nghiên cứu câu trúc và đánh giá tiềm năng dầu khí tại khu vực vịnh bắc bộ - Pdf 24

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập bốn năm tại Khoa địa chất Tr ờng ĐHKHTN -
ĐHQGHN và thời gian thực hiện khoá luận, sinh viên đã nhận đợc sự giúp đỡ
của rất nhiều ngời. Đặc biệt trong đó phải kể đến các thầy hớng dẫn, các kỹ s
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian sinh viên thực tập tại Công ty
Đầu t Phát triển dầu khí. (PIDC).
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm Khoa Địa chất,
bộ môn địa chất dầu khí đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sinh viên trong quá
trình học tập và hoàn thành khoá luận, cảm ơn những bạn bè đã luôn giúp đỡ
động viên cho sinh viên trong quá trình thực hiện khoá luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Mở đầu
Dầu khí chính là một trong những nguồn năng lợng đang đợc khai thác và
sử dụng ở Việt Nam và thế giới. Cùng với những đóng góp to lớn của mình cho
nên kinh tế quốc dân, thông qua nguồn lợi thu đợc qua xuất khẩu dầu thô là rất
lớn, chiếm một tỷ lệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc. Vì vậy, ngành
dầu khí đã và đang đợc nhà nớc chú trọng đầu t và phát triển. Hiện nay, ngoài
việc nâng cao kỹ thuật và sản lợng khai thác tại các mỏ dầu nh Bạch Hổ, Rồng,
Đại Hùng thì việc thăm dò tìm kiếm những mỏ dầu khí mới là vô cùng cần
thiết. Những phát hiện về dầu khí hiện nay cho thấy thềm lục địa nớc ta là một
trong những vùng có triển vọng ở Đông Nam á. Nhiều hoạt động thăm dò và
tìm kiếm thông qua các công ty nh: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, Total,
Idemitsu đã thu đợc những kết quả nhất định tại khu vực vịnh Bắc Bộ. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu câu trúc và đánh giá tiềm năng dầu khí tại khu vực Vịnh
Bắc Bộ là vô cùng cần thiết. Nó chiếm vị trí quan trọng trong chiến lợc đa nớc ta
trở thành nớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào năm 2020.
Để hoàn thành khoá luận, sinh viên đã đợc đi thực tập tại Công ty Đầu t
và Phát triển Dầu khí (PIDC). Trong quá trình thực tập tại công ty, sinh viên đã
tiến hành thu thập tài liệu tại công ty và đồng thời tìm kiếm thêm tài liệu tại bộ
môn Dầu khí.

của châu thổ Sông Hồng. Nh vậy, xét về mặt địa lý và cấu trúc địa chất thì khu
vực nghiên cứu nằm ở vùng biển phía bắc vịnh Bắc Bộ.
1.2. Lịch sử nghiên cứu
Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trên khu vực do Tổng cục dầu khí chủ
trì với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, đã đợc bắt đầu từ những năm cuối
thế kỉ 70 bằng các hoạt động khảo sát địa chấn, trọng lực biển nông ven bờ.
Năm 1997 giếng khoan 110 trên Cồn Đen cũng đã đợc khởi công và kết thúc vào
năm 1981 ở độ sâu 4253m với kết quả khô.
3
Trên cơ sở hiệp định hợp tác toàn diện Việt - Xô song song với việc chẩn
bị khai thác mỏ dầu Bạch Hổ vào năm 1983 hai tàu địa chấn Iskachel và Poisk
của liên đoàn địa vật lý biển xa Viễn Đông đợc tiến hành thi công lới tuyến địa
chấn khu vực trên thềm lục địa vịnh Bắc Bộ. Khoảng 2600 Km tuyến địa chấn
ghi số mạng lới 16 x 16 Km, bội 48 đã đợc phủ lên khu vực nghiên cứu của bản
khoá luận này.
Năm 1984 sau khi có kết quả của công tác minh giải tài liệu địa chấn khu
vực. Tàu Poisk lại tiếp tục thu nổ 2000km tuyến địa chấn bội 48. Mạng lới đan
dày 2 x 2 km trên vùng biển đợc coi là có triển vọng nhất nằm giữa hai đứt gãy
Sông Lô và Sông Chảy. Trong những năm từ 1984 - 1987 tàu Bình Minh của
công ty Địa - Vật lý thuộc tổng cục dầu khí Việt Nam đã thu nổ đợc khoảng
2000km tuyến địa chấn ghi số trên những khu vực phía Tây Nam và Đông Bắc
khu vực nghiên cứu. Nhng do chất lợng có nhiều hạn chế nên số tài liệu này ít đ-
ợc sử dụng.
Bớc vào giai đoạn đổi mới, trên cơ sở của chủ trơng kêu gọi đầu t bằng luật
đầu t nớc ngoài của CHXHCNVN. Năm 1988 Total vào ký hợp đồng PSC trên
khu vực lô 106 và một phần lô 107,103, 102. Năm 1989 và 1990 Total đã thu nổ
10087km tuyến địa chấn với mật độ trung bình 1 x 2m. Trong thời gian từ
1/1990 - 2/1991 Total đã hoàn thành 3 giếng khoan, cam kết trong đó có 2 giếng
khoan thăm dò trầm tích Mioxen, đến độ sau 3413m (103T - H - 1X) và 3505m
(103T - G - 1X) và 1 giếng thăm dò Paleogen, đến độ sâu 3530 (107T - PA - 1X)

