vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường trung học cơ sở huyện an phú - Pdf 24

VAI TRÒ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG BỘ MÔN TRONG VIỆC
TƯ VẤN GIÁO VIÊN BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN AN PHÚ
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI:
Trong những năm qua, chất lượng dạy và học của Tỉnh An Giang nói chung và
huyện An Phú nói riêng ngày càng được nâng cao. Các phong trào thi đua dạy tốt –
học tốt do ngành phát động được đông đảo cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học
sinh hưởng ứng và từng bước đạt được nhiều thành tích khá nổi bật như: phong trào
viết sáng kiến kinh nghiệm, tự làm đồ dùng dạy học, hội thi giáo viên dạy giỏi, hội thi
ca múa nhạc, hội khỏe Phù Đổng … . Qua các phong trào đã góp phần quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, từ đó tạo được niềm tin đối với các
bậc phụ huynh học sinh, các cấp chính quyền và đó cũng là động lực để những người
làm công tác giáo dục có những định hướng mới cho sự nghiệp đào tạo thế hệ tương
lai của đất nước.
Trong các phong trào thi đua đó, có thể khẳng định rằng công tác quản lý chuyên
môn nhất là Hội đồng bộ môn đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn thúc đẩy giáo
viên trong công tác giảng dạy của huyện An Phú đạt được kết quả khá toàn diện và
mang tính bền vững; trong đó có phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi các môn nói
chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng cũng đạt được nhiều thành quả đáng kể.
II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ năm đầu tiên Sở giáo dục và Đào tạo An Giang tổ chức thi học sinh giỏi văn
hoá lớp 9 đến năm 2005 tôi giảng dạy tại trường THCS Vĩnh Trường, bản thân luôn
quan tâm đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử và luôn đạt nhiều giải cấp
huyện và cấp tỉnh. Đến hè năm 2005 tôi được điều về Phòng Giáo dục và Đào tạo An
Phú phụ trách công tác chuyên môn các môn xã hội và kiêm thành viên Hội đồng bộ
môn Lịch sử cấp tỉnh. Với vai trò phụ trách chuyên môn tôi không ngừng tham mưu
với Lãnh đạo Phòng Giáo dục chỉ đạo các trường quan tâm công tác nâng cao chất
lượng dạy và học, trong đó luôn chú trọng đến công tác giáo dục học sinh mũi nhọn từ
đó chất lượng các môn học ngày càng tăng trong đó có môn Lịch sử. Điển hình, năm
học 2011- 2012 vừa qua học sinh trong huyện đạt là 15 em trong kỳ thi chọn học sinh

đồng thời phần nào đã giải quyết được những đòi hỏi do thực tiễn đặt ra.
- Qua việc nghiên cứu đề tài này, giúp giáo viên có được các giải pháp phù hợp,
khoa học và mang tính khả thi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 trong những năm còn
giảng dạy tôi nhận thấy rằng vấn đề quan trọng là người giáo viên bồi dưỡng cần có
một quan niệm đúng về học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói
riêng. Bên cạnh đó, người giáo viên bồi dưỡng cần trả lời câu hỏi: “việc bồi dưỡng
học sinh giỏi nhằm mục đích gì? ” để từ đó người giáo viên bồi dưỡng lựa chọn nội
dung, chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho thích hợp và đạt hiệu quả cao
nhất.
2
Bộ môn Lịch sử là một trong các bộ môn góp phần phát triển toàn diện con người
như nhà văn Nga thể kỷ XIX, Tsecnuwsepxk khẳng định: “Có thể không biết, không
cảm thấy say mê học tập môn toán, tiếng latinh, hoá học; có thể không biết hàng
nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là con người có giáo dục mà không yêu
thích môn lịch sử thì chỉ có thể là một con người phát triển không đầy đủ về trí tuệ”.
Theo Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng Văn Hồ trường Đại học Huế cho rằng: “ Cùng với
các bộ môn khác ở trường phổ thông, bộ môn Lịch sử cũng góp phần quan trọng vào
việc đào tạo con người mới phát triển toàn diện. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ sở của khoa học Lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ
mà phải hiểu, biết vận dụng nó vào cuộc sống. Cho nên, cũng như các môn khác, việc
học tập Lịch sử cũng đòi hỏi học sinh phải tư duy, thông minh, sáng tạo. Bởi vì, mọi
khoa học đều tổng kết những hiểu biết, kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh với tự nhiên
và xã hội, đạt trình độ khái quát hoá, trừu tượng hoá, đi sâu vào bản chất sự kiện,
hiện tượng, rút ra quy luật vận động của sự vật và tác động của nó; từ đó để đạt đến
chân lý khách quan. Bản chất của việc học tập, nghiên cứu lịch sử cũng là một hình
thức nhận thức khoa học, đòi hỏi tính tích cực trong tư duy của học sinh. Chính vì
vậy, người dạy và người học Lịch sử cần có phương pháp tư duy, phân tích, xét đoán

tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đạt nhiều kết quả khả quan . Do đó,
trong công tác quản lý hội đồng bộ môn cấp huyện bản thân luôn tư vấn giúp đỡ các
giáo viên bộ môn áp dụng các biện pháp cụ thể sau:
1. Xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
Vào đầu năm học, tham mưu với lãnh đạo Phòng chỉ đạo ban giám hiệu các
trường chỉ đạo mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi các môn phải xây dựng kế
hoạch chi tiết. Vì vậy, các giáo viên dạy bồi dưỡng phải lên kế hoạch cụ thể về: thời
gian bồi dưỡng; nội dung; thời lượng; số lượng học sinh bồi dưỡng; chỉ tiêu phấn đấu
đạt giải … và các giáo viên thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch.
Ban giám hiệu các trường phải thường xuyên kiểm tra và thành viên hội đồng bộ
môn cũng luôn tư vấn, giúp đỡ, nhắc nhở, tháo gỡ những khó khăn gặp phải trong việc
bồi dưỡng của giáo viên qua các phiên họp chuyên môn định kỳ nhằm thúc đẩy để
nâng cao chất lượng về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên các trường
THCS trên địa bàn huyện An Phú.
2. Chọn đối tượng bồi dưỡng và thường xuyên thực hiện công tác tư tưởng
với học sinh tham gia bồi dưỡng:
Chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi là khâu quan trọng nhất trong các khâu
bồi dưỡng. Vì nếu các em không đam mê thì khi vào học sẽ bỏ nữa chừng không đến
ôn thi hoặc diện nhiều lý do khác để nghỉ thi.
Như chúng ta đã biết theo quy chế thi học sinh giỏi thì đối tượng được thi học
sinh giỏi là những học sinh đang học lớp 9 tại các trường, có học lực ở học kỳ I của
năm đang học đạt từ loại khá trở lên, hạnh kiểm đạt loại tốt và kết quả trung bình môn
Lịch sử cuối học kỳ I phải đạt từ 8,0 trở lên.
a) Những năm qua việc chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở
các trường về cơ bản được nhiều thuận lợi do:
- Đa số học sinh khối 9 đều có hứng thú và đam mê môn Lịch sử. Vì vậy, học
sinh đăng ký dự thi hàng năm khá đông năm ít nhất có 45 học sinh dự thi cấp huyện
và tỉnh.
- Môn Lịch sử của huyện là môn có truyền thống đạt giải nhiều trong các kỳ thi
chọn học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh nên cũng thu hút học sinh đăng ký tham gia bồi

