và phát triển.
Từ ngày căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn – Võ Nhai ra đời, vùng quê này đã đi vào
lịch sử như những “địa chỉ đỏ”, nơi nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che cho nhiều cán bộ
cấp cao của Đảng trong những năm cách mạng còn trong bóng tối đầy gian nan thách
thức, là nơi được Đảng và Chính phủ trọn để xây dựng ATK II trong giai đoạn 1941-
Công, thuộc các xã Minh Đức, Thành Công, Vạn Phái.
Tám, đất nâu vàng trên phù sa cổ, diện tích là 2.944ha, phân bố rải rác vùng
đồi bát úp thuộc các xã Phúc Thuận, Đắc Sơn, Nam Tiến. Loại đất này có độ dốc
<15
0
, tầng đất dày từ 50-70cm.
Chín, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, diện tích 384ha, đất có tầng dày trên
70cm, độ dốc <8
0
.
Mười, đất dốc tụ, có diện tích 3.330ha, phân bố rải rác ở hầu hết các xã trong
toàn huyện. Loại đất này có tầng dày >10cm, độ dốc <8
0
.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
Trong 10 loại đất trên, các loại đất phù sa, bạc màu, dốc tụ và đất đỏ vàng biến
đổi do trồng lúa thường có độ dốc thấp, tầng đất dày >100cm, rất thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp nhưng nó chỉ chiếm 35% diện tích tự nhiên của toàn huyện. Mặt
khác trong những năm gần đây, loại đất này chuyển sang đất sản xuất cơ sở hạ tầng,
khu công nghiệp, khu đô thị…rất lớn làm giảm nhanh chóng diện tích đất nông
nghiệp của toàn huyện. Điều này, buộc ngành nông nghiệp Phổ Yên phải chuyển
hướng theo đầu tư chiều sâu, sản xuất sản phẩm hàng hoá chất lượng cao. Đất đỏ
vàng trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ có
diện tích chiếm 61,6% diện tích đất toàn huyện, hầu hết có độ dốc trên 25
0
. Đây là
vốn đất mà trong quy hoạch cần lưu ý bố trí cây trồng và áp dụng các công nghệ sử
phần quan trọng trong sinh hoạt và cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp,
nguồn lợi để nuôi trồng thuỷ sản. Phần lớn ao hồ nằm rải rác trong các xóm xã có mật
độ dân số lớn thường có độ sâu từ 1-2m. Điển hình là trên địa bàn huyện có hồ Suối
Lạnh nằm trên địa bàn xã Thành Công, đây là hồ nhân tạo lớn nhất của huyện Phổ
Yên. Hồ Suối Lạnh cũng là nơi cung cấp một lượng nước tưới tiêu cho nông nghhiệp
tương đối lớn và hiện tại Hồ Suối Lạnh nằm trong dự án phát triển khu du lich Suối
Lạnh của Huyện, tương lai sẽ là nơi thu hút khách du lịch lớn.
Hai hệ thống sông Cầu và sông Công không chỉ thuận lợi cho tưới tiêu,
cung cấp thuỷ sản cho nhân dân trong huyện mà còn là hệ thống giao thông
đường thuỷ hết sức quan trọng. Trong đó, cảng Đa Phúc trên sông Công là cảng
sông lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên hiện nay. Trong suốt chiều dài lịch sử sông
Cầu không chỉ là biên giới tự nhiên bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long mà
còn là tuyến đường huyết mạch giao lưu kinh tế nối đồng bằng Bắc Bộ với các
tỉnh miền núi phía Bắc. Hơn nữa dọc sông Cầu đoạn qua Phổ Yên còn có bến Đại
Phùng (nay là chợ Chã) là trung tâm giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền lớn
nhất trong khu vực, từ đây hàng hoá ngược lên Bến Thượng (Thái Nguyên) và
xuôi đến tận Hải Phòng.
Với vị trí cửa ngõ của tỉnh Thái Nguyên, bên cạnh những tuyến đường liên
huyện, liên xã được xây dựng và phát triển trong quá trình xây dựng về kinh tế xã
hội, huyện Phổ Yên còn có các tuyến đường quốc gia đi qua. Đó là đường quốc lộ số
3 từ Hà Nội đi Cao Bằng. Song song với đường bộ này là đường sắt Hà Nội - Thái
Nguyên. Đặc biệt, là tuyến đường Quốc lộ 3 mới Hà Nội – Thái Nguyên đã chính
thức đi vào hoạt động vào cuối năm 2013. Các tuyến đường quốc gia này cùng hệ
thống đường liên huyện, liên xã đã trở thành mạng lưới giao thông thuận tiện cho
phát triển kinh tế xã hội và việc đi lại của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế văn
hoá của Phổ Yên ngày càng phát triển mạnh.