Các trầm tích paleozoi bắt gặp đợc trong quá trình khoan thăm dò trầm tích
thuộc hệ tầng Đồ Sơn (D
2-3
đs), hệ tầng Cát Bà (D
3
-C
1
cb), hệ tầng Bắc Sơn (C
2
-
P
1
bs), hệ tầng Cam Lộ (P
2
) và hệ tầng Bãi Cháy (P
2
).
c, Các thành tạo Mesozoi
Tại lỗ khoan 104 vùng Đông Giao đã bắt gặp đá cacbonat có đặc điểm
giống trầm tích Trias thuộc hệ tầng Đồng Giao hay nh trong hệ tầng Phủ Cừ tại
giếng khoan K104 đã phát hiện các đá phun trào ryolit và ful của chúng tại độ
sâu (3940-4115m).
2.1.2 Các thành tạo Kainozoi.
2.1.2.1. Hệ Paleogen
a. Thống Eocen, Hệ tầng phù tiên (E
2
pt)
5
* Phân bố:
Hệ tầng phù tiên nằm bất chỉnh hợp lên các đá móng trớc Kainozoi đợc

centimet(cm) tạo thành các cấu tạo dạng gợn sóng, thấu kính, sọc vằn xen kẽ với
các lớp sét, bột kết, cát kết hạn mịn dầy khoảng vài chục mét. Cát kết chủ yếu
thuộc loại Litharenit, có độ chọn lọc, bào tròn từ trung đến tốt. Trong đó có
nhiều mảnh silic, quazit, ít mảnh đá vôi, khoáng vật phụ có nhiều glaucolit pylit,
xi măng chủ yếu là cacbonat, ít sét, sét bột kết màu xám vàng, xám xanh, nâu
đến xám đen. Khoáng vật sét gồm chủ yếu là Hydromica, Kallinit và clorit.
6
Còn tại giếng khoan khu vực Đông Quan và giếng khoan PV -XT - 1X,
trầm tích gồm cát kết màu xám sáng, xám tối, xám xanh, hạt nhỏ trung ít hạt
thô, đôi khi cuội sạn, độ chọn lọc từ trung bình đến tốt. Trong cát kết có nhiều
mảnh đá vôi, mảnh quaczit, silic, xi măng gồm cacbonat, sét, thạch anh, oxit sắt.
Có gặp ít glanconit ở giếng khoan 200, 203, D14 - STL - 1X, cát kết thuộc loại
Lithaiend sublitharend và ritharnend fenpas, sét kết chiếm chủ yếu trong mặt
cát, chúng có màu đen, có chia dấu vết thực vật, mặt trợt đen bóng có kết hạch
xiderit. Một số nơi còn xen kẹp những vỉa than, sét than hoặc lớp sét vôi, có nơi
gặp đá vôi, thành phần khoáng vật sét gồm chủ yếu là hydromica, Kaolinit và
clorit.
* Hoá thạch và môi trờng thành tạo
Trong các giếng khoan 200, 203, 81 phát hiện thấy nhiều hoá đá động vật
nớc ngọt thuộc giống viviparus có kích thớc nhỏ còn trong giếng khoan 110,
mẫu lõi ở độ sâu 2714, tuổi oligocen có mặt trùng khủng mao (vi sinh vật đơn
bào sống ở biển). Giếng khoan 106, mẫu lõi ở độ sâu 3000m, có mặt phấn hoa
liên quan đến môi trờng lục địa.
Môi trờng trầm tích:
Đợc thành tạo trong các môi trờng lũ tích, hồ, đầm lầy ven biển và xen kẽ
vùng vịnh của sông.
* Nhận xét: Ta thấy đất đá tuổi oligocen có những điểm tiêu biểu cho từng
khu vực nh sau:
1. Mặt cắt chủ yếu là đá phiến sét, phiến sét than lớp dày xen ít lớp mỏng,
thấu kính cát kết nén ép màu xám sẫm đến đen có ít vôi thuộc khoan PV - XT -