Có thể cho rằng đây là biện pháp mang tính bền vững đối với công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi môn Lịch sử. Từ thực tế kinh nghiệm bồi dưỡng những năm qua cho
thấy nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử rất phong phú được trải đều ở 2
khối lớp 8, 9 và ở mỗi khối lớp lượng kiến thức cần truyền đạt cho học sinh là vô hạn,
giáo viên bồi dưỡng rất khó xác định được nội dung kiến thức nào cần bồi dưỡng
trước cho học sinh, nội dung nào không quan trọng để giới hạn, đặc biệt là phần Lịch
sử Việt Nam (khối 8) từ 1858 đến đầu thế kỷ XX và chương trình Lịch sử (khối 9)
gồm Lịch sử thế giới hiện đại và Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cuối
năm 1954, bên cạnh đó trong một vài trường hợp người giáo viên không thể bồi
dưỡng kiến thức trong sách giáo khoa theo một trình tự cố định hết các bài do không
đủ thời gian hoặc do kiến thức được sắp xếp theo từng phần, từng chương theo
5
phương pháp dàn trải. Chính vì thế, đòi hỏi mỗi giáo viên phải nghiên cứu tiến hành
soạn tài liệu riêng theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi.
Từ nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi các năm qua theo tôi có các chuyên đề cơ
bản sau:
- Chuyên đề Lịch sử Việt Nam (khối 8).
- Chuyên đề Lịch sử Thế giới và Việt Nam (khối 9).
- Chuyên đề về Kỹ năng lập biểu bảng, phân tích và nhận xét các sự kiện lịch sử
cả khoá trình giới hạn thi học sinh giỏi Lịch sử.
- Chuyên đề Lịch sử địa phương theo quy định.
Như vậy, từ các chuyên đề trên giáo viên cần tìm những tài liệu liên quan để biên
soạn, thông thường các chuyên đề này được giảng dạy chuyên sâu hơn ở chương trình
Lịch sử lớp 12 để nâng cao (đối với khối 9) và chương trình Lịch sử lớp 11 để nâng
cao (đối với khối 8), hay được tập trung trong các bộ đề thi Lịch sử các năm học trước
đây của Sở và các Sở Giáo dục khác.
Hàng năm với tư cách hội đồng bộ môn tôi đã tư vấn chuyên môn và hỗ trợ giáo
viên dạy bồi dưỡng các tài liệu tham khảo để học sinh tự nghiên cứu, tự học ở nhà.
( Đính kèm phần tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh bồi dưỡng học
sinh giỏi ở phần phụ lục kèm ở phía sau).

Ví dụ: Lập bảng so sánh về phong trào cách mạng từ năm 1930 đến năm 1945
theo các nội dung sau:
Nội dung 1930 – 1931 1936 – 1939 1939 - 1945
Mục tiêu
Hình thức đấu tranh
Lực lượng tham gia
Địa bàn
Phong trào tiêu biểu
Kết quả
Ý nghĩa
Qua thực tế bồi dưỡng, vấn đề khó nhất đối với việc hình thành các kỹ năng về
lập bảng biểu cho học sinh khi đi thi. Đa số các em còn mơ hồ về nội dung này gắn
với nội dung khác.
Ví dụ: Đề bài cho lập bảng so sánh ba tổ chức cách mạng trước khi Đảng ra đời
về chủ trương, biện pháp cách mạng.
Nội dung so sánh Việt Nam CM TN Tân Việt CM đảng VN Quốc dân đảng
Chủ trương
Biện pháp
cách mạng
Lưu ý: Khi điền nội dung vào bảng này các em thường nhằm giữa chủ trương và
biện pháp. Giáo viên cần chỉnh sửa để các em khắc sâu kiến thức.
7
Phương pháp tóm lược nội dung bài học bằng sơ đồ: Bên cạnh việc hướng dẫn
học sinh thiết lập sơ đồ, giáo viên có thể cần thực hiện thêm những giải pháp:
- Giáo viên vừa giảng bài, tổ chức cho học sinh tìm ra kiến thức và các mối liên
hệ chủ yếu vừa xây dựng sơ đồ cũng hoàn thành và nội dung bồi dưỡng (nội dung bài
học) được thể hiện một cách trực quan bằng sơ đồ.
- Giáo viên có thể xây dựng sẵn sơ đồ câm và đặt câu hỏi hướng học sinh phân
tích các mối quan hệ trên sơ đồ để giải thích nội dung học tập đồng thời có các ví dụ
cụ thể để chứng minh.

