kế toán chi phí xây dựng công trình trường tiểu học đoàn thị điểm - Pdf 24

Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
***
1. Tính cấp thiết:
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công
nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền Kinh tế Quốc dân. Một bộ phận
lớn của thu nhập quốc dân, của tích lũy cùng với đầu tư của nước ngoài được sử
dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng, tính đủ giá
thành công trình xây lắp có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành
xây dựng, trong việc kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh
nghiệp nói chung và các tổ chức đội xây dựng nói riêng. Với chức năng là ghi chép,
tính toán, phản ánh và giám sát thường xuyên liên tục sự biến động của vật tư, tài
sản, tiền vốn, kế toán sử dụng thước đo hiện vật và thước đo giá trị để quản lý chi
phí thông qua số liệu do kế toán tập hợp chi phí, người quản lý biết được chi phí và
giá thành thực tế của từng công trình, hạng mục công trình của quá trình sản xuất
kinh doanh. Do vậy, tổ chức tốt công tác hạch toán chi phí sản xuất để xác định nội
dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành cũng như lượng giá trị các yếu tố
chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu rất cần thiết đối với các
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng. Hạch toán chi phí xây
lắp là phần không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp xây lắp khi thực hiện chế
độ kế toán, hơn nữa là nó có ý nghĩa to lớn và chi phối chất lượng công tác kế toán
trong toàn doanh nghiệp. Công tác hạch toán chi phí xây lắp để kiểm soát dự toán
chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp là rất cần thiết. Tuy nhiên việc hạch toán chi
phí để kiểm soát dự toán chi phí xây lắp là vấn đề khó khăn bởi tính đa dạng của các
loại hoạt động và tính phức tạp của chi phí. Trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều
bất cập trong kế toán chi phí xây dựng công trình tại công ty.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu vấn đề này, mong rằng những ý kiến đóng góp nhỏ của
em doanh nghiệp sẽ có cái nhìn đúng đắn về vấn đề kế toán chi phí sản xuất và tính
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
2
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
4.1.1 Phương pháp điều tra trắc nghiệm
Đây là phương pháp sử dụng các phiếu điều tra trắc nghiệm để tiến hành thu
thập các thông tin cần thiết. Phương pháp này được thực hiện qua 4 bước:
Bước 1: Xác định nguồn thông tin về kế toán chi phí xây dựng Trường tiểu
học Đoàn Thị Điểm và đối tượng cần điều tra
Các thông tin cần điều tra về kế toán chi phí xây dựng Trường tiểu học Đoàn
Thị Điểm bao gồm các chính sách kế toán áp dụng tại Công ty, các chứng từ, tài
khoản sử dụng trong công tác tập hợp CPSX và tính chi phí sản xuất, quy trình luân
chuyển chứng từ. Đối tượng điều tra là cán bộ của các phòng ban trong Công ty có
liên quan đến công tác tập hợp Chi phí sản xuất như phòng kế toán, bộ phận kho,
phòng vật tư.
Bước 2: Thiết lập phiếu điều tra
Các câu hỏi trong mẫu phiếu điều tra tập trung đến các thông tin như chính
sách kế toán, việc quản lý theo dõi nhập, xuất, tồn nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ,
tính và thanh toán lương.
Bước 3: Phát phiếu điều tra
Bước 4: Thu lại các phiếu điều tra đã phát và tổng hợp kết quả các phiếu điều
tra
4.1.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được áp dụng theo hình thức phỏng vấn trực tiếp các cô
chú, anh chị trong ban lãnh đạo và phòng Kế toán – Tài chính về tình hình sản xuất
kinh doanh, cơ cấu bộ máy kế toán, cũng như tình hình tổ chức công tác kế toán chi
phí sản xuất sản phẩm sản tại công ty. Khi tiến hành phương pháp này, các nhân
viên kế toán đã cảm thấy tự nhiên hơn, và có dịp đưa ra những quan điểm, những ý
tưởng cùng những nhận xét rất khách quan của mình về đặc điểm kế toán chi phí
sản xuất sản phẩm tại công ty. Quy trình tiến hành phương pháp phỏng vấn được

