Sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú
học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử
Việt Nam từ năm 1919 đến 1945 lớp 9, trường
trung học cơ sở tỉnh Yên Bái Nguyễn Hải Yến Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy (Bộ môn Lịch sử)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trịnh Đình Tùng
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo nói chung
và tài liệu văn học nói riêng trong dạy học lịch sử dân tộc. Khảo sát, đánh giá tình
hình thực tiễn việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam ở một số
trường Trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái. Tìm hiểu chương trình, nội dung sách giáo
khoa lịch sử lớp 9 [phần lịch sử Việt Nam (1919-1945)] và tài liệu văn học thời kỳ
này để xác định những nội dung văn học có thể và cần sử dụng trong dạy học lịch sử
Việt Nam. Hệ thống hoá và đề xuất những biện pháp sư phạm có tính khả thi nhằm
tạo hứng thú học tập cho học sinh trong việc tổ chức dạy học trên lớp cũng như
ngoài giờ học. Qua thực nghiệm khẳng định hiệu quả sư phạm của các biện pháp đã
đề xuất, từ đó rút ra những kết luận về tính khả thi của các biện pháp được tiến hành.
Keywords. Phương pháp giảng dạy; Lịch sử; Hứng thú học tập; Lịch sử Việt Nam;
Tài liệu văn học; Yên Bái
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Sử dụng tài liệu Văn học nhằm tạo
hứng thú học tập cho HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 lớp 9,
trường THCS tỉnh Yên Bái” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục,
chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học lịch sử.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tài liệu nước ngoài
N.G.Đai ri trong cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào” khi đề cập đến yêu cầu
đối với giờ học Lịch sử, ông đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của nguồn tài liệu tham
khảo. Ông cho rằng để có một giờ học đạt hiệu quả GV “phải sử dụng không ngừng và có hệ
thống tất cả mọi nguồn tư liệu muôn hình muôn vẻ: tác phẩm kinh điển, văn kiện của Đảng
và Nhà nước, sách chuyên khảo, SGK, sách báo tạp chí, tác phẩm hội hoạ, những cuộc tham
quan” [20, tr. 10].
I.F.Khalamốp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” đã
khẳng định: “Vấn đề sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập… có lịch sử của nó mà theo
chúng tôi có những điều bổ ích đáng học hỏi…” bởi vì “… trong quá trình làm việc với sách
giáo khoa và tài liệu học tập, học sinh nắm vững và củng cố được kiến thức, đồng thời các
em tiếp thu được kỹ năng, kĩ xảo” [14, tr.37].
2.2. Tài liệu trong nước
Thái Duy Tuyên trong cuốn: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” cho rằng
việc sử dụng các tư liệu trong dạy học là vô cùng cần thiết. Nó có tác dụng nâng cao
hiệu quả bài học, làm phong phú vốn kiến thức cho HS…
Trịnh Đình Tùng, trong cuốn: “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung
học cơ sở” xuất bản năm 2006, đã viết: “Các tác phẩm văn học có vị trí, vai trò to lớn trong
việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng…, các tác phẩm
văn học bằng hình tượng cụ thể, có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người đọc,
trình bày những nét đặc trưng, điển hình của đời sống xã hội. Giữa văn học và các khoa học
nói chung, Sử học nói riêng có mối quan hệ khăng khít… Sử dụng các tác phẩm văn học sẽ
có tác dụng làm cho bài giảng lịch sử thêm sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập
của học sinh” [26, tr. 123].
3. Đối tƣợng nghiên cứu
+ Phương pháp thực nghiệm
+ Phương pháp thống kê toán học
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
7. Giả thuyết khoa học
Nếu GV vận dụng các biện pháp sử dụng tài liệu văn học theo yêu cầu mà luận văn
đưa ra thì sẽ góp phần tạo hứng thú học tập cho HS và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở
trường THCS tỉnh Yên Bái.
8. Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
8.1. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
Làm phong phú thêm lý luận về việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử
Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Giúp GV giảng dạy lịch sử nắm chắc nội dung tài liệu văn học cần thiết và các yêu
cầu, biện pháp sử dụng chúng để tạo hứng thú học tập cho HS trong quá trình dạy học lịch
sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 lớp 9 ở trường THCS trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
8.2. Đóng góp của đề tài
- Xác định được những tài liệu văn học có liên quan đến nội dung lịch sử Việt Nam
giai từ 1919 đến 1945 (ở lớp 9), sự cần thiết và mức độ sử dụng nó trong các bài giảng.