Hiện nay, Phổ yên là một trong những trung tâm công nghiệp của tỉnh Thái
Nguyên và được Đảng Nhà nước hết sức quan tâm, hàng loạt các khu công nghiệp
được xây dựng. Ngoài các dự án công nghiệp như khu công nghiệp Nam Phổ yên,
ra nhiều vấn đề cần giải quyết, điển hình là trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai,
do đó phương án quy hoạch và kế hoạch sử dụng phải lưu ý đặc thù này nhằm đáp
ứng yêu cầu sử dụng đất hiệu quả đảm bảo về cảnh quan và môi trường sinh thái.
Đồng thời phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
1.2.1. Về kinh tế
Phổ Yên là huyện có nền kinh tế nông-lâm nghiệp, công nghiệp-tiểu thủ công
nghiệp đều phát triển, trong đó sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện, chủ yếu là sản xuất cây lương thực và
thực phẩm. Nhân dân Phổ Yên đã đi từ sản xuất thô sơ, canh tác phụ thuộc vào thời
tiết tiến lên nắm bắt thời vụ, phân ra đôi vụ chiêm mùa đúc rút kinh nghiệm về thâm
canh, chống lụt phòng hạn. Dọc theo sông Cầu, một hệ thống đê điều được xây dựng
vừa bảo vệ mùa màng, vừa bảo vệ thôn xóm rất hiệu quả.
Dưới thời Pháp thuộc, Phổ yên là vùng đất được thực dân Pháp rất coi trọng và
đầu tư bởi nơi đây có tiềm lực lớn để phát triển các đồn điền trồng lúa và thầu dầu:
đồn điền Chã, Thác Nhái, Sơn Cốt, Phúc Thuận…
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ nhân dân Phổ Yên đã vượt qua
mất mùa, thiên tai, gắng sức bám đất sản xuất phục vụ cho kháng chiến, đầu năm
1954 nhân dân Phổ Yên đã đóng góp cho Nhà nước 630 tấn thóc đưa ra chiến
trường nuôi bộ đội. Năm 1967 là năm cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
diễn ra trên địa bàn huyện Phổ Yên ác liệt nhất, nhưng quân và dân trong huyện
vẫn giữ vững và phát triển sản xuất nông nghiệp. Từ năm 1986 thực hiện đường
lối đổi mới do Đại hội đại biểu biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng
12/1986) đề ra, Phổ Yên đã tập trung thực hiện “Đổi mới cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, cải tổ cơ cấu kinh tế nông thôn” do đó kinh tế nông nghiệp của huyện phát
triển mạnh cả về trồng trọt và chăn nuôi [41].
95% kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ [8].
Đạt được những kết quả trên là do huyện Phổ Yên đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh
công tác tuyên truyền phổ biến, tập huấn hướng dẫn nhân dân thực hiện gieo trồng đúng
thời vụ, chăm sóc thâm canh theo quy trình kỹ thụât, chuẩn bị đủ vật tư, phân bón, giống
phục vụ cho sản xuất, chi ngân sách huyện hỗ trợ tu sửa các trạm bơm, nạo vét kênh
mương nội đồng, đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng, hỗ trợ giá cả giống lúa lai, ngô lai
và đầu tư xây dựng mô hình điểm về phát triển sản xuất. Đặc biệt, hàng năm huyện tổ
chức thành công “Lễ hội mừng xuân xuống đồng vì nông thôn mới tươi đẹp” và tết trồng
cây mừng xuân để khuyến khích sản xuất trong nhân dân.
Với nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp lớn trong những năm gần đây huyện Phổ
Yên đã đẩy mạnh trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, đưa tổng diện tích trồng rừng lên
7717ha (2012). Kinh tế nông thôn Phổ Yên có bước phát triển mới theo hướng đa
dạng hoá ngành nghề, các làng nghề truyền thống đang được khôi phục phát triển như
nghề mộc, mây tre đan…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
Thực hiện luật hợp tác xã, toàn bộ huyện đã chuyển đổi và thành lập được
43 hợp tác xã dịch vụ, góp phần phục vụ tốt sản xuất và đời sống của nhân dân.
