A. MỞ ĐẦU
Dư luận xã hội là một thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến.
Tuy nhiên, trong lịch sử cũng như hiện tại thì khái niệm về dư luận xã hội vẫn
đang trong quá trình hoàn thiện, và nhìn chung, hiện nay các nhà khoa học vẫn
chưa đưa ra một khái niệm thống nhất về dư luận xã hội. Có nhiều ý kiến cho
rằng, thuật ngữ “dư luận xã hội” đã được Jonsonbenri (thế kỷ XII) – một nhà
hoạt động xã hội người Anh sử dụng đầu tiên (public opinon). Các nhà nghiên
cứu về dư luận xã hội luôn bắt đầu công việc nghiên cứu của mình bằng những
câu hỏi: dư luận xã hội thực chất là gì? Công chúng có số lượng bao nhiêu thì
được coi là một dư luận xã hội? Bản chất của dư luận xã hội? Tính chất cơ bản
của dư luận xã hội? Trong khuôn khổ bài tập lớn học kỳ bộ môn Xã hội học
đại cương, tôi xin phân tích các tính chất cơ bản của dư luận xã hội đồng thời
đưa ra ví dụ cụ thể để minh hoạ cho từng tính chất của dư luận xã hội. Và tác
dụng của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật
1
B. NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DƯ LUẬN XÃ HỘI
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, quan điểm có tính chất phán xét đánh
giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính
thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người
và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.
Dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã
hội. Dư luận xã hội đã tồn tại từ lâu đời cùng với xã hội loài người, được xem là
có trước cả pháp luật, có tác dụng là phương tiện giáo dục, định hướng và điều
chỉnh hành vi. Khi nói tới dư luận xã hội, người ta thường liên tưởng tới những
đánh giá của cộng đồng đối với những sự kiện xã hội nhất định. Dư luận xã hội
được xem như là sự phản ánh của tồn tại xã hội, và như thế nó là một dạng biểu
hiện của ý thức xã hội, khi sự phản ánh này thể hiện ở một mức độ nào đó, tích
cực hay tiêu cực, cũng đồng thời thể hiện rằng, tồn tại xã hội đang có những vấn
đề cụ thể. Sự hình thành của dư luận xã hội theo nhiều cách, bằng nhiều con
đuồng đã khiến dư luận xã hội trở thành một thực thể trung gian mang thông tin
nào đó đều có tỷ lệ số người ủng hộ cao.
3
Ví dụ, về việc quyết định sát nhập Hà Tây vào Hà Nội (cũ) vào năm 2008
đã gây xôn xao dư luận trong một thời gian dài. Rất nhiều người tán thành với đề
xuất này của Bộ xây dựng bởi họ cho rằng Hà Nội (cũ) có diện tích quá hẹp, việc
mở rộng Hà Nội sẽ tạo được không gian phía tây thủ đô có môi trường cảnh
quan đẹp, rộng rãi, điều kiện địa hình, địa chất phù hợp cho việc phát triển các
dự án tầm cỡ quốc gia, quốc tế như: Khu Công nghệ cao Hoà Lạc, Khu Đại học
Quốc gia, Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, các khu đô thị mới Đặc biệt, tại
đây có thể lựa chọn để phát triển Trung tâm Chính trị - Hành chính quốc gia mới.
Tuy nhiên dư luận cũng xuất hiện những ý kiến trái chiều với tỷ lệ cao tương
đương với ý kiến tán thành, họ là những người dân Hà Tây không muốn mất đi
cái tên của nơi chôn rau cắt rốn, không muốn mất đi một Hà Tây quê lụa vốn để
lại bao nhiêu xúc cảm cho người dân trong nước cũng như bạn bè quốc tế; và họ
là những người không tin tưởng vào việc mở rộng địa giới Hà Nội sẽ làm Hà Tây
có một bước phát triển vượt bậc để trở thành hạt nhân kinh tế, trở thành thành
phố vệ tinh của Hà Nội trung tâm.
Rất Phản Lưỡng Tán Rất
Phản đối đối lự thành tán thành
Biểu đồ phân bố hình chữ J
4
Biểu đồ có dạng phân bố hình chữ J, chỉ một loại quan điểm có tỷ lệ số
người ủng hộ cao mà thôi.
Ví dụ cho biểu đồ phân bố hình chữ J đó là dư luận về tệ nạn tham nhũng.