cát mịn, bột, sét dày hàng chục mét. Theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, độ hạt
của cát giảm dần, lợng glauconit lại tăng dần và các lớp hạt mịn cũng tăng dần,
bột kết, sét kết màu xám sáng tới xám đen, có nơi là sét than màu đen hoặc có
chứa những vỉa than mỏng, khoáng vật hydromica, kaolinit và rất ít clorit.
* Hoá thạch và môi trờng trầm tích:
Hoá thạch ở đây chủ yếu là bào tử phấn hoa, phổ biến nhất là phấn
Betnlaceae và Fagaceae.
môi trờng trầm tích thay đổi từ đồng bằng ven biển tới vũng vịnh, có xen kẽ
biển ven bờ.
* Đới Đông Quan
* Thành phần thạch học:
Bao gồm các lớp bột, sét kết dày có dấu vết thực vật, có các mặt trợt đen,
láng bóng, có kết hạch xiderit, thỉnh thoảng có kẹp ít lớp than mỏng. Khoáng
vật sét chủ yếu là hydromica, kaolinit và rất ít clorit, cát kết hạt mịn đến trung
đôi chỗ có lẫn sạn, sỏi màu xám xẫm, độ chọn lọc bào tròn từ trung bình đến
kém, phân lớp dày, có lớp hàng trăm mét, và hầu nh không gặp glauconit, xi
măng gồm sét, cacbonat và ít oxit sắt.
Hoá thạch và môi trờng trầm tích:
Hoá thạch chủ yếu là thực vật loại nh: selkova, glanuno phát triển ở
vùng đầm lầy.
Môi trờng trầm tích hồ đầm lầy, bồi tích.
* Nhận xét:
Qua thành phần thạch học có thể nhận thấy rằng trầm tích hệ tầng Phong
Châu có khả năng chứa rất tốt.
8
d) Phụ thống Miocen giữa, hệ tầng Phủ Cừ (N
2
1
pc)
* Phân bố:

có cấu tạo phân lớp dày. Cát hạt thô thành phần tơng đối đồng nhất, chủ yếu là
thạch anh, ít mảnh Plagiocla, khoáng vật phụ điển hình là granat, ít tuocmalin,
zieckon, sphen, Epydotvà hầu nh không gặp glauconit, xi măng gắn kết chủ
yếu là sét, đôi chỗ xen kẹp với các lớp sạn, sỏi, có độ chọn lọc và bào mòn từ
trung bình đến kém, sét bột kết phân lớp dày, thành phần khoáng vật sét chủ yếu
là kaolinit, ít hydromica và rất ít clorit hệ số kiềm của sét là 0,33 - 0,83, các lớp
than dày từ 2- 4m, phân bố đạng đới dọc theo gần bờ biển. Trầm tích Tiên Hng
9
cha bị biến đổi nhiều, các hạt vụn tiếp xúc với nhau dạng điểm, mức độ gắn kết
cha cao, có thể xếp vào giai đoạn Diagenes muộn.
* Hoá thạch:
Bao gồm các hoá đá thực vật và bào tử phấn hoa, các vết thực vật tìm thấy
trong các lớp bột sét rất phong phú: Inglans, Accunilata lobocedrus.
* Nhận xét: Tổng hợp tất cả các yếu tố trên ta có thể dự đoán rằng trầm tích
hệ tầng Tiên Hng có khả năng chứa tốt.
f) Thống Pliocen, hệ tầng Vĩnh Bảo (N
2
vb)
* Phân bố:
Trầm tích hệ tầng Vĩnh Bảo phân bố trên toàn vùng với chiều dày từ 60 đến
500m.
* Thành phần thạch học:
Bao gồm cát kết hạt mịn xen lẫn bột kết màu xám lục, xanh phớt vàng, độ
mài tròn chọn lọc tốt, ở các cánh phía Bắc và Đông Bắc, độ hạt không đồng đều,
có sự xen kẽ giữa sạn và cuội trong cát kết hạt mịn, thành phần khoáng vật chủ
yếu là: thạch anh, granat, immelit, pyrit, mica, trầm tích hệ tầng Vĩnh Bảo ở giai
đoạn đầu của sự tạo đá.
* Hoá thạch và môi trờng trầm tích:
Hoá thạch bao gồm: các hoá thạch động vật loại: toraminifera, mollusca.
Môi trờng trầm tích là môi trờng biển nông.