Năm 2005 cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện: trồng trọt 63,49%, chăn nuôi
34,99% và dịch vụ là 1,52%. Đến năm 2008 cơ cấu trong ngành nông nghiệp Phổ
Yên đã có sự thay đổi mạnh: trồng trọt chiếm 56,4%, chăn nuôi chiếm 39,9% và
dịch vụ chiếm 3,6% [3].
Trên cơ sở các ngành thủ công truyền thống: mây tre đan, đóng gạch ngói, làm
chè, khai thác cát sỏi, làm đồ hàng mã…trong những năm qua ngành thủ công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp truyền thống của huyện có bước phát triển mới. Bên cạnh
những ngành thủ công củ đã xuất hiện một số ngành nghề mới du nhập và phát triển
trên địa bàn huyện: làm đồ thủ công mỹ nghệ, đóng đồ gỗ, gò hàn xì…Đặc biệt, các
nhà máy cơ khí như nhà máy cơ khí Phổ Yên đã cổ phần hoá, sản xuất đạt hiệu quả
thông đi lại thuận lợi hơn nên trao đổi buôn bán trên địa bàn huỵên được đẩy mạnh,
đa dạng về hàng hoá, mẫu mã sản phẩm, đặc biệt chợ Ba Hàng (chợ Phổ Yên) đã trở
thành chợ đầu mối lớn không chỉ của huyện Phổ Yên mà còn của tỉnh Thái Nguyên
về các mặt hàng nông sản, thực phẩm…
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của Phổ Yên được chuyển dịch tích cực theo hướng
phát triển công nghiệp-dịch vụ. Tỷ trọng kinh tế các ngành nông lâm nghiệp từ
64,01% (năm 2000) giảm xuống còn 49,55% (năm 2005); công nghiệp từ 20,69%
(năm 2000) tăng lên 29,44% (năm 2005); dịch vụ tăng từ 15,3% (năm 2000) lên
21,02% (năm 2005). Đến năm 2012, cơ cấu kinh tế của huyện Phổ Yên đã có sự thay
đổi mạnh công nghiệp-xây dựng chiếm 66,7%, dịch vụ 22%, nông – lâm thuỷ sản
chiếm 11,3%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong năm 2012 toàn huyện đạt
20,3%, GDP bình quân đấu người đạt 55 triệu đồng/người/năm; đời sống nhân dân
được cải thiện, góp phần ổn định chính trị và an ninh xã hội trong vùng.
1.2.2. Về xã hội
Dân cư huyện Phổ Yên do nhiều bộ phận hợp thành. Bên cạnh một bộ phận
lớn là dân bản địa định cư từ lâu đời là một bộ phận dân cư do bọn điền chủ người
Pháp và người Việt mộ vào làm thuê cho chúng ở các đồn điền. Một bộ phận khác là
đồng bào ở các tỉnh vùng địch tạm chiếm lên tản cư kháng chiến, rồi ở lại định cư lâu
dài và một bộ phận là đồng bào các địa phương khác tự do di cư đến địa bàn huyện
sinh cơ, lập nghiệp. Cụ thể, ngoài người Kinh chiếm 92,42% còn có người Sán Dìu
chiếm 6,25%, người Tày chiếm 0,59%, người Dao và người Nùng đều chiếm 0,29%,
người Mường chiếm 0,06%, còn lại 0,1% là người các dân tộc khác [41].
Trong suốt quá trình phát triển dân số của huyện Phổ Yên không ngừng tăng
lên qua các năm và theo từng thời kì ví như năm 1932 toàn huyện có 14.183 người
đến năm 2006 tăng lên 139.961 người, với 34.990 hộ gia đình (bình quân 4,35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
17
người/hộ), dân số thành thị chiếm 9,35%, dân số nông thôn chiếm 90,47%. Mật độ
). Còn
nơi dân số tập trung ít nhất là xã Phúc Tân với diện tích là 33,85 km
2
nhưng dân số của
xã là 2873 người, vì vậy mật độ dân số thâp 85 người/km
2
.
Bảng 1.1: Số lƣợng và cơ cấu dân số Phổ Yên năm 2008
Chỉ tiêu
Năm 2008
Số lượng
Cơ cấu (%)
1. Tổng dân số trung bình
138.608
100
1.1.Tổng dân số chia theo giới Tổng dân số nam
68.819
49,65
Tổng dân số nữ
69.789
50,35
1.2.Tổng dân số chia theo khu vực Dân số thành thị
13.211
9,53