MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nh chóng ta đã biết, để giao tiếp với người khác bằng ngôn ngữ, ta phải
nói thành lời. Muốn nói thành lời thì trước hết phải nói thành câu. Câu là đơn
vị ngôn ngữ nhỏ nhất thực hiện được chức năng thông báo, nghĩa là trao đổi
được nhận thức, tư tưởng giữa người với người.
Câu là đơn vị dùng để giao tiếp giữa người với người trong xã hội. Vì
vậy, khi nói (hoặc viết), người nói (hoặc người viết) không thể tự do tùy tiện
muốn tạo câu thế nào cũng được. Muốn diễn đạt đúng ý và muốn người khác
hiểu đúng ý của mình, người nói (người viết) phải biết lựa chọn, biết tạo câu
sao cho đúng những quy tắc mà mọi người trong cùng một cộng đồng ngôn
ngữ chấp nhận và sử dụng. Có đặt được câu đúng, câu hay hoạt động giao tiếp
mới đạt được hiệu quả.
Chính vì lẽ đó, từ nhiều năm nay, khi dạy học môn tiếng Việt ở trường
phổ thông người ta đã rất chú trọng dạy phần ngữ pháp - câu cho học sinh.
Câu tiếng Việt được đưa vào chương trình dạy học môn tiếng Việt ở cả tiểu
học, trung học cơ sở lẫn bậc phổ thông trung học. Câu (tiếng Việt) được chú
trọng nh vậy là do hiệu quả sử dụng của nó trong giao tiếp. Nếu một người
không có kỹ năng tạo câu tốt thì hoạt động tư duy, hoạt động giao tiếp của
người đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Ý thức được điều này, các thầy cô giáo giảng dạy ngữ văn ở phổ thông
đã cố gắng cung cấp những kiến thức về câu và rèn luyện kỹ năng đặt câu
đúng, đặt câu hay cho học sinh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt
được, việc dạy và học về câu tiếng Việt ở nhà trường phổ thông vẫn còn nhiều
hạn chế. Điều này được biểu hiện trực tiếp qua kết quả học tập của học sinh.
Các em được học rất nhiều về tiếng Việt, được rèn luyện các kỹ năng sử dụng
tiếng Việt nhưng các em vẫn mắc nhiều lỗi khi sử dụng tiếng Việt. Các em
1
học nhiều về đơn vị câu nhưng khi đặt câu, các em vẫn mắc nhiều lỗi về câu.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến hiện trạng đó? Giải pháp nào hạn chế và khắc
phục được việc mắc lỗi đó của học sinh? Đây là những câu hỏi lâu nay các
càng hoàn thiện và nâng cao.
Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc chuẩn hóa ngôn ngữ cho
học sinh nói chung, học sinh Trung học cơ sở ở tỉnh Yên Bái nói riêng, tác giả
luận văn chọn đề tài: "Lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh Trung học cơ
sở tỉnh Yên Bái - nguyên nhân và cách chữa".
II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, câu có vai trò rất quan trọng. Câu
giúp cho việc hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng, tình cảm từ người này
sang người khác. Vì vậy, để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả, người tham gia giao
tiếp phải đặt được câu đúng, câu hay. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi tạo câu
người nói, người viết thường hay mắc lỗi. Việc đặt câu sai dễ gây ra sự hiểu lầm
làm cản trở đến việc bày tỏ tình cảm, thái độ, nhận định, đánh giá… của mọi
người với nhau. Vì vậy, vấn đề này nếu không được tìm hiểu, nghiên cứu để tìm
ra biện pháp khắc phục thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp, tư duy nói chung,
ảnh hưởng đến kết quả dạy và học môn tiếng Việt ở nhà trường phổ thông nói
riêng.
Chính vì thế, vấn đề “lỗi về câu - nguyên nhân và cách chữa”luôn là một
vấn đề "nóng" thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, của các thầy cô
giáo giảng dạy môn Tiếng Việt.