2.2 Magma
Xét toàn bộ bể sông hồng nói chúng và diện tích cơ bản nằm trên thềm lục
địa nói riêng thì sự phát triển Magma khá phong phú.
Các dấu hiệu phát hiện magam có trong bể sông hồng chủ yếu dựa vào dị
thờng từ và dị thờng trên mặt cắt địa chấn.
2.2.1. Các thành tạo magma trớc kainozoi.
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Văn Quýnh, Võ Năng Lạc và các nhà
khoa học khác trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nớc về các hoạt động kiến tạo
magma và ảnh hởng của chúng tới tiềm năng dầu khí thềm lục địa Việt Nam cho
thấy lục địa Việt Nam là một lục địa cổ phát triển từ Arkeinozoi cho đến ngày
nay. Chính vì vậy mà các thành tạo magma trớc kainozoi cũng có một lịch sử
phát triển lâu dài và đa dạng về thành phần. Song nhìn chung có những đặc điểm
sau:
Phát triển các thể Paloezoi sớm, các thể magma lớn là nhân của các vòm
gơnai tuổi Arkeinozoi, protenozoi và paleozoi sớm, các thể magma mafic là tàn
d của vỏ đại dơng phát triển nâng cao các đai đá lục hay các đá ofiolit.
Các tổ hợp đá xâm nhập (xuyên cắt các tầng đá trầm tích)chủ yếu phát triển
từ Paleozoi muộn cho đến ngày nay.
2.2.1 Các thành tạo Magma trong Kainozoi:
Hoạt động Magma xảy ra trong giai đoạn Pliocen - Đệ Tứ không phụ thuộc
vào bình đồ cấu tạo của bồn. Các đai Magma thờng liên quan đến các đứt gãy
sâu, trợt ngang. Thời kỳ này trong khu vực tồn tại hai dải hoạt động magma là
Bắc Hải Nam- thạch hoá và Nam Hải Nam-Đông Hà. Magma của bồn Sông
Hồng là một phiến trầm tích Oligocen, Miocen-Pliocen và bị phủ một lớp trầm
tích Đệ Tứ. Tại lỗ khoan 115-1 đã bắt gặp thể phun trào khá dàycó tuổi đồng vị
24 triệu năm với hàm lợng CO
2
khá cao (90%) đợc giải thích khí đó về nguồn
gốc CO
2

+Tầng cấu trúc Cacbon - Permi- Trias dới: gồm các cấu trúc uốn nếp dạng
đoạn (10km x 15km). Thành phần thạch học bao gồm hai loại đá là: Trầm tích
cacbonat sạch màu xám, xám hẳn, ít vật chất hữu cơ, và trầm tích cát kết, sét kết
phân lớp trung bình.
+Tầng cấu trúc Trias giữa - Trias bậc cacni: gồm các thành tạo phun trào
ryolit và cát kết biển nông đá vôi lục nguyên.
+Tầng cấu trúc Devon: gồm các nếp uốn dạng đoản (15km x 30km) và
thành phần thạch học đợc phân thành hai loại chính: Trầm tích lục nguyên ở dới
và trầm tích cacbonat ở trên.
2.3.1.2 Lớp phủ Kanozoi
Trong quá trình nghiên cứu về bể Sông Hồng dựa trên cấu trúc đứng theo
các nhà khoa học và tài liệu trong các công trình trớc đây của Tổng công ty Dầu
khí Việt Nam đã chia thành 4 tầng cấu trúc.
Tầng cấu trúc dới (Eocen-Oligocen sớm)
12
Tầng cấu trúc giữa (Oligocen sớm-Miocen sớm)
Tầng cấu trúc trên (Miocen giữa-muộn)
Tầng cấu trúc thềm lục địa (Pliocen - Đệ tứ)
a, Tầng cấu trúc dới
Tầng cấu trúc này đợc giới hạn dới cách đâykhoảng 36 tr năm và ranh giới
trên cách đây 30 triệu năm. Trong đó ranh giới dới đợc bắt đầu bằng sự kiện bắt
đầu tách giãn, trong Eocen ở bên rìa thềm mảng Nam Trung Hoa, tầng cấu trúc
này đợc phân bố trong các địa hào, bán địa hào, đợc khống chế bằng đứt gãy
thuận, trong đó có đứt gãy Sông Lô và các đứt gãy nằm ở phía Đông Bắc. Theo
đặc điểm của sóng địa chấn thì phần dới của tầng trầm tích này không thể hiện
tính phân lớp và phủ chờm hay kề gối lên bề mặt móng. Còn phần trên xiên
chéo với các đồng pha nằm khá dốc đang Dowlap. Nh vậy tầng cấu trúc bị chi
phối bởi các đứt gãy đồng trầm tích riêng ở rìa một số địa hào còn quan sát thấy
các đứt gãy sâu trầm tích chi phối các thành tạo Eocen - Oligocen
b, Tầng cấu trúc giữa:

Trong cấu trúc bậc I của trũng Hà Nội lại đợc chia nhỏ thành 3 cấu trúc bậc
II và 2 cấu trúc bậc III
Trong cấu trúc bậc I của trũng trung tâm đợc chia thành 3 cấu trúc bậc II và
2 cấu trúc bậc III.
Cấu trúc bậc I của trũng Quãng Ngãi đợc chia thành 3 cấu trúc bậc II và 2
cấu trúc bậc III
Bậc I Bậc II Bậc III
Trũng Hà Nội
Đới Nâng rìa Thanh-Nghệ tĩnh
Phụ đới Đông Bắc
Phụ đới Tây Nam
Đơí sụt trung tâm
Đới nâng rìa Hải Phòng-
Bạch Long Vĩ
Trũng trung
tâm
Đới nâng kỳ Anh-Huế Khối nâng kỳ Anh
Phụ bể Huế
Đới trung tâm
Đới rìa
Trũng Quảng
Ngãi
Đới rìa biển Quãng Ngãi
Khối nâng Đà Nẵng
Khối thềm Quãng
Ngãi
Đới địa hào trung tâm
Đới rìa trung tâm
(đới nâng trung tâm)
Cấu trúc bể sông Hồng (Phan Văn Quýnh, Võ Năng Lạc, 1995)

Khối nâng Kỳ Anh
Phụ Bồn Huế
Phần móng của trũng trung tâm do bị chìm quá sâu và không thể phát hiện
đợc qua mặt cắt địa chấn hoặc có thể tồn tại một số Tập trầm tích trớc Đệ Tam
mà các mặt cắt có thể phát hiện đợc. Các trầm tích thuộc phần dới Pliocen rất
dày và hầu nh đều bị biến vị đứt gãy chia cắt mạnh mẽ và khó xác định đợc cấu
trúc nguyên thủy của chúng. Dựa vào tài liệu địa chấn dự đoán các tầng trầm
tích Oliogen trong phần trung tâm bể có thể đợc hình thành trong các địa hào
lớn kéo dài theo hớng Tây Bắc- Đông Nam. Đây là phần cấu trúc tách giãn
chính của bể Sông Hồng. Các tập trầm tích Miocen hầu nh đều bị biến dạng uốn
nếp và bị cắt cụt ( Toplap) trên nóc Miocen. Các tập trầm tích Pliocen- Đệ Tứ
không còn biểu hiện của các biến vị uốn nếp và đứt gãy tơng tự nh các tập trầm
tích thuộc phần Nam và Đông Bắc bể
15
2.2.2.3 Trũng Quãng Ngãi
Trũng Quãng Ngái phát triển theo hớng á Bắc Nam. Phía Bắc giáp với
trũng trung tâm, phía Nam giáp với bồn Phúc Khánh. Trũng Quãng Ngãi chia ra
các đơn vị cấu trúc bậc II nh sau:
Đới rìa Quãng Ngãi
Đới rìa hào Trung Tâm
Đới rìa Tri Tôn
Đới rìa biển Quãng Ngãi đợc chia ra hai đơn vị cấu trúc bậc III là:
Khối nâng Đà Nẵng
Khối thềm Quãng Ngãi
Địa hào Quãng Ngãi có thể liên quan đến hệ đứt gãy kinh tuyến 109
0
và đ-
ợc lấp đầy bởi các trầm tích Oligoxen trong môi trờng đầm lầy thiếu hụt trầm
tích, sau đó đợc mở rộng trong Miocen. Các tập trầm tích Miocen phân bố rộng
hơn và gồm chủ yếu các tập trầm tích biển nông. Thành phần đa dạng, phía Tây