8
dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; về các phong trào giải phóng dân tộc
về cuộc đấu tranh đánh đuổi Pháp giành độc lập năm 1954.
c) Giáo viên bồi dưỡng phải hình thành các kỹ năng về đọc được bản đồ, lược
đồ trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử:
Đa số giáo viên giảng dạy Lịch sử nói chung và giáo viên bồi dưỡng học sinh
giỏi nói riêng đều cố gắng rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết để khai
thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ thông thường chúng ta tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Nắm vững các ký hiệu chung ở phần dưới của bản đồ, biểu đồ.
- Bước 2: Đọc được yêu cầu của giáo viên để chỉ lại diễn biến, kết quả của các sự
kiện.
- Bước 3: Xác định các mối liên hệ giữa các đối tượng trên bản đồ để giải thích,
làm sáng tỏ vấn đề mà giáo viên yêu cầu.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân thì đây là các bước khai thác bản đồ,
lược đồ theo phương pháp chung nhất mà người giáo viên dạy Lịch sử nào cũng phải
thực hiện, nhưng đối với giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ngoài các
bước khai thác chung cần có các bước khai thác riêng. Nói cách khác để học sinh khai
thác có hiệu quả kiến thức từ bản đồ, lược đồ Lịch sử người giáo viên phải nắm vững
các phương pháp biểu hiện các đối tượng trên lược đồ, bản đồ đó.
d) Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết cách giải các bài tập lịch sử
để khắc sâu kiến thức. Vì các dạng đề này người ra đề thi thường cho khi thi học
sinh giỏi huyện, tỉnh. Tôi xin minh họa bằng các câu hỏi sau:
Câu 1. Lập bảng thống kê về các cuộc kháng chiến của phong trào Cần
Vương theo nội dung sau:
Cuộc khởi nghĩa Thời gian Lãnh đạo Địa bàn, trận đánh tiêu biểu
Ba Đình
Bãi Sậy
Hương Khê
Qua các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương, em hãy nhận xét về cách
đánh giặc tài tình của nghĩa quân và rút ra nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của

10
Câu 5. Lập bảng thống kê về các phong trào yêu nước chủ yếu đầu thế kĩ
XX theo nội dung sau:
Phong trào Mục đích Hình thức và nội dung hoạt động
Đông Du
Đông kinh nghĩa thục
Vận động Duy Tân
Chống thuế ở Trung Kì
Câu 6. Lập bảng thống kê các tổ chức mật trận dân tộc thống nhất Việt Nam
từ năm 1930 - 1945 theo nội dung sau:
Tên các tổ chức,
các mật trận
Thời gian Chủ trương lớn Kết quả hoạt động
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Từ khi tư vấn giúp đỡ giáo viên bộ môn dạy sử ở các trường THCS đến nay
Phòng Giáo dục và Đào tạo An Phú có số liệu học sinh giỏi văn hoá môn Lịch sử cấp
tỉnh ngày càng cao. Cụ thể theo bảng số liệu sau:
Năm học Số học sinh đạt giải cấp tỉnh
2008 - 2009 5
2009 - 2010 5
2010 - 2011 6
2011 - 2012 15
11
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Để đạt được kết quả trên, qua quá trình tư vấn giúp đỡ, hướng dẫn công tác bồi
dưỡng môn Lịch sử ở các trường THCS trong huyện An Phú, tôi đã rút ra được các bài
học kinh nghiệm sau:
a. Về phía học sinh:
- Phải có động cơ học tập đúng đắn, không chạy theo phong trào, xu hướng, nghe