Quang Long.
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
4
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ XÂY LẮP CÔNG TRÌNH
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về chi phí xây lắp công trình
1.1.1. Các khái niệm cơ bản chi phí xây lắp công trình
1.1.1.1. Khái niệm
* Chi phí
Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm các lợi ích kinh tế trong kì kế toán
dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các
khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu không bao gồm khoản phân phối cho
cổ đông hoặc chỉ sở hữu.
Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình
hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác.
* Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống
và lao động vật hóa cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp phải chi ra trong một kỳ sản xuất kinh doanh
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí vật liệu trực tiếp xây dựng là những chi phí vật liệu chính, vật liệu
phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyển tham gia cấu
thành thực thể công trình xây dựng hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối
lượng xây dựng như: Sắt thép, xi măng, gạch, gỗ, cát, đá, sỏi, tấm xi măng đúc sẵn,
kèo sắt, cốp pha, đà giáo Không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi
công và sử dụng cho quản lý đội công trình.
* Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số ngày
công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây dựng,

1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
a. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
6
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
Căn cứ vào tính chất hay nội dung kinh tế và hình thái nguyên thuỷ ban đầu
của chi phí phát sinh để sắp xếp chi phí có cùng nội dung kinh tế thành từng loại và
mỗi loại một yếu tố chi phí.
Theo cách phân loại này thì toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được
chia thành 05 yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các loại nguyên vật liệu mà doanh
nghiệp đã sử dụng trong kỳ dùng cho hoạt động sản xuất.
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ tiền công, tiền lương, phụ cấp và các
khoản trích theo lương theo quy định của nhà nước đối với công nhân viên của
doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài
sản cố định sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền chi trả các loại hình
dịch vụ mua ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại phục vụ cho sản xuất của
doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động
sản xuất ngoài 4 yếu tố nêu trên.
b. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng kinh tế của chi phí
Căn cứ vào mục đích, công dụng kinh tế, địa điểm phát sinh chi phí và nơi
chịu chi phí để chia các chi phí thành các khoản mục khác nhau.
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành 3 khoản
mục, đó là:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
+ Chi phí nhân công trực tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung.

công việc hay một phân xưởng.
+ Chi phí gián tiếp:
Là những chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng vì vậy cần phải
tiến hành phân bổ các chi phí đó cho các đối tượng thông qua các tiêu chuẩn phân
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
8
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
bổ. Với cách phân bổ này có tác dụng trong việc xác định phương pháp tập hợp,
phân bổ cho các đối tượng được hợp lý và chính xác.
d. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất
Theo cách này thì chi phí sản xuất được chia thành 2 loại:
+ Chi phí cơ bản:
Là chi phí thuộc các yếu tố cơ bản, có mối quan hệ trực tiếp với quy trình công
nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm như các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
khấu hao tài sản cố định trực tiếp
+ Chi phí chung: là những chi phí phục vụ quản lý sản xuất, mang tính chất
chung toàn bộ sản xuất hay của một bộ phận sản xuất.
e. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với các khối lượng hoạt động
Theo cách này thì toàn bộ chi phí được chia làm 3 loại:
+ Chi phí biến đổi:
Là những chi phí có thay đổi về số lượng, tỉ lệ với khối lượng hoạt động hoặc
khối lượng sản phẩm hoàn thành như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí tiền
công tính theo sản phẩm
+ Chi phí cố định:
Là những chi phí không có sự thay đổi khi khối lượng hoạt động hoặc khối
lượng hoàn thành thay đổi. Lẽ dĩ nhiên là khối lượng hoạt động thay đổi ở mức
tương đối. Còn nếu thay đổi đủ lớn thì nhất định kéo theo sự thay đổi về chi phí cố
định.
+ Chi phí hỗn hợp:
Là những chi phí vừa mang tính chất cố định, vừa mang tính chất biến đổi.