- Khẳng định rõ vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch
sử và đề xuất các biện pháp sử dụng mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn lịch sử ở tỉnh Yên Bái.
- Góp phần hoàn chỉnh thêm hệ thống cơ sở lý luận cho việc sử dụng tài liệu văn học
trong dạy học lịch sử Việt Nam.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nôi dung
chính luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo
hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường Trung học cơ sở.
Chƣơng 2: Các biện pháp sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú học tập cho
Quá trình nhận thức của HS được diễn ra theo con đường “từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận
thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” [7, tr 114].
HS có khả năng thu được những phản ánh khách quan về nội dung và chủ quan về hình
thức.
HS không phải là người tìm ra cái mới lạ mà chỉ là người tìm hiểu những tri thức khoa
học đã được khẳng định một cách gián tiếp thông qua người thầy và các phương tiện thông
tin khác.
HS ở lứa tuổi này thích tiếp xúc, khám phá khoa học.
1.1.4. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ GV nặng về cách dạy, cách học cũ, nhiều GV
chưa nhận thức được vai trò của việc kết hợp các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực,
độc lập nhận thức của HS trong học tập. Bên cạnh đó, SGK lịch sử đã được biên soạn theo tinh
thần đổi mới nhưng phương pháp dạy học của GV lại chưa theo kịp được nội dung của sách. Đặc
biệt, nhiều GV khi dạy chỉ truyền đạt lượng kiến thức giống hệt như trong SGK mà không sử
dụng thêm tài liệu tham khảo hay có sử dụng thì chỉ mang tính chất minh họa dẫn đến HS không
nắm được kiến thức cơ bản hoặc sa đà vào những câu chuyện không nhằm mục đích cụ thể hóa
và khắc sâu kiến thức….
Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trở thành một yêu cầu quan trọng,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học
lịch sử sẽ góp phần không nhỏ cho GV trong việc thực hiện hướng đổi mới này.
1.1.5. Quan niệm về tài liệu văn học và mối quan hệ giữa văn học với lịch sử
1.1.5.1. Quan niệm về tài liệu văn học
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi thì tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, do cá nhân hoặc tập thể sáng
tạo, phản ánh bằng hình tượng cuộc sống con người, biểu hiện tâm sự, tình cảm, thái độ của
chủ thể trước thực tại.
1.1.5.2. Các loại tài liệu văn học
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, GV có thể sử dụng các loại tài liệu văn học
chủ yếu sau:
quá trình học tập bộ môn.
+ Quan niệm về hứng thú học tập lịch sử:
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt thông dụng” do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên có đưa
ra khái niệm như sau: “Hứng thú học tập lịch sử là một thái độ say mê tự giác tích cực đặc
biệt của cá nhân đối với nội dung lịch sử cụ thể” [30, tr16].
1.1.7. Ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
trong dạy học lịch sử Việt Nam
- Về mặt kiến thức: Nó góp phần cụ thể hóa kiến thức lịch sử trong SGK mà HS cần thu
nhận.
- Về thái độ, tình cảm:
Định hướng lập trường tư tưởng chính trị cho HS.
Giáo dục thẩm mĩ cho HS.
Rèn luyện cho HS tinh thần chuyên cần, hăng say, chủ động, tích cực làm việc.
- Về kĩ năng:
Phát triển các thao tác tư duy cho HS: quan sát, tri giác, vận động trí tưởng tượng, nhận
xét, đánh giá khách, tư duy lôgic, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, tìm ra quy luật, rút ra
bài học lịch sử.
Phát triển kỹ năng phân tích, phán đoán, so sánh, đối chiếu…
Giúp HS nhận thức đúng đắn tri thức lịch sử, bản chất của sự vật, hiện tượng, nắm vững
quy luật và sự vận động của lịch sử, có cái nhìn biện chứng về các vấn đề lịch sử quá khứ,
hiện tại, tương lai.
