Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
MỤC LỤC
Lời nói đầu
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TOÀN CẦU HÓA
1.1 Khái quát về toàn cầu hóa.
1.1.1 Khái niệm toàn cầu hóa.
1.1.2 Lịch sử của toàn cầu hoá.
1.2 Bản chất của toàn cầu hóa.
1.3 Ý nghĩa của toàn cầu hóa.
CHƯƠNG II:CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA ĐỐI
VỚI CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TOYOTA.
2.1 Giới thiệu chung về công ty đa quốc gia Toyota
2.2 Tác động của xu thế toàn cầu hóa đối với công ty đa quốc gia toyota
2.2.1 Điểm mạnh.
2.2.2 Điểm yếu.
2.2.3 Cơ hội.
2.2.2 Thách thức.
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TOYOTA.
3.1 Phương hướng phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam.
3.2 Các giải pháp phát triển đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
KẾT BÀI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng nổi trội và do đó đã trở thành môi trường
của các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới. Chính đặc điểm
này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực. Các
định chế và tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho kinh tế
quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung và để các nước cùng tham gia vào quá trình giải
quyết các vấn đề lớn của kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện
Toàn cầu hóa là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế giới, đó là sự ảnh
hưởng tác động, xâm nhập lẫn nhau xuyên biên giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội, trước hết và chủ yếu là lĩnh vực kinh tế trên phạm vi toàn cầu
Toàn cầu hóa được định nghĩa một cách khách quan nhất là sự phụ thuộc qua lại không
ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân. Sự phụ thuộc qua lại có thể xảy ra trên lĩnh vực
kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá hay xã hội Rõ ràng cần phân biệt toàn cầu hoá
kinh tế với khái niệm rộng hơn là toàn cầu hoá nói chung.
1.1.2. Lịch sử của toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 15, sau khi có những
cuộc thám hiểm hàng hải quy mô lớn. Cuộc thám hiểm lớn lần đầu tiên vòng quanh thế
giới do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522. Cũng như việc xuất hiện các trục
đường trao đổi thương mại giữa châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ không phải là
hiện tượng gần đây. Ngoài những trao đổi về hàng hoá vật chất, một số giống cây cũng
được đem trồng từ vùng khí hậu này sang vùng khí hậu khác (chẳng hạn như khoai tây,
cà chua và thuốc lá).
Thuật ngữ "tự do hoá" xuất hiện để chỉ sự kết hợp của học thuyết kinh tế về thị trường tự
do tuyệt đối và sự hủy bỏ các rào cản đối với việc lưu thông hàng hoá. Thời kỳ bắt đầu
dùng vàng làm tiêu chuẩn của hệ thống tiền tệ (bản vị vàng) và tự do hoá trong thế kỷ thứ
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
19 thường được chính thức gọi là "thời kỳ đầu của toàn cầu hoá".
"Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào Chiến tranh thế
giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào cuối
những năm 1920 và đầu những năm 1930.
Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại do GATT khởi
xướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các hiệp định nhằm gỡ bỏ
các hạn chế đối với "thương mại tự do". Vòng đàm phán Uruguay đã đề ra hiệp ước
thành lập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO, nhằm giải quyết các tranh chấp thương
mại. Các hiệp ước thương mại song phương khác, bao gồm một phần của Hiệp ước
Maastricht của châu Âu và Hiệp ước mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký
kết nhằm mục tiêu giảm bớt các thuế quan và rào cản thương mại. Từ thập kỷ 1970, các
• Sự lan rộng của chủ nghĩa tư bản từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát
triển.
• TCH thúc đẩy mạnh, nhanh sự phát triển đặc biệt là sự xã hội hóa các LLSX đưa lại sự
tăng trưởng kinh tế cao
• TCH thúc đẩy sự tăng trưởng của thương mại thế giới
• TCH thúc đẩy tăng trưởng đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự hợp tác giữa các doanh
nghiệp
• TCH thúc đẩy sự gia tăng lưu thông quốc tế về vốn.
CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA QUÁ TRÌNH
TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
TOYOTA.