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Tưởng -
Nguyễn Thu - Lê Xuân Khoa đã cho ra đời cuốn sách "Sai, đúng, hay trong việc
dùng từ, đặt câu, chấm câu" (Sách dùng cho học sinh cấp 2). Trong cuốn sách
này, các tác giả đã trình bày, giới thiệu cho học sinh cách đặt câu thế nào là đúng
và bước đầu chỉ ra hai loại lỗi học sinh thường mắc phải khi đặt câu là: câu viết
3
sai cú pháp và câu sai logic.
Tiếp theo, trên tạp chí Ngôn ngữ, số 1 năm 1969, tác giả Trần Phô đăng
bài: "Có thể tìm con đường ngắn nhất để dạy viết đúng câu". Trong năm bài
dạy về câu mà Trần Phô đưa ra có một bài dạy về lỗi câu và cách chữa. Trong
bài viết của mình, Trần Phô bước đầu chỉ ra ba trường hợp câu sai là: thiếu
Đứng trước thực tế này, một số tác giả đã có những đề nghị cải tiến cách
xác định lỗi về câu và cách chữa lỗi câu. Tác giả Nguyễn Mai Hồng trong bài
viết: "Mối quan hệ giữa ý và lời trong quá trình hình thành một số kiểu câu
sai của học sinh" đưa ra ý kiến: "Việc phân tích cấu trúc nội bộ của từng câu
sai riêng lẻ là việc làm đầu tiên không thể thiếu được. Song nếu chỉ chú ý câu
sai trong khuôn khổ một câu riêng lẻ, chúng ta sẽ bị hạn chế tầm nhìn và đi
tới việc phân tích nguyên nhân không đầy đủ, đề ra cách chữa không sát hợp"
[25,42]. Để chữa lỗi về câu, tác giả Nguyễn Mai Hồng đề xuất: "Việc chữa
câu sai có thể được tiến hành ở một khâu sâu hơn cấu trúc bề mặt của nó:
chữa ở quá trình tạo câu, ở nơi sẽ sản sinh ra hàng loạt câu sai" [25,42].
Nh vậy, trong bài viết này, Nguyễn Mai Hồng đã đề cập đến hướng giải
quyết lỗi về câu của học sinh từ góc độ tư duy của các em. Đây là một đề xuất
đúng, tích cực nhưng rất khó thực hiện để giáo viên có thể chữa lỗi cho học sinh.
Cũng bàn về vấn đề dựa vào cấu trúc câu để chữa câu sai, trong bài viết:
"Tìm cách giúp thêm cho học sinh viết đúng câu tiếng Việt", tác giả Diệp
Quang Ban khẳng định: "Việc nghiên cứu câu sai của học sinh dựa vào cấu
trúc là một việc cần thiết, bổ Ých nhưng chưa đủ. Đã đến lúc phải áp dụng
vào việc dạy viết văn, cái bậc nổi hơn bậc cấu trúc thực sự thường dùng hiện
nay nhằm trang bị thêm cho học sinh một số kiến thức nữa giúp họ tránh lỗi.
Nói cách khác, cần đề cập đến một số nhân tố trong việc chuyển từ ngôn ngữ
sang lời nói chứ không dừng lại ở một số mô hình tiềm tàng của ngôn ngữ
thuần túy"[9,63].
5
Đề xuất của hai tác giả Nguyễn Mai Hồng và Diệp Quang Ban bước đầu
đã tiếp cận với những yêu cầu của việc chữa câu sai ở bình diện chức năng.
Tiếc rằng, những đề nghị này lại chưa được hai tác giả tiếp tục triển khai một
cách cụ thể mà mới chỉ dừng lại ở bước đặt vấn đề.
Cùng nghiên cứu về câu sai của học sinh, tác giả Nguyễn Đức Dân lại
xem xét ở một góc độ khác: góc độ tâm lí và ông đã chỉ ra hiện tượng: "Chập
cấu trúc - một quá trình tâm lí trong những câu sai của học sinh" (NCGD, sè 7
cấu rối nát; câu không đảm bảo sự phát triển liên tục của ý trong đoạn văn.
Sau mỗi loại câu sai, các tác giả trình bày nguyên nhân sai và phương
hướng sửa chữa lỗi.