12
- Phân dạng đề bài cho cụ thể, mỗi đề cần hướng dẫn học sinh phương pháp
chung để làm, sau đó cho các dạng bài tương tự để học sinh khắc sâu kiến thức đã nắm
bắt được.
- Các đề ra cho học sinh làm thử phải có tính logic, đi từ dễ đến khó, từ cơ bản
đến nâng cao.
Tuy nhiên, trong quá trình bồi dưỡng vẫn còn một số tồn tại khó khắc phục:
+ Từ đầu học sinh chưa định hướng đúng khi chọn môn dự thi, do đó dẫn đến số
học sinh dự thi thấp (bỏ bồi dưỡng giữa chừng).
+ Thời gian để học sinh tự nghiên cứu, tìm hiểu không đủ (ngoài giờ học chính
khóa các em còn học ngoại khóa thể dục, tham gia bồi dưỡng nhiều lĩnh vực khác
nhau, học thêm, . . . ), dẫn đến hiệu quả không cao.
+ Thường thì giáo viên ít thường xuyên kiểm tra các vấn đề đã giao về nhà cho
học sinh làm. Sau khi kiểm tra xong cho cả nhóm bồi dưỡng nêu ý kiến trao đổi rút ra
những vấn đề làm được và chưa làm được của các việc giao về nhà cho học sinh. Từ
đó rút kinh nghiệm cho cả nhóm để khắc sâu trong những buổi bồi dưỡng tiếp theo.
c. Về phía nhà trường:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong quá trình bồi dưỡng.
- Có kế hoạch ngay từ đầu trong khâu tuyển chọn đội học sinh dự thi các môn học
cho đều. Không để tình trạng học sinh ôn thi môn Lịch sử chỉ ở dạng học lực khá.
- Phân công những giáo viên có năng lực, có kinh nghiệm bồi dưỡng nhiều năm
và đạt kết quả tốt để tham gia bồi dưỡng. Đồng thời cũng có hướng bồi dưỡng các giáo
viên khác để làm lực lượng kế thừa.
d. Về thành viên Hội đồng bộ môn các môn:
- Tăng cường công tác tư vấn, giúp đỡ các giáo viên bồi dưỡng nhiều hơn để công
tác bồi dưỡng đạt nhiều kết quả như mong muốn.
- Tìm kiếm tài liệu hoặc soạn thảo tài liệu tham khảo đưa trực tiếp cho giáo viên
bồi dưỡng môn mình phụ trách tại các trường THCS.
- Tăng cường công tác dự giờ kiểm nghiệm công tác ôn tập bồi dưỡng học sinh
giỏi ở các trường thuộc địa bàn quản lý của Hội đồng bộ môn.