2.1 .Giới thiệu chung về công ty đa quốc gia Toyota
Toyota Motor Corporation là một công ty đa quốc gia có trụ
sở tại Nhật Bản, hiện là công ty lớn thứ hai trên thế giới sau tập
đoàn ôtô khổng lồ General Motors, Mỹ, và là công ty đứng đầu thị trường ôtô Việt Nam,
thành công của Toyota bắt nguồn từ sự kết hợp giữa tài năng kinh doanh thiên bẩm và
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
những sắc màu văn hoá truyền thống của người Nhật Bản. Về mặt công nhận quốc tế,
hãng Toyota là nhà sản xuất xe hơi duy nhất có mặt trong nhóm top 10 xếp hạng công
nhận tên BrandZ
Sự ra đời và phát triển của thương hiệu Toyota gắn liền với dòng họ Toyoda, thuộc quận
Aiichi, cách thủ đô Tokyo hơn 300 km về phía đông nam. Năm 1936, gia đình Sakichi
Toyoda có ý tưởng thành lập công ty chuyên sản xuất ôtô khi họ giành được một trong
hai giấy phép sản xuất ôtô của chính phủ Nhật Bản.
Thương hiệu Toyota ra đời từ đó và tháng 4/1937, Toyota chính thức được đăng ký bản
quyền thương mại.
Chiến lược kinh doanh đúng đắn mang lại cho Toyota những thành công vượt bậc về mặt
thương mại, bên cạnh đó là sự phát triển vượt bậc về công nghệ sản xuất ôtô. Toyota
không có nhiều bằng phát minh sáng chế như General Motors hay Ford Motor Company,
tuy nhiên, chất lượng của sản phẩm mang thương hiệu Toyota luôn được đảm bảo ở mức
lưới đại lý phân phối xe Lexus tại Mỹ.
Năm 1994: Bành trướng
Nhờ việc mở nhà máy tại Anh 2 năm trước đó, sản lượng hàng năm của Toyota ở nước
ngoài đạt con số 1 triệu xe. Cũng trong năm 1994, mẫu xe thể thao việt dã cỡ nhỏ RAV4
ra mắt tại Nhật Bản và châu Âu.
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
Năm 1997:Bắt đầu chiến dịch “xanh”
Prius, mẫu hybrid đầu tiên được sản xuất với số lượng lớn, chính thức có mặt trên thị
trường Nhật Bản vào năm 1997 và có mặt trên toàn thế giới 4 năm sau đó. Năm 1999,
Toyota niêm yết tên trên sàn chứng khoán London và New York .
Năm 2001-2002: Tiến sang Trung Quốc
Toyota tiếp tục mở rộng hoạt động. Năm 2001, Toyota bắt đầu sản xuất tại nhà máy
Sichuan Toyota ở Tứ Xuyên, Trung Quốc. Năm 2002, Toyota ký thỏa thuận hợp tác với
tập đoàn ô tô FAW của Trung Quốc nhằm tăng sản lượng tại đây.
Kết thúc quý 1/2007, Toyota đã lần đầu tiên vượt qua General Motors để tạm thời trở
thành nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới. Thành công này của Toyota không phải là điều
dễ dàng đạt được trong một sớm một chiều, mà là thành quả của hơn 70 năm nỗ lực, với
không ít khó khăn
2.2 Tác động của xu thế toàn cầu hóa đối với công ty đa quốc gia toyota
2.2.1 Điểm mạnh.
Trong quá trình toàn cầu hóa công ty đa quốc gia Toyota có một số điểm mạnh cụ thể là:
Toyota nổi tiếng trong việc sản xuất những chiếc xe chất lượng cao và vừa túi
tiền
Đây không chỉ là kết quả của sự tận tâm trong công việc mà đó chính là triết lý của tập
đoàn được phát triển bởi người sáng lập công ty. Sakichi Toyoda tin rằng sự thành công
sẽ có được nếu luôn hướng về tương lai và nổ lực để thực hiện định hướng đó. Chính vì
vậy ông đã sử dụng phương pháp luôn luôn hoàn thiện Kaizen.
Chế độ chăm sóc khách hàng tốt
Trong bài khảo sát về chỉ số hài lòng của khách hàng đối với các nhãn hiệu ôtô được thực
hiện gần đây, Toyota đã lọt vào tốp 5, cùng 4 hãng xe sang khác.