Kĩ năng đọc sách, đánh dấu và ghi nhớ tài liệu, kỹ năng diễn đạt, lối hành văn của các em
sẽ dần trở nên thuần thục hơn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực tiễn việc dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở tỉnh Yên Bái
Qua tìm hiểu ban đầu, chúng tôi nhận thấy thực trạng của việc dạy và học môn lịch sử ở
tỉnh Yên Bái hiện nay đã quá chú tâm vào tính thuộc bài, theo kiểu học vẹt, thiếu không gian
tư duy. Hơn nữa, môn Lịch sử lâu nay vẫn được xem là môn phụ, thường được thay thế
cho môn ngoại ngữ đối với HS vùng nông thôn, miền núi nên cách dạy của các GV lại vẫn
theo điệp khúc: thầy đọc, trò chép. Tình trạng "học chay" và "dạy chay" diễn ra đều đặn. Các
Kết luận chƣơng 1
Tóm lại, trong nghiên cứu và dạy học lịch sử ở trường phổ thông, việc lựa chọn, sử dụng
tài liệu văn học có ý nghĩa và vai trò quan trọng để hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc. Việc
nghiên cứu, sử dụng tài liệu văn học không chỉ giúp làm phong phú kiến thức, cụ thể hoá kiến
thức lịch sử đang học; nhằm tạo cho HS có biểu tượng rõ ràng, cụ thể; tăng thêm tính sinh
động, gợi cảm của bài giảng và tạo hứng thú cho việc học tập của các em mà còn góp phần
bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và phát triển năng lực tư duy cho HS.
Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu thực tiễn của việc
sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử dân tộc. Trên tinh thần khách quan, khoa học,
trung thực, chúng tôi ghi nhận những mặt tích cực, tiến bộ đã đạt được và cũng chỉ ra những
mặt còn hạn chế, thiếu sót cần khắc phục. Qua đó, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng tài liệu
văn học trong dạy học lịch sử ở tỉnh Yên Bái hiện nay còn hạn chế, mang tính hình thức. GV
chưa lựa chọn, xác định được nguồn tài liệu, khi sử dụng thì chủ yếu dùng để minh hoạ bài
giảng chứ chưa xem đây là nguồn cung cấp kiến thức, khắc sâu kiến thức cho HS. Vì vậy, cần
thiết phải lựa chọn được nguồn tài liệu văn học, tìm ra các nguyên tắc và biện pháp sử dụng
chúng nhằm tạo ra hứng thú học tập cho HS, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
Vấn đề này sẽ được chúng tôi giải quyết ở chương 2 CHƢƠNG 2
CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC
NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1919 ĐẾN 1945
LỚP 9, TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH YÊN BÁI.
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
2.1. Mục tiêu và nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 ở trƣờng trung
học cơ sở
2.1.1. Mục tiêu
Nội dung phần lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 là những sự kiện lịch sử tiêu biểu
thống nhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930) và tháng 10/1930
đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn đối
với cách mạng nước ta.
Phong trào cách mạng đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng – phong trào cách mạng 1930
– 1931, với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh và cuộc đấu tranh để phục hồi phong trào (1932
– 1935).
- Khi tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, tiếp thu đường lối của Quốc tế
Cộng sản, Đảng ta đã phát động quần chúng tiến hành cuộc vận động dân chủ (1936 – 1939)
sôi nổi, rộng khắp. Cuộc đấu tranh này đã có ý nghĩa và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu cho Cách mạng tháng Tám sau này.
Giai đoạn lịch sử 1939 – 1945:
- Những biến chuyển của tình hình thế giới và Đông Dương nói chung, Việt Nam nói
riêng từ khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Một số cuộc nổi dậy mở đầu thời kì đấu
tranh mới (khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì, binh biến Đô Lương).
- Mặt trận Việt Minh ra đời và công tác chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng. Cao trào
kháng Nhật cứu nước tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.
- Cách mạng tháng Tám: thời cơ, diễn biến, nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử.
2.2. Các tài liệu văn học có thể khai thác sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ
1919 đến 1945 lớp 9, trƣờng trung học cơ sở
Bảng 2.1. Thống kê những tài liệu văn học
BÀI HỌC LỊCH SỬ
NHỮNG TÁC PHẨM VĂN HỌC CÓ THỂ KHAI THÁC
Bài 14: Việt Nam sau chiến
tranh thế giới thứ nhất.
- Dân ca thời Pháp thuộc.
- Tác phẩm: “ Á tế Á ca”
- Phan Bội Châu: Hải ngoại huyết thư
- Nguyễn Ái Quốc: Bản án chế độ Thực dân Pháp.
Bài 15: Phong trào cách
mạng Việt Nam sau chiến
Bài 21: Việt Nam trong
những năm 1939 – 1945
- Ca dao dân ca thời Pháp – Nhật thuộc
- Ngô Tất Tố: Làm no, Họ vẫn ăn vào cái xác chết.
- Nam Cao: Chí Phèo.
- Tố Hữu: Đói đói.