Tiếp theo ta phải kể đến cuốn "Tiếng Việt (thực hành)" của Nguyễn Đức
Dân (Tủ sách Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 1995). Trong cuốn
sách này, Nguyễn Đức Dân dành cả chương II của phần: "Một số vấn đề của
câu" để trình bày về câu sai, những loại câu sai. Trong sách, Nguyễn Đức Dân
đưa ra 6 loại lỗi về câu là: câu sai do sai chính tả, những câu sai về từ ngữ,
những câu sai về ngữ pháp, sai logic,sai phong cách và sai trong liên kết câu.
Ở mỗi loại lỗi, tác giả đưa ra ví dụ cụ thể, phân tích nguyên nhân dẫn đến
vi phạm lỗi và đề ra cách sửa cho mỗi loại câu sai.
Trong cuốn: "Tiếng Việt thực hành" của Nguyễn Minh Thuyết (chủ
biên) và Nguyễn Văn Hiệp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, các tác giả
dành chương II để trình bày về câu, trong đó có viết về lỗi câu. Ở phần này,
hai tác giả quy lỗi về câu về ba loại: các lỗi về cấu tạo câu, các lỗi về dấu câu
và các lỗi về liên kết câu.
Đồng thời với việc phân loại lỗi, các tác giả của sách còn đưa ra một hệ
thống bài tập thực hành chữa lỗi về câu khá phong phó.
Năm 1997, nhóm tác giả Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hùng cũng
xuất bản cuốn giáo trình mang tên: "Tiếng Việt thực hành" (NXB Giáo dục,
7
1997). Trong cuốn sách, phần chữa các lỗi về câu, các tác giả phân loại câu
mắc lỗi thành 5 loại: lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu, lỗi về quan hệ ngữ
nghĩa trong câu, lỗi về câu thiếu thông tin, lỗi về dấu câu và lỗi về phong
cách.
Trong sách, các tác giả đưa ra hệ thống bài tập đa dạng, tiêu biểu cho
từng loại lỗi nhằm rèn luyện kỹ năng nhận diện, phân tích và nắm được cách
chữa câu sai cho sinh viên. Cuốn giáo trình biên soạn bám sát chương trình
thực hành do Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành nên đáp ứng phần nào nhu cầu
dạy học môn tiếng Việt, nhu cầu dạy - học câu, chữa lỗi về câu tiếng Việt cho
nói, trong các công trình nghiên cứu được giới thiệu ở trên, các tác giả đã rất
cố gắng trong việc nghiên cứu, phân loại và đề xuất các phương pháp chữa lỗi
về câu. Một số tác giả đã xây dựng được một số dạng bài tập rèn luyện kĩ
năng tạo lập câu, kĩ năng nhận diện và chữa lỗi câu cho học sinh, sinh viên.
Tuy nhiên, do xuất phát từ cách tiếp cận, cách nhìn nhận câu sai dựa trên
những quan điểm khác nhau mà giữa các tác giả chưa có sự thống nhất trong
cách phân loại lỗi về câu cũng như phương pháp chữa cho từng loại lỗi. Chính
điều này đã gây trở ngại cho người dạy, người học. Họ lúng túng trong việc
lựa chọn cách nhận diện và chữa lỗi câu.
Hơn nữa, hầu hết các công trình nghiên cứu nêu trên, khi khảo sát lỗi về
câu, các tác giả chủ yếu khảo sát các lỗi trên sách, báo hoặc trên bài viết của
học sinh Trung học phổ thông, sinh viên ở một số trường đại học mà chưa có
công trình nào đi sâu vào nghiên cứu lỗi về câu trong bài làm văn của học
sinh THCS để đưa ra phương hướng chữa câu cho phù hợp với các em. Vì
vậy, vấn đề "lỗi về câu - nguyên nhân và cách chữa" vẫn là một vấn đề ngỏ,
tiếp tục thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo giảng
dạy tiếng Việt.