Chiến lược kinh doanh đúng đắn
Vớchiến lược kinh doanh đúng đắn mang lại cho Toyota những thành công vượt bậc về
mặt thương mại, bên cạnh đó là sự phát triển vượt bậc về công nghệ sản xuất ôtô. Toyota
không có nhiều bằng phát minh sáng chế như General Motors hay Ford Motor Company,
tuy nhiên, chất lượng của sản phẩm mang thương hiệu Toyota luôn được đảm bảo ở mức
độ cao nhất bởi Toyota sở hữu những kỹ sư, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công
nghệ ôtô thế giới
2.2.2 Điểm yếu.
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
Trong quá trình toàn cầu hóa bên cạnh các điểm mạnh còn có các điểm yếu mà công ty
đa quốc Toyota cần chú ý:
2.2.2.1Khả năng cạnh tranh còn hạn chế
Hiện nay thị trường cạnh tranh đang tồn tai rất nhiều nhà sản xuất có danh tiếng với
những dòng xe có chất lượng cao như Volskwagen, mercerdesBenz,BMW,Opel , huyndai
dù các công ty bị ảnh hưởng không nhỏ bởi sự ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu tuy
nhiên nhờ các gói kích cầu của chính phủ các nước cùng chính sách của các nhà sản xuất
làm cho thị trường ô tô trở nên sôi động hơn.
Suy thoái kinh tế làm cho thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Tại Mỹ nơi đã
từng mang lại thành công về doanh thu lớn cho các hãng ô tô cũng giảm rõ rệt. Toyota
giảm 25%
Thời gian gần đây các hang xe không ngừng đưa ra sản phẩm mới cạnh tranh nhau trong
từng mẫu mã ,chi tiếtsảnphẩm ,bảohành , phânphối , dịch vụ chăm sóc khách hàng, đảm
bảo độ an toàn của xe.Không chỉ không đảm bảo về chất lượng xe , mà động cơ thiết bị
của xe cũng không vượt trội hơn so với các xe của hang khác : động cơ yếu hơn đối thủ
cạnh tranh , ăn xăng hơn, mức tiêu thụ nhiên liệu cao hơn , trang thiết bị kém an toàn ,
kém ổn định ở tốc độ cao. Ta lấy 1 ví dụ so sánh xe Toyota Fortuner với các đối thủ khác
như Honda
- Động cơ yếu hơn các đối thủ khác
Fortuner V dung động cơ xăng 2,7L 4 xy lanh thẳng hàng 158 mã lực, mô-men xoắn cực
đại 177,7 lb/ft tại tốc độ vòng tua 3800 vòng/phútcùnghộpsốtựđộng 4 cấp.
cả từ tổng hành dinh tại Nhật Bản, kéo theo việc không kiểm soát được các nhà cung cấp.
Sự cố kỹ thuật trong dòng xe hiện đại nhất của hãng này bộc lộ rõ nét những nhược điểm.
" Vụ để một kiện hàng chứa 96 động cơ lại bị bỏ quên tại cảng Hải Phòng trong hơn hai
năm, đó là do sự yếu kém trong quản lý của bộ phận nhập hàng, và là một sai sót nghiêm
trọng trong hoạt độngquản lý. Ngoài ra côcó sai sg ty còn có sai sót nữa là chưa thiết lập
được hệ thống kênh thông tin cần thiết và có trách nhiệm trong nội bộ công ty cũng như
với khách hàng và các đại lý, các bộ phận chức năng và những người phụ trách đã không
thông báo tới những khách hàng mua lô xe lắp động cơ này trước khi bàn giao xe.’’ Nó
đã thể hiện điểm yếu trong mô hình quản lý của Toyota.
Theo các chuyên gia ôtô Hàn Quốc, thất bại của Toyota trước hết bắt nguồn từ những nỗ
lực “toàn cầu hóa” không hợp lý. Với tham vọng vươn lên vị trí số 1 thế giới, hãng đã mở
rộng sản xuất một cách không kiểm soát.
Trong quá trình đó một loạt nhân viên vốn am hiểu hệ thống sản xuất của hãng đã trở
thành đối tượng của tái cơ cấu, tinh giản biên chế và phải ra đi. Suy thoái kinh tế toàn cầu
đã buộc Toyota phải cắt giảm nhân viên chính thức và sử dụng lao động bán thời gian
thiếu kinh nghiệm.