0
- 80
0
với biểu đồ dịch chuyển lớn.
16
d. Đứt gãy sông Lô:
Phát hiện bên cánh Đông Bắc của trũng Hà Nội với phơng kéo dài Tây Bắc
- Đông Nam từ biên giới Việt - Trung kéo dài ra biển. Đức gãy có biên độ dịch
chuyển lớn, cắm theo hớng Tây Nam với gốc cắm khoảng 70
0
- 80
0
.
e. Hệ đứt gãy Đông Bắc Tây Nam.
Hệ thống đứt gãy có cùng phơng với hệ uốn nếp caledonit kéo dài từ Tây
Lôi Châu sang tới địa phận VN và trở nên yếu khi gặp hệ đứt gãy sông Lô
2.3.4 Lịch sử phát triển bể sông Hồng
Theo đặc điểm kiến tạo phát triển theo thời gian ta có thể thấy lịch sử phát
bể sông Hồng. Nh sau:
2.3.4.1 Giai đoạn tạo núi Eocen-Oligocen sớm (5-32 tr.n):
Với sự có mặt của granit-granit kiềm seri Fanxipang với tuổi đồng vị 52-
40 tr.n và trầm tích molat hệ tầng Phù Tiên phân bố ở Lào Cai, Yên Bái, Đoan
Hùng, ở LK 104 từ độ sâu 3544-3930m, LK 81, 107-PA-1X (tài liệu đoàn địa
chất 36) với thành phần đặc trng là cuội riolit, trầm tích cát bột kết, sét kết lục
địa màu đỏ, màu tím, phân bố hết sức không đồng đều, đặc trng cho chế độ kiểu
tạo núi với đới nâng phát triển các thành tạo đá magma và hố võng giữa núi phát
triển các thành tạo molat.
2.3.4.2 Giai đoạn trợt bằng trái tạo bồn kéo tách (pull-apart) Oligocen
sớm-Miocen sớm (32-16 tr.n):
Trợt bằng trái dọc theo đứt gãy Sông Hồng và đứt gãy Sagaing-Three

Chơng III: phơng pháp nghiên cứu.
18
Nh chúng ta đã biết, ngày nay nền khoa học kỹ thuật phát triển nh vũ bão.
Việc áp dụng các kết quả, phát minh của khoa học vào cuộc sống ngày càng đợc
sử dụng một cách rộng rãi và thực tế chứng minh là đã thu đợc các kết quả to lớn.
Đặc biệt sự ứng dụng của tin học vào nghiên cứu và thực địa đã đợc nâng cao góp
phần quan trọng trong việc nâng cao và minh giải rõ ràng các kết quả thu đợc.
Để giải quyết nhiệm vụ đợc đặt ra trong khoá luận sinh viên đã sử dụng tổng
hợp các phơng pháp nghiên cứu (phân tích bản đồ địa chất, phân tích địa chấn địa
tầng, phân tích cấu tạo nếp uốn ) nhằm mục đích phân tích cấu trúc và đánh giá
tiềm năng dầu khí của bồn để hạn chế tính đa nghiệm của đối tợng nghiên cứu.
3.1 Phơng pháp phân tích lát cắt địa chấn:
Để phân tích lát cắt địa chấn trớc tiên chúng ta phải hiểu đợc hai khái niệm
cơ bản là: lát cắt địa chấn địa tầng và địa chấn
* Lát cắt địa chấn địa tầng là lát cát địa chấn mà trên đó thể hiện các đối t-
ợng địa chất đợc thể hiện bằng sóng phản xạ mà ta ghi đợc.
Trong một lát cắt địa chấn địa tầng tổng quát thì ngời ta lại chia thành các
tập địa chấn (để quá trình đánh giá đợc tỉ mỷ và cho kết quả với sai số nhỏ). Vậy
tập địa chấn là gì? Đó chính là: 1 phần của mặt cắt địa chấn theo phơng thẳng
đứng đợc giới hạn bởi nóc và đáy các mặt bất chỉnh hợp địa chấn địa tầng.
Cơ sở nhận dạng lát cắt địa chấn địa tầng bằng mô hình địa chất đợc tiến
hành dựa vào các cơ sở sau:
Sự tơng đồng của mặt cắt địa chấn với lắt cắt trầm tích cả về hình thái và
đặc điểm phân lớp. Các ranh giới phản xạ trên các mặt cắt địa chất trùng với bề
mặt phân lớp trong lát cắt đại chấn.
Sự tơng đồng về các đặc điểm kết thúc của ranh giới địa chấn với ranh giới
địa chất. Trên các mặt cắt địa chấn có thể quan sát các dấu hiệu kết thúc của
các mặt phản xạ dạng kề áp (Onlap), chống đáy (toplap), bào mòn cắt xén giống
các đặc điểm kết thúc của các ranh giới địa chất trên các ranh giới địa tầng.
Các ranh giới trên các lát cắt địa chấn cũng tồn tại các dạng phản ánh quá