III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
9
1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu lỗi về câu trong bài làm văn của học
sinh THCS tỉnh Yên Bái, tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi và đưa ra cách chữa
phù hợp nhằm rèn luyện cho học sinh biết phát hiện lỗi, biết cách chữa lỗi
trong bài văn của mình cũng như của người khác. Đồng thời giúp các em
tránh được các lỗi về câu khi tạo lập văn bản. Lỗi về câu là lỗi thường gặp
trong bài làm của học sinh. Để chữa được lỗi, học sinh phải có kiến thức về
ngữ pháp, về câu tiếng Việt. Việc cung cấp kiến thức đó không phải là nhiệm
vụ của đề tài. Song, khi tìm hiểu lỗi về câu, những kiến thức về ngữ pháp -
câu và ngữ pháp văn bản… sẽ là cơ sở giúp nhận diện ra lỗi và chữa lỗi. Vì
vậy, chúng tôi đã xây dựng một hệ thống lý thuyết đáng tin cậy nhằm hệ
nhận thấy các em mắc khá nhiều lỗi về câu. Lỗi về câu các em mắc phải rất đa
dạng và trong một câu có thể có nhiều lỗi chồng chéo nhau. Vì vậy, trong
khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ có thể đưa ra một số loại lỗi về câu
phổ biến mà các em thường mắc và chỉ ra nguyên nhân, cách khắc phục các
loại lỗi đó.
Những lỗi về câu mà học sinh THCS Yên Bái thường vi phạm là:
- Lỗi về cấu tạo ngữ pháp
- Lỗi về nội dung logic - ngữ nghĩa
- Lỗi về dấu câu
- Lỗi về liên kết câu trong văn bản
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thực tiễn mắc lỗi và
chữa lỗi về câu trong nhà trường THCS tỉnh Yên Bái. Để tìm ra các loại lỗi về
11
câu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số bài làm văn của học sinh THCS
để tìm hiểu những lỗi về câu mà các em đã mắc phải. Đồng thời, tác giả luận
văn còn dự giờ, khảo sát các tiết dạy, phỏng vấn giáo viên, soạn phiếu điều tra
dành cho giáo viên giảng dạy môn ngữ văn ở các trường THCS trong tỉnh
Yên Bái về các vấn đề có liên quan đến đề tài.
2. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê nhằm xác định, phân loại các loại lỗi về câu có
trong bài làm văn của học sinh làm cơ sở để có thể chữa lỗi câu cho các em.
Bên cạnh đó, phương pháp thống kê còn được sử dụng để xử lí các kết quả
thu được sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm.
3. Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ được sử dụng trong việc phân tích câu
nhằm xác định câu đúng, phát hiện câu sai phân tích tìm nguyên nhân dẫn đến
việc viết câu sai của học sinh THCS tỉnh Yên Bái để từ đó đưa ra cách chữa
A. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Để có thể nhận diện và chữa lỗi về câu cho học sinh một cách chính xác,
toàn diện, khoa học, trước tiên chúng ta phải dựa vào tiền đề lí thuyết khoa
học. Có rất nhiều lí thuyết khoa học liên quan và giúp Ých cho việc chữa lỗi
về câu nh Giáo dục học, Tâm lí học, Tâm lí ngôn ngữ học. v.v nhưng do
khuôn khổ của luận văn, tác giả luận văn chỉ trình bày những vấn đề lí thuyết
cần yếu có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết nhiệm vụ của đề tài. Đó là
về câu tiếng Việt; về văn bản và những yêu cầu chung của việc đặt câu trong
văn bản.
I. CÂU TIẾNG VIỆT
Khi nghiên cứu ngôn ngữ, câu là một trong những đối tượng được các
nhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm. Trong các tài liệu ngôn ngữ học ở nước
ta cũng như trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về câu nhưng do nghiên
cứu từ những góc độ khác nhau, phương diện khác nhau mà các định nghĩa về
câu của các nhà nghiên cứu có những điểm khác nhau. Hiện nay, khi nghiên
cứu về câu các nhà nghiên cứu thường xem xét câu ở ba bình diện: kết học,
nghĩa học, dụng học. Khi tìm hiểu câu trên ba bình diện Êy ta thấy câu có
những nét chung như:
- Về chức năng, câu có chức năng thông báo và là đơn vị thông báo nhỏ
nhất.