2.2.3 Cơ hội.
Hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội mới và những thách
thức mới cho các doanh nghiệp . Những cơ hội đó có thể kể đến là: Có một thị trường
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm được sản xuất ra trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa; thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát
triển của các nước và các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ; có điều kiện tiếp nhận công
nghệ sản xuất và công nghệ quản lý thông qua các dự án đầu tư.
2.2.3.1 Thị trường rộng lớn
Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường tiêu thụ và thị trường về nguồn nguyên vật liệu.
Trong giao lưu thương mại thị trường rộng lớn là cơ hội để các doanh nghiệp tăng doanh
thu và lợi nhuận từ việc buôn bán, trao đổi các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, … của mình
cho thị trường các nước khác trên thế giới.Trong quá khứ, Toyota chỉ giới hạn hoạt động
phong phú. Đây là cơ hội rõ nét để các doanh nghiệp khẳng định vị thế, quảng bá, nâng
tầm hình ảnh của mình trên trường quốc tế, với bè bạn các nước.
2.3.3.5. Cơ hội giao lưu hợp tác, trao đổi học hỏi với các doanh nghiệp khác trên thế
giới.
Toàn cầu hóa cũng tạo cơ hội cho các doanh ngiệp giao lưu văn hóa, học hỏi kinh
nghiệm, hợp tác quốc tế với thế giới, với các doanh nghiệp khác không chỉ trong mà cả
ngoài nước
2.2.4 Thách thức.
2.2.4.1 Thứ nhất, biến động về chính sách, tình hình tài chính của các nước
Khó khăn chung đầu tiên dễ nhận thấy là biến động về chính sách. Những cơn sốt nóng
hay sốt lạnh của thị trường ô tô nhiều năm đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ điều chỉnh các
chính sách, từ việc điều chỉnh thuế, đến phí, lệ phí. Điều đáng nói là chủ trương hạn chế
phương tiện cá nhân, trong đó có ô tô, đang tiếp tục được hiện thực hóa bằng các đề xuất
thu phí lưu thông.
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
Kể từ đầu năm 2012 này, lệ phí trước bạ cũng như phí đăng ký xe tại hai trung tâm kinh
tế lớn nhất cả nước là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh tăng vọt, khiến chi phí sở hữu xe tăng
vài chục đến vài trăm triệu đồng mỗi chiếc. Chưa dừng lại ở đó, những đề xuất thu phí
lưu hành ô tô hàng năm, phí vào nội đô giờ cao điểm được các cơ quan chức năng xây
dựng đang trở thành đề tài nóng trên thị trường. Dù vấp phải sự phản đối của nhiều cá
nhân, tổ chức nhưng xem ra chính sách này sẽ sớm muộn được ban hành, dù không áp
dụng ngay trong năm 2012 như tuyên bố của lãnh đạo các cơ quan chức năng trong cuộc
họp báo thường kỳ Chính phủ diễn ra hôm 1/4 vừa qua.
Tập đoàn ô tô số 1 Nhật Bản này đã tăng cường các biện pháp quản lý
chất lượng, đồng thời giữ vững mục tiêu
doanh số, bất chấp nhiều ý kiến lo ngại
về việc những biến động trên thị
trường tài chính Mỹ sẽ ảnh hưởng
tiêu cực đến thị trường ô tô.Có nhiều
giấy ủy quyền.
Bên cạnh đó những nhân tố như thuế nhập khẩu, gia tăng tỷ giá, tăng lệ phí trước bạ, phí
cấp biển số mới và lãi suất ngân hàng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường ôtô, gây
khó khăn cho công ty.
2.2.4.3 Thứ ba, khả năng cạnh tranh
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của xe "Hàn". Tại Việt Nam, sự phong phú về mẫu mã, trang bị trên
xe cũng như mức giá hợp lý
đã giúp cho thương hiệu xe KIA do Trường Hải lắp ráp và Hyundai do Hyundai Thành
Công nhập khẩu, lắp ráp đã thu hút một lượng không nhỏ khách hàng. Năm ngoái,
Trường Hải đã vươn lên vị trí quán quân về doanh số bán các loại xe, trong đó xe du lịch
chỉ đứng sau Toyota (gần 30.000 chiếc). Trong khi đó chỉ với 1 mẫu xe chính thức lắp
ráp Avante, còn lại là nhập khẩu nguyên chiếc, nhưng năm 2011, Hyundai Thành Công
vẫn đạt doanh số trên 13.500 chiếc, và năm 2012 đặt mục tiêu bán 18.000 chiếc. Đó là
chưa kể xe Mỹ gốc Hàn của GM Việt Nam cũng đang nỗ lực làm mới hình ảnh của mình
trong mắt người tiêu dùng Việt Nam.