Bài 22: Cao trào cách mạng
tiến tới tổng khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945
- Kim Lân: Vợ nhặt
- Tố Hữu: Bà má Hậu Giang, Quyết hy sinh,
- Hồ Chí Minh: Nhật kí trong tù
Bài 23: Tổng khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945 và sự
thành lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà
- Tố Hữu: Hồ Chí Minh, Giết giặc, Sáng mùng 2 tháng 9.
- Hồ Chí Minh: Tuyên ngôn độc lập
2.3. Những yêu cầu khi sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 lớp 9, trƣờng trung học cơ sở tỉnh Yên
Bái
2.3.1. Đáp ứng mục tiêu dạy học
2.3.2. Đảm bảo nguyên tắc liên môn
2.3.3. Tạo được hứng thú học tập cho HS trong quá trình học tập
2.3.4. Kết hợp nhuần nhuyễn các con đường, biện pháp, thao tác sư phạm
2.4. Các biện pháp sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 lớp 9, trƣờng trung học cơ sở tỉnh Yên
Bái
2.4.1. Trong giờ nội khóa
- Kiểm tra viết
Kiểm tra, đánh giá thường được tiến hành dưới dạng câu hỏi tự luận hoặc trắc nghiệm
khách quan. Mỗi hình thức kiểm tra đều có ưu điểm và nhược điểm riêng nên GV phải kết
hợp chúng với tỷ lệ hợp lý trong một bài kiểm tra, đặc biệt là kiểm tra một tiết và kiểm tra
học kì.
2.4.1.7. Hướng dẫn học sinh tự đọc tài liệu văn học ở nhà
Sau khi hướng dẫn HS tìm được nguồn tài liệu, GV tiếp tục hướng dẫn cụ thể những nội
dung cần đọc, cần khoanh vùng. Đối với phần này, ta có thể chia HS ra thành các nhóm nhỏ,
mỗi nhóm sẽ được giao một nhiệm vụ cụ thể trong thời gian nhất định. Các em sẽ đọc các tài
liệu và tóm tắt, chắt lọc rồi ghi chép lại dưới dạng một tiểu luận. Sau đó GV phải sát sao kiểm
tra, đánh giá và động viên kịp thời để HS tích cực hoàn thành nhiệm vụ.
2.4.2. Sử dụng tài liệu văn học trong các hình thức hoạt động ngoại khoá
2.4.2.1. Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử thông qua hình thức kể chuyện
Đây là hình thức ngoại khóa hấp dẫn, dễ tiến hành (có thể tiến hành trên lớp hoặc trong hoạt
động ngoại khóa) và có tác dụng giáo dục cao. Khi kể chuyện, GV cần lưu ý lựa chọn chuyện
đúng với chủ đề bài học, không sa đà vào các chi tiết hư cấu, giật gân, đảm bảo đúng quan điểm,
có tác dụng giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Sau khi cho HS nghe câu chuyện, GV nên hướng
dẫn các em trao đổi, thảo luận, trình bày ý kiến riêng của mình về các vấn đề, nhân vật lịch sử
vừa tìm hiểu, từ đó rút ra kết luận và bài học lịch sử.
2.4.2.2. Sử dụng tài liệu văn học để tổ chức các trò chơi lịch sử
+ Trò chơi ô chữ:
Trò chơi ô chữ là hình thức người tổ chức đưa ra những ô vuông để trống, yêu cầu người
chơi phải điền cho đúng những chữ mà người tổ chức đã gợi ý cho mỗi ô chữ bằng một “chìa
khóa”. Căn cứ vào “chìa khóa” và năng lực của người chơi có thể hoàn thành ô chữ. Khi thiết
kế ô chữ GV cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản: phù hợp với chương trình SGK, phù hợp
đối tượng, tiện lợi, hữu dụng, thẩm mĩ, ngôn từ chính xác và có lồng ghép kiến thức văn học
liên quan.
+Trò chơi “Đoán ý đồng đội”:
Hình thức tổ chức mô phỏng theo chương trình “Hành trình văn hoá” trên kênh VTV3,
đài truyền hình Việt Nam. GV có thể chia HS thành 4 đội chơi, chuẩn bị 4 bộ câu hỏi, mỗi bộ
thực hiện trong dạy học lịch sử ở trường THCS.
- Bổ sung, làm phong phú, cụ thể hơn nhận thức về lý luận, phát huy kết quả và kinh
nghiệm từ thực tiễn dạy học lịch sử ở trường THCS. Đồng thời, góp phần khắc phục những
thiếu sót của quá trình sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường
THCS tỉnh Yên Bái hiện nay.