Tham nhũng quả là một vấn nạn của xã hội, dư luận xã hội kịch liệt phê phán và
phản đối. Tham nhũng gây ảnh hưởng xấu tới đời sống xã hội cũng như sẽ làm
suy đồi đạo đức của con người (trường hợp quan điểm rất phản đối chiếm tỷ lệ
cao). Một ví dụ nữa cho biểu đồ phân bố hình chữ J, thời gian gần đây việc
những trung tâm, cơ sở nuôi giữ động vật quý hiếm (gấu, hổ,…) để lấy cao, mật,
… đã bị phanh phui. Không có nhiều luồn dư luận trái chiều về vấn đề này. Dư
ra dư luận xã hội. Điều kiện đủ ở đây chính là sự nhận thức của các nhóm xã hội
về lợi ích của chính mình và mối quan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện
tượng, quá trình xã hội đang diễn ra.
6
3. Tính lan truyền
Dư luận xã hội được coi như một biểu hiện của hành vi tập thể, một hiện
tượng được cá nhà xã hội học rất quan tâm. Cơ sở của bất kỳ một hành vi tập thể
nào cũng là hiệu ứng phản xạ quay vòng, trong đó khởi điểm từ một cá nhân hay
nhóm nhỏ sẽ gây nên chuỗi các kích thích của các cá nhân khác, nhóm khác. Để
duy trì được chuỗi kích thích này luôn cần có các nhân tố ttác động lên cơ chế
hoạt động tâm lý của cá nhân và nhóm. Đối với dư luận xã hội, các nhân tố tác
động đó có thể được coi là các thông tin bằng các hình ảnh, âm thanh sống động
trực tiếp có tính thời sự. Dưới tác động của các luồng thông tin này, các nhóm
công chúng khác nhau sẽ cùng được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ sự quan tâm
của mình thông qua các hoạt động trao đổi, bàn bạc, tìm kiếm thông tin, cùng
chia sẻ trạng thái tâm lý của mình với người xung quanh. Chúng ta có thể theo
dõi và ghi nhận được ảnh hưởng của các luồng thông tin đến các hành động quan
tâm của công chúng. Khi đó, sự hình thành mạnh mẽ và lan truyền nhanh chóng
của dư luận xã hội được thể hiện rất rõ nét.
Ví Dụ:
Sự căng thẳng trên nét mặt của các nhân vật trong bức ảnh Situation Room.
7
"Situation Room" được Nhà Trắng đăng lên tài khoản Flickr vào ngày 2/5 sau
khi Osama bin Laden bị bắn chết. Nó cho thấy sự căng thẳng trên nét mặt của
Tổng thống Mỹ Barack Obama và các quan chức khi theo dõi trực tiếp chiến
dịch tiêu diệt trùm khủng bố. Tấm hình lập tức đạt 140.000 lượt xem mỗi giờ và
hiện đã thu hút gần 1,8 triệu lượt xem. Với tốc độ này, bức ảnh sẽ sớm vượt qua
"Nohkalikai Falls".
4. Tính ổn định tương đối và dễ biến đổi
Dư luận xã hội vừa có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi.
Phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể, dư luận xã hội còn biến đổi theo đối tượng
của các phán xét, đánh giá khi công chúng phát hiện thêm các mối liên quan giữa
đối tượng an đầu với các sự kiện, hiện tượng, quá trình diễn ra kèm theo nó. Mặt
khác, xuất phát từ các phán xét đánh giá bằng lời, tính tự phát hoặc có tổ chức để
thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối của mình.
Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái
tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời (dư luận của đa số im lặng). Trong những xã hội
thiếu dân chủ, dư luận xã hội đích thực thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn. Trong
xã hội cũng thường có dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới,
chưa xảy ra hiện thời chưa cấp bách.
5. Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế của dư luận xã hội
Sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội có thể đúng, có thể sai. Dù
có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối
hoá khả năng nhận thức của dư luận xã hội. Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã
hội cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường được. Chân lý của dư
luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào
dư luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiếu số. Cái mới, lúc đầu thường
chỉ có một số người nhận thấy do đó dễ bị đa số phản đối. Đối với những vấn đề
9
trừu tuợng, phức tạp, dư luận của giới trí thức, của những người có trình độ học
vấn cao thường chín chắn hơn so với những người có trình độ học vấn thấp.