ở mức cơ bản nhất, từ đó có khả năng phát triển và nâng cao hơn.
Kiến thức trang bị cho học sinh được thể hiện ở các mức độ khác nhau, từ cơ bản
đến nâng cao, có hướng dẫn cụ thể cho từng dạng và phần phân tích đề bài trong các ví
dụ, sẽ giúp cho các đối tượng khác nhau của học sinh giỏi đều tiếp thu được để từ đó
tự rèn luyện cho mình.
Các đối tượng học sinh không tham gia dự thi cũng có thể tham khảo để nâng cao
kiến thức, tạo nền tảng vững chắc cho các cấp học cao hơn.
Đề tài này cũng có thể triển khai cho các giáo viên có tham gia bồi dưỡng học
sinh giỏi, vì các dạng bài tập được nêu ra đã đáp ứng được từ 70% đến 80% của đề thi.
Sau đó kết hợp giải các đề thi những năm qua để từ đó hoàn chỉnh thêm kiến thức.
Đề tài có khả năng ứng dụng và triển khai trong toàn tỉnh về công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi và ôn tập bộ môn Lịch sử.
IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
- Đối với giáo viên: Để kết quả chọn đối tượng học sinh tham gia dự thi cấp
huyện, tỉnh cần tuyển chọn từ năm học trước hoặc tham khảo từ các đồng nghiệp dạy
các lớp trước để theo dõi các em mình chọn để bồi dưỡng. Ngoài ra tìm hiểu cách tự
học hoặc hướng dẫn kỹ các em biết cách tự học, chú ý khâu giao việc và kiểm tra khả
14
năng tiếp thu của các em qua mỗi đợt giao việc, giúp đỡ các em gặp những khó khăn
trong cách học, cách giải các bài tập… Đặc biệt biết kết hợp nhuần nhiển trong dạy
học theo tài liệu mà thành viên Hội đồng bộ môn tư vấn cách làm, cách thực hiện.
- Thành viên hội đồng bộ môn các môn khi có hướng dẫn thi học sinh giỏi cấp
huyện tỉnh cần quan tâm hơn trong công tác tư vấn, hướng dẫn, tìm tài liệu hỗ trợ cho
giáo viêm bộ môn các trường THCS để bồi dưỡng học sinh tốt hơn và có chất lượng
hơn.
- Đối với Ban giám hiệu các trường THCS cần tăng cường công tác kiểm tra, giúp
đỡ giáo viên và học sinh, đồng thời có sự đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất cho công
tác tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi tham gia dự thi ở các đơn vị. Đặc biết phải
phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, Ban chấp hành Công đoàn cơ sở treo giải
khen thưởng thêm các giáo viên và học sinh đạt giải cấp tỉnh.

II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 4
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 11
C. PHẦN KẾT LUẬN: 11
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 11
II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 14
III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI 14
IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 14
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên giảng dạy môn lịch sử 8, 9 của Sở Giáo dục và Đào
tạo An Giang năm 2004-2005.
2. Ôn tập và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 của Nhà xuất bản giáo dục.
3. Sách bồi dưỡng Lịch sử của Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng Văn Hồ trường Đại học
Huế.
17
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI LỚP 9 MÔN LỊCH SỬ
PHẦN I
LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
=======
Phần này các em cần nắm vững các nội dung sau:
- Những thành tựu của Liên Xô từ 1945 đến giữa những năm 70 của thế kỷ
XX.
- Quá trình phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và sự tan rã của hệ
thống thuộc địa qua các giai đoạn.
- Những nét chung về các nước châu Á, Phi và Mỹ - Latinh.
- Tình hình Đông Nam Á trước và sau năm 1945, hoàn cảnh ra đời và hoạt
động của ASEAN.
- Tình hình kinh tế, chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ, Nhật Bản, Tây

không vũ trụ.
+ Năm 1961, lần đầu tiên phóng con tàu “Phương Đông” bay vòng quanh trái
đất.
- Đối ngoại: Nhà nước Xô Viết chủ trương duy trì hoà bình thế giới, quan hệ
hữu nghị với tất cả các nước, ủng hộ các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân

- Ý nghĩa: Nó làm đảo lộn toàn bộ chiến lược toàn cầu phản ánh cách mạng
của đế quốc Mỹ và đồng minh của chúng, tăng cường củng cố hoà bình và thúc đẩy
cách mạng thế giới phát triển.
II/ Đông Âu:
Quá trình thành lập: Từ 1944-1946.
Giai đoạn 1945-1949: Hoàn thành cách mạng DCND.
Giai đoạn 1950 đến đầu những năm 70 của TK XX:
- Xây dựng cách mạng XHCN.
- Kết quả: Đạt dược những thành tựu to lớn và trở thành nước công-nông
nghiệp.
Câu hỏi
Trình bày những thành tựu của Liên Xô từ năm 1945 đến đầu những năm 70
của thế kỷ XX.
Vai trò của Liên Xô đối với cách mạng thế giới.
BÀI 2
LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU TỪ GIỮA NHỮNG NĂM 70
ĐẾN ĐẦU NHỮNG NĂM 90 CỦA THẾ KỶ XX
I. Sự khủng hoảng và tan rã của Liên bang Xô viết:
a. Nguyên nhân khủng hoảng: Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ mở đầu cho
cuộc khủng hoảng về nhiều mặt của thế giới.
b. Diễn biến cải tổ:
- Tháng 3/1985, Goóc-ba-chốp lên nắm quyền lãnh đạo đảng và đề ra đường lối
cải tổ.
19