- Về nội dung, câu thông tin cho người ta biết một tin nào đấy và kèm
theo tin đó câu còn cho ta biết thái độ, tình cảm cách đánh giá của người nói
(hoặc người viết) với nội dung “tin” được nói tới và đối với người nghe (hoặc
người đọc).
14
- VÒ hình thức, câu được cấu tạo theo các quy tắc nhất định của một
ngôn ngữ, có tính tự lập và mang ngữ điệu kết thúc.
Nh vậy, với cách hiểu nh trên câu được xem xét toàn diện hơn. Ở đây,
câu được xem xét không chỉ bó hẹp trong cấu trúc cú pháp của nó mà còn
được xem xét ở phương diện nghĩa và phương diện chức năng. Trong luận
chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết về nội dung. Sự liên kết về nội dung của
các câu được biểu hiện ở việc tất cả các câu trong văn bản phối hợp với nhau
một cách hài hoà và bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung của văn
bản. Liên kết hình
thức chính là sự sử dụng phối hợp hài hoà các yếu tố ngôn ngữ để vật chất
hoá sự liên kết nội dung.
Có thể nói, chính sự liên kết của các câu là nhân tố khiến cho một tập
hợp các câu trở thành một văn bản thống nhất, đồng thời cũng chính sự liên
kết này là điều kiện cho sự tồn tại và “đứng vững” của mỗi câu trong đoạn
văn và văn bản. Tìm hiểu lỗi về câu trong các bài tập làm văn là xem xét
những văn bản mà học sinh tạo ra. Vì vậy, những vấn đề lí luận về văn bản,
về liên kết liên câu trong văn bản là cơ sở để tác giả luận văn xem xét một
cách thoả đáng những trường hợp câu không đầy đủ cấu trúc có trong các bài
văn, là cơ sở để xem xét những trường hợp nào câu được coi là đúng, những
trường hợp nào câu bị coi là sai. Đồng thời, những hiểu biết về văn bản và
liên kết câu trong văn bản còn là cơ sở chúng tôi dựa vào đó để xác định
những lỗi về liên kết câu có trong bài làm văn của học sinh, từ đó đưa ra cách
chữa phù hợp.
III. NHỮNG YÊU CẦU CHUNG CỦA VIỆC ĐẶT CÂU TRONG VĂN BẢN
Muốn giao tiếp với nhau chóng ta không những phải huy động, lựa chọn
từ ngữ mà còn phải biết tạo câu, đơn vị ngôn ngữ có chức năng thông báo.
Khi đặt câu, nhất là đặt câu trong văn bản, người viết cần đáp ứng những yêu
16
cầu chung về câu như sau:
3.1. Đặt câu phải đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người trong
xã hội. Để thực hiện chức năng giao tiếp, trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ tồn
tại những quy tắc tạo câu đặc trưng cho ngôn ngữ của cộng đồng đó. Vì vậy,
trong quá trình sử dụng, người tham gia giao tiếp không thể tùy tiện muốn tạo
câu thế nào cũng được.Muốn giao tiếp được và giao tiếp có hiệu quả, mỗi cá
chủ ngữ,vị ngữ nêu lên đặc trưng hoặc quan hệ vốn có ở vật nói ở chủ ngữ
hoặc có thể áp đặt chúng một cách có lÝ do cho vật đó" [6, 43].
* Các thành phần ngoài nòng cốt câu
- Thành phần trạng ngữ
Thành phần trạng ngữ là thành phần phụ của câu trình bày hoàn cảnh
diễn ra sự kiện được miêu tả ở nòng cốt của câu.
Ví dô: Sáng nay, trời bắt đầu trở lạnh.
- Thành phần đề ngữ
Thành phần đề ngữ là thành phần phụ của câu, đứng trước nòng cốt câu,
được dùng để nêu một vật, một đối tượng, một nội dung cần bàn bạc, với tư
cách chủ đề của câu chứa nó.
Ví dô: Lũ chúng tôi, bọn người tứ xứ.
- Thành phần tình thái
Thành phần tình thái là thành phần phụ biểu thị quan hệ giữa nội dung
câu nói với hiện thực, giữa người nói với nội dung sự việc được nói tới, giữa
người nói và người nghe.