Ví dụ: Ngày 16.7.2007, BBC News và Báo Daily Mail (Anh) có đưa tin về
việc ăn bưởi có liên quan đến ung thư vú. Cùng với một số báo khác, Thanh
Niên đã đăng một tin ngắn trên trang 20 số báo ra ngày 17.7.2007, tuy dẫn lại
nguồn tin của Báo Daily Mail, nhưng chúng tôi vẫn đặt một dấu hỏi nghi vấn tại
đầu đề: Bưởi có liên quan đến ung thư vú?. Với trách nhiệm của mình trong việc
bảo vệ những nông dân trồng bưởi của Việt Nam, Báo Thanh Niên đã phân công
phóng viên dành thời gian tiến hành thu thập thông tin, lấy ý kiến của các nhà
khoa học và đã đăng một bài dài đến nửa trang báo để làm rõ sự thật. Đó là bài:
Phụ nữ sẽ bị ung thư vú vì ăn bưởi? (Thanh Niên ngày 14.8.2007, trang 9). Trả
hướng và điều chỉnh ý thức, hành vi xã hội của con người lại chính là đạo đức,
phong tục, tập quán, truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng đặc biệt là dư luận xã
hội.
Trong lịch sử xã hội loài người, dư luận xã hội đã từng đóng vai trò điều
hoà các mối quan hệ xã hội, định hướng hành vi xã hội của con người ngay cả
khi trong xã hội chưa có sự phân hoá giai cấp, chưa xuất hiện nhà nước và pháp
luật, cũng có nghĩa là chưa có ý thức pháp luật đó là xã hội nguyên thuỷ.
Ph.Ăngghen đã nhận xét rằng, trong chế độ xã hội này không hề có các phương
tiện ép buộc nào khác ngoài dư luận xã hội.Cơ chế tác động, điều tiết được thực
hiện dựa trên phương pháp tác động xã hội và phụ thuộc vào mức độ chín muồi
của dư luận xã hội, mức độ xâm nhập và ảnh hưởng của nó, cũng như trình độ
phát triển của xã hội.
11
Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác - Lênin đã chỉ
rõ vai trò to lớn, sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố tinh thần đối với hoạt động
sống của con người, trong đó có dư luận xã hội. Sức mạnh to lớn của dư luận xã
hội xuất phát từ vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Sự gia
tăng vai trò của các tầng lớp nhân dân trong xã hội đã dẫn đến sự gia tăng hiệu
lực và tính hiện thực của dư luận xã hội, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thẩn
làm cải biến xã hội. Nhận thức rõ sức mạnh lớn lao của dư luận xã hội trong
công cuộc cải tạo xã hội mới, Ph.Ăngghen cho rằng, "để có thể chí ít nghĩ đến
việc hoàn thành được cuộc cải tạo đó, thì trước hết phải diễn ra sự tiến bộ lớn lao
trong dư luận xã hội". Kế thừa tư tưởng này của Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng
định rằng, để chiến thắng, cách mạng cần phải đưa vào sức mạnh vật chất và tinh
thần của dư luận xã hội. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, tiếp tục
nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng sức mạnh to lớn của dư luận xã hội để củng
cố kỷ luật lao động, đấu tranh với những tàn dư của xã hội cũ, V.I.Lênin khẳng
định: "Chúng ta muốn rằng chính phủ bao giờ cũng phải được dư luận công
chúng của nước mình kiểm soát". Điều đó cho thấy, các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác - Lênin luôn ghi nhận vai trò to lớn của dư luận xã hội đối với các
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có
tính chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các hiện
tượng pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù
khoa học. Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh trình độ nhận thức cao, có tính hệ
thống về các vấn đề mang tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp
luật trên lập trường của một giai cấp nhất định. Nó là cơ sở để sáng tạo các giá trị
pháp luật, phổ biến các tư tưởng, quan điểm pháp luật tiến bộ, nhân văn trong xã
hội.