Nói như vậy không có nghĩa là xe Toyota mất niềm tin. Chất lượng xe, tính thanh khoản
vẫn là điểm mạnh truyền thống của hãng xe Nhật và điều đó vẫn thu hút nhiều tín đồ theo
khẩu hiệu "Ô tô phải là Toyota "
2.2.4.4 Thứ tư, vấn đề môi trường
Vốn được đánh giá là "Hãng xe xanh", tại Mỹ Toyota đang phải đối mặt với những chỉ
trích của các tổ chức bảo vệ môi trường trong việc tham gia chống lại những quy chuẩn
về bảo vệ môi trường nhưng vẫn đứngdưới vỏ bọc “thân thiện: cụ thể là dự luật về năng
lượng có tiêu chuẩn về tiêu thụ xăng mà Quốc hội Mỹ đang cân nhắc banhành.Trong suốt
2 tuần qua, khoảng 8300 nhà hoạt động của Hội đồng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
NRDC đã gửi thư vàfax tới Công ty Toyota, yêu cầu công ty này tuân thủ những dự luật
về năng lượng mà Thượng Nghị viện ban hành. Theo đóđến năm 2020, việc tiêu thụ xăng
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
của xe ô tô phải ở mức 6,8l/100km.Một tổ chức bảo vệ môi trường khác, Hiệp hội Những
nhà khoa học và bảo vệ môi trường quốc gia cũng đã yêu cầuToyota chấp hành tiêu
những thị trường nội địa riêng lẻ. Sự toàn cầu hóa của Toyota thực tế đã được dẫn dắt bởi
một cơ chế hợp tác phức tạp giữa những vùng lãnh thổ khác nhau.
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
+ Mở rộng quy mô Kế hoạch xây dựng những trung tâm đào tạo tương tự tại
Georgetown, Kentucky và nhiều nơi khác trên thế giới để tăng tốc cho giai đoạn tăng
trưởng tới. đào tạo cho công nhân tại những trung tâm mới chính là chìa khóa duy trì chất
lượng và giảm tai tiếng cho công ty trong những năm gần đây.
+ Phát triển khả năng riêng biệt: - Các mẫu xe thông minh và tiếng tăm về chất lượng -
Với danh tiếng về chất lượng và tiết kiệm nhiên liệu trước tình trạng giá năng lượng "leo
thang" đang khiến nhu cầu của các loại xe nhỏ - thế mạnh của hãng - tăng mạnh.
+ Hiện nay Toyota lại theo đuổi một chiến dịch toàn cầu hóa đầy tham vọng. Từ 20 nhà
máy tại 14 nước, hiện công ty đã có 47 nhà máy ở 26 nước, không kể Nhật. Sắp tới công
ty sẽ tiếp tục mở thêm nhà máy tại Mexico, Tiệp Khắc và Mỹ. Toyota đang thử nghiệm
giảm thời gian hoàn thiện mẫu xe mới (tính bằng tháng) và làm việc với nhà cung cấp để
tiết giảm chi phí cho phụ tùng.
-Bản kế hoạch 10 năm tầm nhìn 2020 :
+Tinh giảm ban điều hành
Kế hoạch tinh giảm ban điều hành của Toyota sẽ giúp nhà sản xuất này thích nghi nhanh
chóng với những thách thức và thay đổi trên khắp toàn cầu.
“Sự bất ổn ở Toyota dường như nằm ở chỗ họ có quá nhiều thành viên ban điều hành,
dẫn đến quan điểm không thống nhất và chồng chéo trong hoạt động,” Tadashi Usui,
chuyên gia phân tích tại Moody’s K.K (Tokyo) nói.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và thu hồi 20,4 triệu xe khắp thế giới từ tháng
11/2009, Toyota đã tụt xuống sau đối thủ Honda về lợi nhuận và cách thức vận hành.