- Làm cơ sở để xem xét lại nguyên tắc xây dựng các biện pháp sử dụng tài liệu văn học
trong dạy học lịch sử Việt Nam đã nêu.
- Làm cơ sở cho việc khái quát – lý luận mang tính khả thi, đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT nói
chung.
2.5.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
- Tổ chức dạy học thực nghiệm có so sánh đối chứng kết quả.
- Đánh giá tính khả thi của tiến trình dạy học các bài thực nghiệm làm cơ sở để sửa đổi,
bổ sung hoàn thiện đề tài nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử
cho tỉnh Yên Bái.
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử
2.5.3.Đối tượng, địa bàn trường học và giáo viên thực nghiệm sư phạm
Do phạm vi mà đề tài giới hạn nên chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở ba trường
thuộc ba khu vực có mức chênh lệch cả về trình độ kinh tế - văn hóa – xã hội. Trọng tâm thực
nghiệm là thực nghiệm với bài học nội khóa trên lớp.
2.5.3.1. Đối tượng thực nghiệm
HS lớp 9, năm học 2012 – 2013. Thời gian thực nghiệm là tháng 11 năm 2012.
2.5.3.2. Địa bàn các trường THCS chúng tôi lựa chọn để thực nghiệm sư phạm
Trường THCS Thị trấn Cổ Phúc, trường THCS Xuân Ái, trường THCS Kiên Thành.
2.5.3.3. Các giáo viên tham gia thực nghiệm sư phạm
Cô giáo Hà Thị Duyệt (sinh năm 1961), trường THCS Kiên Thành.
Cô giáo Đỗ Thị Minh Nguyệt (sinh năm 1980), trường THCS Thị Trấn Cổ Phúc.
Cô giáo Phạm Thị Tuyết Lan (sinh năm 1979), trường THCS Xuân Ái.
2.5.4. Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm
2.5.4.1. Nội dung thực nghiệm
Điểm
8
Điểm
9
Điểm
10
I
n=37
Tn
0
0
1
5
12
10
5
2
2
Đc
0
1
3
8
13
9
3
0
0
II
n=33
0
n=33
Đc
3
6
5
9
7
3
0
0
0
Trên cơ sở số liệu kết quả thu được, chúng tôi xử lý theo công thức toán học thống kê
(công thức 1, 2, 3 phụ lục 3) để tính ra điểm trung bình cộng cho các nhóm (mỗi nhóm có lớp
đối chứng và lớp thực nghiệm), tính ra độ lệch chuẩn. Chúng tôi thu được điểm trung bình
cộng và lệch chuẩn của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng như sau:
Bảng 2.3. Tổng hợp kết quả thực nghiệm toàn phần
Nhóm
I
II
III
TN
X
S
6.7
(1.39)
6.4
(1.27)
Nhóm
I
II
III
t
2.35
2.53
2.44
tα
2.01 - 2.02
2.01 - 2.02
2.01- 2.02
Như vậy, so sánh giữa t và α trong 3 nhóm, chúng ta thấy rằng t luôn lớn hơn tα. Điều đó
chứng tỏ về phương diện thống kê, sự khác biệt giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
là có ý nghĩa, đã tạo ra được sự chuyển biến về nhận thức của học sinh. Nó cũng chứng tỏ các
biện pháp sư phạm mà luận văn đề xuất sau đây là đúng, có tính khả thi, phổ biến; GV lịch sử
nào cũng có thể làm được, phải làm trong dạy học lịch sử Việt Nam và có thể áp dụng rộng
rãi trong dạy học lịch sử hiện nay ở trường THCS trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
2.5.5.2. Tổng hợp ý kiến GV thực nghiệm
- Các GV thực nghiệm đều khẳng định tài liệu văn học đưa vào bài thực nghiệm là vừa
đủ, không ôm đồm, không dàn trải, không làm nặng nề giờ học. Các biện pháp sư phạm thể
hiện trong thực nghiệm đã thật sự tạo ra được sự hứng thú học tập, bài giảng chẳng những
không nặng nề mà trái lại làm cho HS hết sức thoải mái khi tiếp cận với nguồn tài liệu liên
quan trực tiếp đến nội dung bài học. Vì vậy, các em rất tích cực chủ động trong lĩnh hội kiến
thức.