Ví dô: Vâng, cháu cũng đã nghĩ nh cô.
- Thành phần phụ chú
Thành phần phụ chú là thành phần có tác dụng ghi chú các chi tiết về
thái độ, tình cảm, về nguồn gốc làm cho người ta hiểu câu nói đúng hơn, rõ
18
hơn.
Ví dụ: Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều, là đại thi hào của dân tộc Việt Nam.
- Thành phần liên kết (chuyển tiếp)
Thành phần liên kết thường đứng ở đầu câu, thực hiện chức năng chuyển
tiếp từ câu nọ sang câu kia hoặc liên kết các câu với nhau.
Ví dô: Tóm lại, nhiệm vụ nghiên cứu mặt trăng rất quan trọng.
(Tạ Quang Bửu)
Nh vậy, việc cấu tạo câu đơn nói chung, việc cấu tạo các thành phần câu
nói riêng đều có các quy tắc riêng nên khi đặt câu nếu không tuân thủ các quy
thiếu thành phần.
3.1.2.2. CÊu tạo đúng kiểu câu phức thành phần câu
Câu phức thành phần câu là câu có chứa thêm cụm chủ vị khác trong
nòng cốt.
- Câu có chủ ngữ là một cụm chủ vị
Ví dô: Cách mạng tháng Tám thành công đã tạo bước tiến nhảy vọt cho
Việt Nam.
- Câu có vị ngữ là một cụm chủ vị
Ví dụ: Giếng làng em nước rất trong.
- Câu có cụm chủ vị làm thành tố phô cho danh từ hoặc động từ
Ví dô: (1) Cái áo tôi mới mua rất đẹp.
(2) Tôi thấy anh Êy ở nhà.
3.1.2.3. CÊu tạo đúng kiểu câu ghép
Câu ghép là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên (hai nòng cốt câu đơn) đồng
thời các cụm chủ vị có tính độc lập tương đối so với nhau, không có cụm chủ
vị nào làm thành phần cho một cụm chủ vị nào. Mỗi cụm chủ vị nh thế làm
thành một vế và chúng ghép lại để tạo thành một đơn vị mới.
Trong câu ghép, về mặt ngữ pháp, các vế câu có thể có quan hệ đẳng lập
20
hay quan hệ chính phụ với nhau, về mặt ý nghĩa, có nhiều quan hệ khác nhau.
- Câu ghép đẳng lập biểu hiện quan hệ ý nghĩa liệt kê
Ví dụ: Mặt trời lên và sương mù tan dần.
- Câu ghép đẳng lập có quan hệ lựa chọn
Ví dụ: Ngày mai, hoặc là anh đi hoặc là tôi đi.
- Câu ghép đẳng lập có quan hệ đối nghịch, tương phản
Ví dụ: Tôi đến chơi nhưng anh Êy đi vắng.
- Câu ghép đẳng lập có quan hệ hô ứng
Ví dụ: Mưa càng to, gió càng mạnh
- Câu ghép chính phụ có quan hệ giả thuyết (điều kiện) - hệ quả
Ví dụ: Nếu tôi được về Hà Nội thì tôi sẽ đi thăm lăng Bác.
và quy luật của nhận thức, tư duy chung của con người.
- Quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận trong câu phải phù hợp với các
phương tiện hình thức thể hiện quan hệ, nếu không có sự phù hợp đó, câu
cũng sai.
- Nội dung của các thành phần câu, các bộ phận trong câu phải có sự
tương hợp, không được mâu thuẫn nhau.
- Về mặt nghĩa, câu trong văn bản còn yêu cầu phải có thông tin mới.
Mỗi câu vừa duy trì, vừa phát triển nội dung chung của văn bản, của câu đi
trước. Nếu câu không có thông tin thì vô bổ và không góp phần vào sự phát
triển nội dung của văn bản.