- Như vậy, đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX hệ thống thuộc địa của
CNTD về cơ bản đã bị sụp đổ.
II. Giai đoạn từ giữa những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX.
- Nét nổi bật của giai đoạn này là cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân
Ăng-gô-la, Mô-dăm-bích, Ghi-nê Bít-xao chống lại thực dân Bồ Đào Nha.
20
- Chính quyền Bồ Đào Nha tuyên bố trao trả độc lập cho Ghi-nê Bít-xao
(9/1974), Mô-dăm-bích (6/1975), Ăng-gô-la (11/1975).
III. Giai đoạn giữa những năm 70 đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX.
- Chủ nghĩa thực dân tồn tại dưới hình thức cuối cùng của nó là chế độ phân biệt
chủng tộc (A-pác-thai).
- Sau nhiều năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ của người da đen, chế độ phân
biệt chủng tộc bị xoá bỏ (1993).
Câu hỏi: Trình bày những nét chính về quá trình đấu tranh giành độc lập của
các nước châu Á, Phi và Mỹ La – tinh qua từng giai đoạn.
BÀI 4
CÁC NƯỚC CHÂU Á
I. Tình hình chung.
- Châu Á có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ của ba châu lục Á, Âu, Phi
với kênh đào Xuyê, giàu tài nguyên …
- Trước chiến tranh thế giới II, các nước châu Á đều chịu sự bóc lột, nô dịch
nặng nề của các nước đế quốc thực dân.
- Sau chiến tranh thế giới II, một cao trào giải phóng dân tộc đã dấy lên, lan
nhanh ra cả châu Á. Tới cuối những năm 50 của thế XX, phần lớn các dân tộc châu Á
đã giành độc lập (Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a …)
- Sau đó, gần suốt nửa sau thế XX, tình hình châu Á lại không ổn định nhất là
khu vực Đông Nam Á và Trung Đông bởi đã diễn ra nhiều cuộc chiến tranh xâm lược,
tranh chấp biên giới, lãnh thổ, phong trào ly khai.
- Tuy nhiên, cũng từ nhiều thập niên qua một số nước châu Á đã đạt được sự
tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, những thành tựu to lớn về xã hội như Hàn Quốc,

súng chống thực dân trở lại xâm lược.
- Tới giữa những năm 50 của thế kỷ XX, các nước Đông Nam Á lần lượt giành
được độc lập.
- Cũng từ giữa những năm 50 của thế kỷ XX, tình hình Đông Nam Á trở nên
căng thẳng do chính sách can thiệp của Mỹ vào khu vực.
- Đối ngoại:
+ Thái Lan, Phi-Lip-Pin tham gia khối quân sự Đông Nam Á.
+ Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống Mỹ xâm lược.
+ In-đô-nê-xi-a và Miến Điện thi hành chính sách hoà bình, trung lập.
II. Sự ra đời tổ chức ASEAN:
- Sau khi giành độc lập và đứng trước những yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội
của đất nước, nhiều nước Đông Nam Á chủ trương thành lập một tổ chức liên minh
khu vực nhằm cùng nhau hợp tác phát triển, đồng thời hạn chế ảnh hưởng các cường
quốc bên ngoài đối với khu vực. Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á được
thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) gồm: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-Lip-Pin, Xin-
ga-Po và Thái Lan.
- Mục tiêu của ASEAN là phát triển kinh tế và văn hoá thông qua những nỗ lực
hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hoà bình và ổn định khu
vực.
22
- Nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước thành viên như: cùng nhau tôn
trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
- Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, do vấn đề Cam – Pu – chia quan hệ giữa
các nước ASEAN và ba nước Đông Dương trở nên căng thẳng, đối đầu nhau.
III. Từ “ASEAN 6” phát triển thành “ASEAN 10”:
- Năm 1984, Bru-nây trở thành thành viên thứ sáu.
- Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy.
- Tháng 7/1997, Lào và Mi-an-ma gia nhập ASEAN.
- Tháng 4/1999, Cam-pu-chia được kết nạp vào ASEAN.
Năm 1992, ASAN quyết định biến Đông Nam Á thành một khu vực mậu dịch tự