các sóng phản xạ có cờng độ khác nhau đặc biệt, trong các vỉa dầu khí, sóng
phản xạ cho chúng ta nhận biết đợc ranh giới giữa dầu và H
2
O.
* Cơ sở lý thuyết:
Trong thăm dò địa chấn, ngời ta sử dụng các rung động nhân tạo nh nổ mìn,
súng bắn, rung, đập , để kích thích vào môi trờng địa chất để tạo ra các xung
lực làm cho đất đá dao động (tức là tạo ra sóng đàn hồi), sóng đàn hồi sinh ra sẽ
lan truyền sâu vào môi trờng dất đá khác nhau, tại ranh giới giữa các lớp đất đá
khác nhau, sóng sẽ bị phản xạn và khúc xa quay trở về mặt đất, trên mặt đất ng-
ời ta bố trí sẵn các máy ghi nhận các dao động sóng trên băng địa chấn, và sau
đó là quá trình luận giải cấu trúc ở dới sâu dựa trên các băng địa chấn.
Các thông số vật lý.
Bao gồm: - Thời gian xuất hiện sóng
- Biên độ sóng
- Hình dạng sóng
* Thời gian xuất hiện sóng
áp dụng cấu trúc.
20
TiX = 1/v.
2
2
0
2
2
2
2
2
4


x
Với t
0
=
V
H2
(Vì t
0
=
V
H2
); tix = Tix = t
0
+ (H/V) = t
0
+ (X/V)
2
Tix: Thời gian xuất hiện sóng ở trạm thu
X: K/C từ trạm thu tới nguồn nổ.
H: K/C từ ranh giới phản xạ sóng tới mặt đất.
V: Vận tốc truyền sóng trung bình trong lớp đất đá nằm giữa ranh giới phản xạ
và mặt đất.
Do có nhiều trạm thu nhận khác nhau nên các giá x, tix khác nhau, tức là
X
2
Tix khác nhau (vì X = x
2
, Tix = tix
2
)), ta có thể biểu diễn cặp (X, Tix) lên đồ


+

Với:
2

=v
2
2

1

=V
1
1

V
1
: Vận tốc truyền sóng của thành tạo nằm bên trên ranh giới phản xạ
V
2
: Vận tốc truyền sóng của thành tạo nằm bên dới ranh giới phản xạ
P
1
: Mật độ của thành tạo nằm bên trên ranh giới.
P
2
: Mật độ của thành tạo nằm bên dới ranh giới.

1

ta có thể phân tích cấu trúc và các vi cấu trúc của chúng, một lợi thế của khoan
lên mẫu là dựa vào đó chúng ta có thể xây dựng đợc cột địa tầng, biết đợc các
thông tin về bất chỉnh hợp, đứt gãy
Nh chúng ta đã biết các đất đá khác nhau thì có các tính chất vật lý khác
nhau (nh, đồ điện trở, từ , phóng xạ ), những tính chất vật lý của đất đá trong
các thành tạo địa chất luôn biến đổi và khác nhau giữa các tầng nhờ các biểu đồ
ghi đờng cong của sự biến đổi các tính chất vật lý của đất đá trong giếng khoan
mà phơng pháp phân tích đờng cao đã giải quyết đợc một khối lợng công việc
lớn, đó là: giải quyết các vấn đề liên quan đến kiến tạo, cấu trúc, ranh giới địa
chất, thành phần vật chất.
3.3 Phơng pháp xây dựng bản đồ bằng công nghệ thông tin
Trong thời đại khoa học và công nghệ hiện nay, việc ứng dụng những thành
quả của công nghệ thông tin vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống và địa
chất nói riêng đợc áp dụng một cách mạnh mẽ, việc xây dựng, phân tích bản đồ
địa chất, lát cắt địa chất đã trở nên nhanh chóng và có độ chính xác cao nhờ vào
việc ứng dụng thông tin.
Tuỳ theo các mục đích nghiên cứu, ứng dụng khác nhau mà ta sử dụng các
phần mền nh Mapinfor, I drisi, Arcintol v v Bằng các phần mềm naỳ ta có
thể thành lập và quản lý đợc bản độ đẳng sâu bản độ đẳng dày.v v
3.3.1 Thành lập bản đồ đẳng sâu
Trong quá trình thu nổ địa chấn, tại mỗi điểm nổ ta đo đợc thời gian sóng
phản xạ trên các mặt ranh giới khác nhau của các lớp. Ghi thời gian sóng phản
xạ tại mỗi lớp trên sơ đồ tuyến địa chấn mà ta thu nổ, sau đó dựa vào bản số liệu
22
Nối các ranh giới có cùng thời gian lại ta sẽ vẽ đợc các đạng đờng đẳng thời
gian, kết hợp các đờng đẳng thời gian lại trong khu vực thu nổ ta sẽ thành lập đ-
ợc bản đồ đẳng thời.
Sau khi lập song bản đồ đẳng thời, dựa vào giá trị vận tốc của sóng, ta tính
đợc chiều dày của tập trầm tích, hay là chiều sâu của tập trầm tích đó sau khi
tính toán độ sâu của các điểm đo, nối các điểm có cùng độ sâu lại thì ta đợc các