- Các ý kiến của GV cũng cho rằng, tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử Việt
Nam có tác dụng rõ rệt đối với học sinh trên cả 3 mặt: giáo dưỡng, giáo dục, phát triển. Tuy
nhiên, để có nguồn tài liệu văn học sử dụng trong giảng dạy đòi hỏi GV phải đầu tư thời gian,
nghiêm túc từ khâu sưu tầm, lựa chọn và biết sử dụng chúng trong bài học nội khóa cũng như
dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học lịch sử,
từ đó nâng cao chất lượng bộ môn. GV có thể dùng tài liệu văn học trong hoạt động nội khoá
như để minh hoạ bài giảng, cụ thể hoá sự kiện, dùng kết hợp với đồ dùng trực quan, cho HS
thảo luận…và sử dụng trong hoạt động ngoại khoá như kể chuyện lịch sử, trò chơi lịch sử, dạ
hội lịch sử… Mỗi biện pháp này có một ưu thế riêng nhưng cũng ẩn chứa những hạn chế nhất
định. Do đó, người GV phải thể hiện được nghệ thuật sư phạm trong việc lựa chọn, kết hợp
khéo léo các biện pháp này trong bài giảng của mình để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất
- Kết quả thực nghiệm sư phạm của luận văn đã chứng minh rằng những biện pháp sư
phạm mà chúng tôi đề xuất là đúng đắn, hợp lý và có tính khả thi.
2. Khuyến nghị
Từ kết quả đạt được bước đầu trong luận văn và từ thực tiễn dạy học hiện nay, chúng tôi
xin đề xuất một vài khuyến nghị sau :
Một là, phải thay đổi mặt nhận thức của GV về vai trò, tác dụng của tài liệu văn học
trong dạy học lịch sử, cải tiến phương pháp dạy học lịch sử thông qua các buổi tập huấn, học
tập chuyên đề của nhà trường, các cụm trường…
Hai là, bản thân người GV phải chịu khó đầu tư thời gian, công sức để sưu tầm tài liệu,
sắp xếp thành hệ thống theo từng tiết học, từng chương, từng phần phù hợp với nội dung và
kiến thức cơ bản trong SGK. Mỗi đoạn tài liệu nên xác định luôn biện pháp sử dụng cho tiện
lợi.
Ba là, GV cần đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với HS trong quá trình dạy học như
sưu tầm tài liệu trước ở nhà theo định hướng của GV.
Cuối cùng, các cấp quản lý phải thực sự quan tâm, tạo điều kiện, động viên khuyến khích
GV sử dụng loại tài liệu này; tổ chức các buổi hội thảo, tập trung những GV giỏi, có kinh
nghiệm và tâm huyết với nghề để chung tay sưu tầm, chỉnh lý và biên soạn thành hệ thống tài
liệu cần thiết cho cả chương trình và kèm theo các phương pháp sử dụng cho từng đoạn tài
liệu một. Do điều kiện, thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn, việc thực nghiệm của chúng
tôi mới chỉ dừng lại ở 3 trường THCS trên địa bàn tỉnh Yên Bái mà chưa có điều kiện thực
nghiệm trên diện rộng và ở các tỉnh khác để đối chứng. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp
tục nghiên cứu và thực nghiệm trên một số địa bàn nữa để khẳng định tính khả thi và đảm
bảo tính khách quan hơn của đề tài.
19. Hồ Chí Minh (toàn tập), (2002), tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
20. N.G Đairi (1978), Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
21. Vũ Ngọc Phan (2007), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Nxb Văn học.
22. Nguyễn Ái Quốc (1975), Bản án chế độ thực dân Pháp. Nxb Sự thật, Hà Nội.
23. Phạm Xuân Thạch (2003), Thơ Tản Đà. Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
24. Ngô Tất Tố (1977), tập 1. Nxb Văn học.
25. Nguyễn Minh Tuệ (1981), Hứng thú học tập tâm lý học và biện pháp hình thành.
Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
26. Trịnh Đình Tùng (chủ biên), Trần Viết Thụ, Đặng Văn Hồ, Trần Văn Cƣờng,
(2006), Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS. Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội.
27. Trần Vĩnh Tƣờng (2003), Hệ thống bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử ở trường
trung học phổ thông. Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
28. Lê Văn (1996), Thơ Tố Hữu chọn lọc. Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
29. Văn học hiện thực đầu thế kỉ XX (1980). Nxb Văn học, Việt Nam.
30. Nguyễn Nhƣ Ý (2002), Từ điển tiếng Việt thông dụng. Nxb Giáo dục, Hà Nội.