- Trong hơn 3 thế kỷ, chính quyền da trắng đã thi hành nhiều chính sách phân
biệt chủng tộc.
- Dưới sự lãnh đạo của tổ chức “Đại hội dân tộc Phi”, người da đen tiến hành
đấu tranh thủ tiêu chế độ phân biệt chủng tộc (1993).
Câu hỏi:
1. Trình bày những nét chính về chính trị, kinh tế và xã hội châu Phi từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai đến nay?
2. Khó khăn và cách giải quyết khó khăn hiện nay của các nước châu Phi?
BÀI 7
CÁC NƯỚC MỸ LA-TINH
I. Tình hình chung:
- Sau khi giành độc lập (thập niên đầu của thế kỷ XIX), các nước Mỹ La-tinh lại
rơi vào vòng lệ thuộc nặng nề và trở thành “sân sau” của Mỹ.
- Sau chiến tranh thế giới II, Mỹ La-tinh có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Mở
đầu bằng cuộc cách mạng Cu Ba (1959), từ đầu những năm 60 đến những năm 80 của
thế kỷ XX, một cao trào đấu tranh đã bùng nổ ở Mỹ La-tinh được ví như “Lục địa
bùng cháy”. Kết quả là chính quyền độc tài ở nhiều nước bị lật đổ.
- Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, các nước Mỹ La-tinh đã thu
được nhiều thành tựu quan trọng: củng cố độc lập chủ quyền, dân chủ hoá sinh hoạt
chính trị, cải cách kinh tế …
- Tuy nhiên, từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân khác
nhau, tình hình kinh tế, chính trị ở nhiều nước Mỹ La-tinh gặp nhiều khó khăn, thậm
chí có lúc căng thẳng.
- Mục tiêu hiện nay của các nước Mỹ La-tinh là tiếp tục đấu tranh nhằm thoát
khỏi sự lệ thuộc của Mỹ về kinh tế và chính trị.
II. Cu ba – Hòn đảo anh hùng:
- Năm 1952, Mỹ thiết lập chế độ độc tài Ba-ti-xta.
- Năm 1953, Phi-đen-ca-xtơ-rô phát động cuộc tấn công vào trại lính Môn-ca-
đa.
- Ngày 1/1/1959, chế độ độc tài Ba-ti-xta bị lật đổ.

+ Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội.
II. Sự phát triển về khoa học-kỹ thuật của Mỹ sau chiến tranh thế giới II:
- Mỹ là nơi khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ II và đạt được
những thành tựu: máy tính, máy tự động, hệ thống máy tự động, năng lượng nguyên
tử, năng lượng mặt trời … “Cách mạng xanh trong nông nghiệp”.
- Ý nghĩa: kinh tế Mỹ không ngừng tăng trưởng và đời sống vật chất, tinh thần
của người dân Mỹ có nhiều thay đổi nhanh chóng.
25

Trích đoạn Phong trào yêu nước trong thời kỳ chiến tranh thế giới I (1914-1918). Xã hội Việt Nam phân hoá: Mặt trận Dân chủ Đông Dương và phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ. Cao trào kháng Nhật, cứu nước tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. nghĩa lịch sử và nguyên nhân thành công.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status