Trong khu vực lô A, đá mẹ trong trầm tích Pliocene, Miocene thợng
và phần lớn Miocene trung cha đạt tới ngỡng trởng thành cho nên khả
năng sinh dầu khí rất hạn chế, do vậy trong khoá luận này, sinh viên chỉ
đánh giá khả năng sinh của đá mẹ trong trầm tích Miocene hạ (trong đó
có một phần Miocene trung sớm) Oligocene và Eocone.
4.1.1 Tiềm năng hữu cơ.
Dựa vào kết quả nghiên cứu ở những khu vực lân cận (bê tây Lôi Châu,
trũng Hà nội, trũng Huế) và kết quả phân tích địa hoá của 5 giếng khoan trong
khu vực nghiên cứu, đá mẹ trong bể sông Hồng bao gồm sét, sét kết đầm hồ tuổi
Paleogene (Eocene/Oligocene) và sét chứa thân thuộc trầm tích châu thổ
(Miocene hạ/trung)
4.1.1.1 Đá sinh tuổi Eocene.
Theo tài liệu nghiên cứu của Phạm Quang Trung năm 1998 thì đất đá tuổi
Eocene ở trũng Hà Nội đợc trầm đọng trong điều kiện đầm hồ ven biển, theo tài
liệu phái Trung Quốc ở bê trầm tích sông Hồng có tồn tại đá mẹ tớng đầm hồ tại
vùng trũng với độ dày thờng từ 1000m đến trên 3000m với các thông số nh TOC
= 1,46 - 2,04%, Kerogenalgal loại II và III, Ro = 0,6 1,5%, tại khu vực
nghiên cứu, dựa trên tài liệu địa chấn đã phát hiện ra đá mẹ tuổi Eocene ở
trrxng Paleogen.
4.1.1.2 Đá sinh tuổi Oligocene.
Đá sinh tuổi Oligocene thì đã đợc phát hiện ở trong nhiều giếng khoan
cũng nh ở các điểmlô trong bể trầm tích sông Hồng, tại giếng khoan 102 - CQ-
1X, TOC cao nhất đá sinh tuổi Oligocene là 0,63%, còn dựa trên lắt cắt ở giếng
khoan 107T-PA-1X cho thấy đá sinh tuổi Oligocene tơng đối giàu vật chất hữu
cỡ: từ khoảng độ sâu 2555-2764m có TOC vào khoảng 0,6 - 0,7% tuy nhiều giá
24
trị S
2
lại rất thấp, cá biệt mới có mẫu đạt giá trị cao (độ sâu 2555m có S
2

0
C/100m, nhiệt độ này đã làm cho vật chất hữu cơ
tầng đá mẹ Eocene, Oligocene/miocene hạ (1 phần mioceno trung) đạt mức độ
trởng thành cao. Hiện tại tầng đá mẹ này ở một vùng khá rộng ở phía Nam vùng
nghiên cứu đã trải qua tất cả các pha tạo sản phẩm dầu khí.
Lấy giá trị 0,7% phản xạ vitrimit làm ngỡng cho vật chất hữu cơ trởng
thành bắt đầu sinh dầu thì ở giếng khoán 102 - HĐ-1Y tơng ứng độ sâu 3000m
25

Trích đoạn Trầm tích Kainozoi.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status