3.3. Câu phải được đánh dấu câu thích hợp
Chóng ta đều biết, ngôn ngữ viết không giống với ngôn ngữ nói. Một
trong những điểm quan trọng để phân biệt sự khác nhau Êy là ngôn ngữ viết
không có những điều kiện phụ trợ để diễn tả (nh ngữ điệu, cử chỉ ) bên cạnh
những tín hiệu của nó là chữ viết. Thay cho những điều kiện Êy, chữ viết cần
có các dấu ngắt câu. Dấu ngắt câu là những kí hiệu dùng trong chữ viết giúp
22
cho sự diễn đạt ngôn ngữ được minh bạch. Nó có tác dụng làm cho cấu tạo
câu văn và quan hệ ngữ pháp giữa các từ trong câu được rõ ràng, giúp cho
việc diễn đạt nội dung được chính xác. Nếu không dùng dấu câu hoặc dùng
dấu câu không thích hợp thì nghĩa của câu có thể bị hiểu sai hoặc được hiểu
theo nhiều cách khác nhau, gây khó khăn cho việc lĩnh hội văn bản.
Chữ viết của tiếng Việt hiện nay có 10 dấu câu:
- Dấu chấm đánh dấu kết thúc câu trần thuật
- Dấu hỏi đánh dấu kết thúc câu hỏi
- Dấu chấm than đánh dấu kết thúc câu cầu khiến và câu cảm thán
- Dấu hai chấm là dấu dùng ở trong câu báo hiệu phần đi sau có tính chất
giải thích, cụ thể hóa, nêu dẫn chứng hay liệt kê các phương diện khác nhau
của nội dung mà bộ phận câu đi trước biểu hiện.
- Dấu ba chấm biểu thị sự liệt kê chưa hết, biểu thị lời nói bị ngắt quãng
đứng biệt lập. Chúng chịu sự chi phối của một hạt nhân nghĩa. Hạt nhân nghĩa
chính là nội dung cô đúc và khái quát của văn bản. Muốn thể hiện được hạt
nhân nghĩa của văn bản các câu cần phải liên kết với nhau. Đó là sự liên kết
nội dung. Liên kết nội dung trong văn bản được thể hiện cụ thể ở sự thống
nhất về đề tài, ở sự nhất quán về chủ đề và sự chặt chẽ về lôgic.
- "Đề tài được hiểu là mảng hiện thực được tác giả nhận thức và thể hiện
trong văn bản. Khi tất cả các câu trong văn bản cùng tập trung nói về một đề
tài,một phạm vi hiện thực.v.v , thì văn bản đó được xác nhận đã có sự thống
nhất về đề tài" [32].
- "Chủ đề trong văn bản là quan điểm, là thái độ hoặc điều mà tác giả
muốn dắt dẫn người đọc đến thông qua đề tài của văn bản.Khi tất cả các câu
trong mét văn bản đều được viết theo mét quan điểm, một chính kiến , văn
24
bản đó sẽ có sự thống nhất chủ đề" [32].
- "Lôgíc là những quy luật tồn tại, vận động và phát triển của hiện thực
khách quan, đồng thời cũng còn là những quy luật của nhận thức về hiện thực
khách quan. Vì thế, muốn văn bản bảo đảm được sự thống nhất lôgíc, câu cần
phải phản ánh đúng quy luật Êy" [32].
Nh vậy, trong văn bản liên kết chủ đề thể hiện ở việc duy trì chủ đề và
triển khai chủ đề. Hơn nữa, sự triển khai chủ đề giữa các câu phải có tính
logic. Nghĩa là, quan hệ về nội dung của các câu phải có sự phù hợp với các
quan hệ và quy luật trong thực tế khách quan còng nh phù hợp với quy luật
nhận thức, tư duy của con người.
3.4.2. Liên kết hình thức
Liên kết hình thức là sự sử dụng phối hợp một cách hài hòa các yếu tố
ngôn ngữ để vật chất hóa sự liên kết nội dung, nghĩa là, giữa các câu với nhau
có những phương tiện hình thức để biểu hiện sự liên kết nội dung. Các yếu tố
ngôn ngữ đó thuộc một số phương thức hay phương tiện liên kết sau:
- Phương thức lặp: dùng lặp lại ở các câu một hay một số yếu tố ngôn
ngữ nào đó.