Phía Toyota cũng có kế hoạch giảm đầu tư tài chính ít nhất trong 5 năm tới để cắt giảm
chi phí.
+Thách thức từ Volkswagen, GM
Trong những năm tới, Toyota sẽ phải đối mặt với không ít thách thức từ các đối thủ cạnh
tranh. Đầu tiên là tham vọng lật đổ Toyota để trở thành hãng sản xuất xe hơi lớn nhất thế
giới vào năm 2018 của Volkswagen. Tiếp đến là sự hồi sinh mạnh mẽ của General
trong năm tới và con số này dự kiến tăng lên 8,98 triệu chiếc vào năm 2013, với doanh số
bán 8,95 triệu chiếc. Với một phương hướng chính xác và nhiều chương trình chiến lược
cụ thể thì chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào tương lai tốt đ«p cua Toyota.
3.2 Các giải pháp phát triển đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
3.21. Biện pháp phát triển từ phía Toyota.
• Tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường:
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào trong ngành nào khi muốn thành công trong hoạt
động sản xuất kinh doanh thì không thể bỏ qua công tác nghiên cứu thị trường và doanh
nghiệp sản xuất ôtô cũng không ngoại lệ. Theo các chuyên gia nghiên cứu thì các doanh
nghiệp nào đầu tư lớn vào công tác này thì họ có cơ hội thành công cao hơn những doanh
nghiệp không chú trọng vào công tác này .
Nghiên cứu thị trường là xuất phát điểm để định ra các chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp từ đó các doanh nghiệp lập ra các kế hoạch để thực hiện theo các chiến lược đã đề
ra. Không chỉ nghiên cứu thị trường cần cho giai đoạn bắt đầu sản xuất mà nó còn cần
cho bất kỳ giai đoạn nào trong chu kỳ sản xuất kinh doanh bởi vì thị trường không đứng
yên mà nó luôn thay đổi theo chu kỳ của nó do vậy ai không nhanh nhậy nắm bắt các giai
đoạn của thị trường thì người đó rất rễ bị loại ra khỏi thị trường .
Do vậy việc nghên cứu thị trường đối với Toyota Việt nam phải là một việc thường xuyên.
Mục đích của nghiên cứu thị trường của Toyota Việt Nam là nghiên cứu khả năng tiêu thụ ôtô
của hãng mình và tỷ trọng của hãng mình trong thị trường cụ thể ở đây là nước việt nam và
trên cơ sở đó tạo các chiến lược kinh doanh sao cho phù hợp với những điều kiện đó. Dựa vào
những kết quả nghiên cứu mà công ty riến hành phân bổ mạng lưới kinh doanh sao cho phù
hợp nhất thiết phải tiến hành phân đoạn thị trường và qua đó rễ dàng cho công cuộc quản lý
cũng như phát triển đoạn thị trường đó .
Toyota không những chỉ đi nghiên cứu khái quát thị trường mà phải đi vào từng đối
tượng cụ thể là loại hàng hóa của công ty mình cụ thể là ôtô thì sẽ phục vụ cho các đối
tượng nào, chẳng hạn ở nước ta thì phần lớn xe ôtô được các cơ quan nhà nước tiêu thụ,
người tiêu dùng là dân thường rất ít. Vì thế mà các liên doanh phải làm các biện pháp tiếp
thị cũng như có các chính sách ưu đãi về hoa hồng để kích thích cầu của khúc thị trường
doanh nghiệp cũng có rất nhiều mặt lợi như có thể giảm được chi phí xuống do công nhân
tiết kiệm nguyên vật liệu và giá sẽ giảm và sản phẩm dễ tiêu thụ hơn, doanh nghiệp sẽ có
điệu kiện để phát triển. Hiện nay các doanh nghiệp cạnh tranh của Toyota đã rất quán triệt
điều này đã có những hãng ra các loại xe giá có thể cho là rất rẻ ở thị trường việt nam như xe
matiz của hãng daewoo (8890 usd) ,
• Hoàn thiện mạng lưới dịch vụ trước , trong và sau bán hàng:
Trước hết các hãng sản xuất ôtô ở nước ta phải hết sức quan tâm đó là chất lượng của
hàng hóa bán ra và ngày càng phải coi đó là thước đo của doanh nghiệp để ngày càng
không ngừng nâng cao thước đo đó có thể coi đó là kim chỉ nam cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, mà muốn có một sản phẩm tốt thì doanh nghiệp không
những phải không ngừng đầu tư vào các dây chuyền công nghệ mới, hiện đại mà còn phải
đầu tư vào công tác đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề cũng như các nhà lãnh đạo của
công ty cũng phải không ngừng trao dồi kiến thức chuyên môn cũng như kiến thức quản
lý của mình nếu không sẽ không đủ năng lực để quản lý .