13
Dư luận xã hội tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và phát
triển của hệ tư tưởng pháp luật. Với tư cách một hiện tượng xã hội, dư luận xã
hội phản ánh tồn tại xã hội nói chung, đồng thời phản ánh các sự kiện, hiện
tượng pháp lý xảy ra trong đời sống xã hội. Sự bàn luận, trao đổi ý kiến giữa các
thành viên trong xã hội về các sự kiện, hiện tượng pháp lý đưa tới kết quả là, họ
đạt tới sự nhận thức chung, thống nhất trong các phán xét, đánh giá về sự việc,
sự kiện pháp lý. Ban đầu, "chuẩn mực" chung chi phối quá trình thảo luận, bàn
bạc giữa họ là những thông tin, kiến thức, hiểu biết về pháp luật mà mỗi thành
viên có được từ những nguồn khác nhau, chủ yếu là những khái niệm cơ sở
mang tính kinh nghiệm. Các ý kiến bước đầu được đưa ra có thể khác nhau vì
nhận thức pháp luật của mỗi thành viên xã hội cũng khác nhau. Dần dần, các
cuộc thảo luận đi vào chiều sâu, nội dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã
hội thường tập trung vào những vấn đề trọng tâm, đưa ra những nhận định phản
ánh đúng đắn bản chất của các sự kiện, hiện tượng pháp lý. Khi đã hình thành,
dư luận xã hội biểu thị thái độ, quan điểm, cảm xúc, ý chí tập thể của đại đa số
người trong cộng đồng xã hội trước thực tiễn đời sống pháp luật của xã hội, thể
hiện trình độ nhận thức cao, có tính hệ thống về các vấn đề mang tính bản chất
của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.
Như vậy, trên cơ sở của sự phán xét, đánh giá về các sự kiện, hiện tượng
pháp luật diễn ra trong đời sống xã hội, dư luận xã hội làm nảy sinh trong nhận
thức của mọi người những khái niệm cơ sở, mang tính bề ngoài, ngẫu nhiên và
tầm quan trọng hàng đầu. Dư luận xã hội đóng vai trò là "người lính canh giữ",
bảo vệ những quyền lợi, các giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi
ích cá nhân chính đáng của con người. Mỗi khi quyền lợi, các giá trị của quốc
15
gia, dân tộc bị xâm hại thì dư luận xã hội lập tức xuất hiện với thái độ lên án,
phản đối gay gắt. Mỗi khi các cá nhân hoặc nhóm xã hội nào đó có hành vi xâm
phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, dư luận xã hội cũng lập tức lên án, gây sức
ép nhằm ngăn chặn hành vi đó. Chẳng hạn, những vụ phạm pháp hình sự đặc
biệt nghiêm trọng, như giết người dã man, xâm hại an ninh quốc gia thường
khiến cho dư luận xã hội hết sức công phẫn, đòi trừng phạt nghiêm khắc kẻ
phạm tội. Trong trường hợp này, nội dung phản ánh các sự kiện, hiện tượng pháp
lý của dư luận xã hội phù hợp với hệ tư tưởng pháp luật tiến bộ, đang phổ biến
trong xã hội, đáp ứng được lợi ích, nguyện vọng của đông đảo các lực lượng tiến
bộ trong xã hội. Điều đó cho thấy, dư luận xã hội có tác đụng củng cố, bảo vệ
tính dân chủ, tính khoa học và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật.
Khi giai cấp cầm quyền trong xã hội, vì những lý do nhất định, muốn duy
trì một hệ tư tưởng pháp luật lạc hậu, bảo thủ, thì các quan niệm, tư tưởng pháp
lý của nó chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, đi ngược lại các
giá trị dân chủ, nhân văn trong xã hội. Trong các chế độ xã hội độc tài, phát xít,
hệ tư tưởng pháp luật của nó thường mất đi tính dân chủ, tính khoa học và tính
xã hội, thông tin pháp lý bị bưng bít, các quyền cơ bản của con người bị chà đạp,
xoá bỏ. Trong các xã hội đó, nhân dân không được công khai bày tỏ các quan
điểm, ý kiến của mình, nên ở đây thường hình thành cái gọi là "dư luận xã hội
của đa số im lặng' mà sức mạnh của nó được ví là "sóng ở đáy sông". Kết quả là,
cùng với các cuộc đấu tranh cách mạng, dư luận xã hội của đông đảo các lực
lượng xã hội tiến bộ sẽ tạo nên một áp lực mạnh mẽ, góp phần hình thành và
phát triển hệ tư tưởng pháp luật mới, phù hợp hơn và tiến bộ hơn.
Như vậy, có thể nói, dư luận xã hội với tư cách một hiện tượng thuộc lĩnh
vực tinh thần của đời sống xã hội luôn có tác động mạnh mẽ đến hệ tư tưởng
pháp luật. Một mặt, thông qua quá trình trao đổi, thảo luận ý kiến giữa các nhóm
ngơ trước người bị hại Tất cả những biểu hiện đó của tình cảm pháp luật đều là
đối tượng phán xét, đánh giá của dư luận xã hội.
Trong thực tiễn đời sống pháp luật, trước những diễn biến của một sự kiện
hay hiện tượng pháp luật, dư luận xã hội thường nảy sinh và biểu hiện ở hai xu
hướng: thứ nhất, khen ngợi, biểu dương tinh thần đấu tranh không khoan nhượng
trước các hành vi vi phạm pháp luật, ủng hộ những việc làm phù hợp với quyền
và nghĩa vụ pháp lý của công dân, thử hai, phê phán, lên án các hành vi sai trái,
phạm pháp, phạm tội. Về mặt tình cảm, không ai muốn mình trở thành đối tượng
phán xét của dư luận xã hội, không ai muốn hứng chịu sức ép của "búa rìu xã
hội". Do vậy, mỗi cá nhân đều mong muốn có thể kiểm soát, điều chỉnh tình cảm
và hành vi của mình sao cho phù hợp với ý chí chung của cộng đồng xã hội. Với
ý nghĩa đó, dư luận xã hội tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật, góp phần
định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật tích cực, đúng đắn của mỗi
công dân.
Hai là, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật
pháp. Tâm trạng của con người trước luật pháp là sự thể hiện trạng thái tâm lý
của các cá nhân trước các sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã
hội thường ngày. Đây là yếu tố rất linh động, dễ thay đổi của tâm lý pháp luật.
Do sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố, như điều kiện sống, lao động, sinh
hoạt hàng ngày mà tâm trạng của con người thường được thể hiện ra ở các trạng
thái đối lập: hưng phấn - ức chế, lạc quan - bi quan, hy vọng - thất vọng, quan
tâm - thờ ơ, nhiệt tình - lãnh đạm trước thực tiễn cuộc sống. Tuỳ thuộc đang
trong tâm trạng hưng phấn, nhiệt tình, người ta dễ có những phản ứng mạnh mẽ,
tích cực trước các hành vi vi phạm pháp luật ở nơi công cộng, còn khi không tin
tưởng vào sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, người ta thường thờ ơ
trước các sự kiện pháp lý Những tâm trạng đó được bộc lộ trong nội dung các
18
phán xét, đánh giá của dư luận xã hội và qua đó, dư luận xã hội tác động tới tâm
trạng của con người trước luật pháp.
Với tư cách là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội, dư luận xã
lên án hoặc phải chịu sự xử lý theo các nguyên tắc luật định không? Điều đó cho
thấy, dư luận xã hội luôn có tác động tới cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá
về hành vi ứng xử của mình.
Như vậy, có thể nói, dư luận xã hội luôn có tác động mạnh mẽ đến tâm lý
pháp luật. Tác động đó được thể hiện trên ba phương diện. Thứ nhất, tác động tới
tình cảm pháp luật của con người, góp phần định hướng cho sự hình thành tình
cảm pháp luật của mỗi công dân. Thứ hai, tác động tới tâm trạng của con người
trước luật pháp cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực. Thứ ba, tác động đến sự tự
đánh giá, tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mỗi cá nhân trong phạm vi điều chỉnh
của
20
C. KẾT LUẬN
Dư luận xã hội là một hiện tượng đặc biệt thuộc lĩnh vực tinh thần của đời
sống xã hội. Trong bất kỳ một xã hội nào, dư luận xã hội cũng đều có những ảnh
hưởng nhất định. Đặc biệt là đối với lĩnh vực pháp luật. Tìm hiểu về dư luận xã
hội, tính chất cơ bản của dư luận xã hội làm ta thấy rõ tầm quan trọng của dư
luận xã hội đối với đời sống xã hội cũng như thấy được tầm ảnh hưởng của dư
luận xã hội đối với lĩnh vực pháp luật.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tập bài giảng Xã hội học – Trường Đại học Luật Hà Nội
2. Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật – Ts. Ngọ Văn Nhân –
Tạp chí Triết học
3. Phát huy vai trò của dư luận xã hội đối với công tác phòng, chống các hành vi
tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở nước ta hiện nay – Ts. Ngọ
Văn Nhân – Tạp chí luật học số 8/2007
4. Dư luận xã hội – Ts. Bùi Hoàng Sơn
22
MỤC LỤC
23