Trong xu thế chung hiện nay là phần lớn các mặt hàng cung đều lớn hơn cầu rất nhiều do
vậy các doanh nghiệp cần có những biện pháp hết sức cụ thể trong công đọan bán hàng.
Một doanh nghiệp nếu muốn bán được hàng thì doanh nghiệp đó ngoài những điều nêu
trên thì cần phải có các hình thức bán thuận lợi và các phương thức thanh toán cũng rất
đa dạng và thuận tiện. Hiện nay đa số các công ty đều rất chú trọng đến vấn đề này vì đa
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
đa số các loại xe ở nước ta giá rât cao do vậy nếu Toyota có chế độ thanh toán thích hợp
thì công đó sẽ có lợi thế trên thị trường .
Hầu hết các hãng ôtô lớn ở nước ta đều thực hiện phương thức bán trả góp tiêu biểu như
hãng Toyota, Mercedes–Benz đều có những chính sách bán trả góp rất thuận tiện như trả
trước 50% tiền và số còn lại trả trong 60 tháng và với laĩ xuất cực kỳ nhỏ,chính điều này
đã làm cho thị phần của hai hãng này tăng lên đáng kể trong thời gian vừa qua .
Và một phần không kém phần quan trọng trong việc một liên doanh ôtô có tồn tại được
lâu hay không đó chính là việc hãng đó có các chế độ bảo hành , cũng như bảo dưỡng
như thế nào. Ngày nay dịch vụ sau bán hàng cũng chiếm một thị phần không nhỏ trong
tổng doanh thu của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp nào càng có chế độ bảo hành cũng
Chính vì vậy mà hãng phải không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân
viên và các nhà lãnh đạo .
KẾT BÀI
Như mọi người nhận định toàn cầu hóa vừa là cơ hội, vừa là thử thách. Toàn cầu hóa tạo
ra rất nhiều cơ hội giao lưu và tiếp cận lẫn nhau cho con người ở khắp mọi nơi trên thế
giới. Do đó thương hiệu, với khả năng vượt qua rào cản ngôn ngữ và bản sắc địa phương,
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
là công cụ hữu hiệu nhất thâm nhập thị trường toàn cầu, ở đây được hiểu là thị trường đa-
địa-phương. Có một nguyên tắc cơ bản nhất là quốc gia chiếm vị thế dẫn đầu là quốc gia
có nhiều thương hiệu mạnh và dẫn đầu hơn cả. Cũng có thể nói ngược lại, quốc gia có
nhiều thương hiệu quốc tế mạnh sẽ là quốc gia giàu mạnh và có vị thế lớn trên toàn cầu.
Bản sắc quốc gia được thể hiện thông qua sản phẩm và thương hiệu làm sứ giả của quốc
gia chinh phục thị trường toàn cầu.
Từ những thuận lợi và khó khăn trên, công ty Toyota cần đánh giá đúng được cơ hội và
thách thức mà toàn cầu hóa mang lại, để từ đó, đưa ra những chính sách lâu dài và ổn
định nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô trong tương lai, tránh các rủi
ro trong thương mại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kinh doanh quốc tế đại cương-nhóm 4
1. Toàn cầu hóa –Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa-
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2006) của TS. Phạm Thái Việt, Viện Thông tin
KHXH
2. Nhìn Về Toàn Cầu Hóa-Võ Kiều Ninh
3. Toàn Cầu Hóa Và Những Mặt Trái của Giáo Sư Joseph E. Stiglitz
4. Toàn cầu hoá: Thực tiễn tiến hoá của nhân loại - Nguyễn Hồng Chí
5.
6. />TY-DA-QUOC-GIA.html
7. />truong-cua-cong-ty-da-quoc-gia-toyota-tai-viet-nam.html