sung một số phương pháp xác định chi phí xây dựng trong dự toán xây dựng công
trình. Xuất phát từ đặc điểm của phương pháp lập dự toán trong XDCB dự toán
được lập theo từng hạng mục chi phí gồm: Phương pháp xác định chi phí xây dựng
theo khối lượng và đơn giá xây dựng công trình; Phương pháp xác định chi phí xây
dựng theo suất chi phí xây dựng trong suất vốn đầu tư; Phương pháp xác định chi
phí xây dựng theo số liệu của các công trình xây dựng có chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật
tương tự đã thực hiện; Phương pháp xác định chi phí xây dựng theo tổng khối
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
10
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
lượng hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công và bảng giá tương ứng; Phương
pháp xác định chi phí xây dựng theo định mức tỷ lệ; Phương pháp kết hợp.
Theo nghị định số 112/2009/NĐ – Cp về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công
trình chính phủ thì:Chi phí xây dựng được lập cho công trình, hạng mục công trình
chính, các công việc của công trình cụ thể và được xác định bằng cách lập dự toán
(dự toán chi phí xây dựng). Đối với các công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ
thi công, chi phí xây dựng được xác định bằng cách lập dự toán; nhà tạm để ở và
điều hành thi công tại hiện trường, chi phí xây dựng được xác định bằng định mức
tỷ lệ,
1.1.2.2. Yêu cầu quản lý chi phí xây lắp
Do đặc thù ngành XDCB và của sản phẩm xây dựng cho nên việc quản lý về
đầu tư và xây dựng là quá trình khó khăn, phức tạp, nhất là từ khi chuyển từ nền
kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Việc quản lý thi công nói chung và
quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm nói riêng phải hết sức chặt chẽ.
Đối với sản phẩm xây lắp trước khi thi công nhất thiết phải lập dự toán (dự
toán thiết kế, dự toán thi công). Trong quá trình sản xuất phải thường xuyên đối
chiếu với dự toán để kịp thời phát hiện những sai lệch. Có thể nói dự toán được
dùng làm thước đo để đáng giá các hoạt động.
Do phải thi công ngoài trời nên công tác quản lý việc sử dụng tài sản, vật tư,
thiết bị rất phức tạp, hơn nữa do ảnh hưởng thời tiết nên việc hao hụt, mất mát là

12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Nội dung chuẩn mực về chi phí sản xuất:
- Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình
hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác.
- Chi phí sản xuất, kinh doanh ph át sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
thông thường của doanh nghiệp, như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động
cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền, Những chi phí
này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tơng đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao
máy móc, thiết bị.
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
12
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh
phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp,
như: chi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng
phạt do vi phạm hợp đồng,
Ghi nhận chi phí
- Chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế
trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi
phí này phải xác định đợc một cách đáng tin cậy.
- Các chi phí được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải
tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
- Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được trong nhiều kỳ kế toán có liên quan đến
doanh thu và thu nhập khác được xác định một cách gián tiếp thì các chi phí liên
quan được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân bổ
theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ.
- Một khoản chi phí được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau.

điểm tương tự. Việc phân bổ cần dựa trên mức thông thường của hoạt động xây
dựng. (Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng và có thể phân bổ
cho từng hợp đồng cũng bao gồm chi phí đi vay nếu thỏa mãn các điều kiện chi phí
đi vay được vốn hóa theo quy định trong Chuẩn mực "Chi phí đi vay").
3. Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp
đồng như chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai mà khách hàng phải trả lại
cho nhà thầu đã được quy định trong hợp đồng.
4. Chi phí không liên quan đến hoạt động của hợp đồng hoặc không thể phân
bổ cho hợp đồng xây dựng thì không được tính trong chi phí của hợp đồng xây
dựng. Các chi phí này bao gồm:
(a) Chi phí quản lý hành chính chung, hoặc chi phí nghiên cứu, triển khai
mà hợp đồng không quy định khách hàng phải trả cho nhà thầu.
(b) Chi phí bán hàng;
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
14
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
(c) Khấu hao máy móc, thiết bị và TSCĐ khác không sử dụng cho hợp
đồng xây dựng.
5. Chi phí của hợp đồng bao gồm chi phí liên quan đến hợp đồng trong suốt
giai đoạn kể từ khi ký hợp đồng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Các chi phí liên
quan trực tiếp đến hợp đồng phát sinh trong quá trình đàm phán hợp đồng cũng đ-
ược coi là một phần chi phí của hợp đồng nếu chúng có thể xác định riêng rẽ, có thể
ước tính một cách đáng tin cậy và có nhiều khả năng là hợp đồng sẽ được ký kết.
Nếu chi phí phát sinh trong quá trình đàm phán hợp đồng đã được ghi nhận là chi
phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi chúng phát sinh thì chúng không còn được coi
là chi phí của hợp đồng xây dựng khi hợp đồng được ký kết vào thời kỳ tiếp sau.
1.2.2. Kế toán chi phí xây lắp công trình theo quy định chế độ kế toán hiện
hành
Theo Quyết định 15/2006/QD-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tài
chính về kế toán chi phí xây lắp công trình nói riêng và chế độ kế toán nói chung:

+ Giá trị nguyên vật liệu sử dụng không hết được nhập lại kho.
- Tài khoản này không có số dư cuối kỳ
b. Tài khoản 622: Chi phí nhân công trực tiếp
Tài khoản này phản ánh các khoản thù lao mà doanh nghiệp phải trả cho người
lao động trực tiếp xây lắp các công trình, công nhân phục vụ thi công. Tài khoản
này cũng được mở chi tiết theo từng công trình, HMCT, giai đoạn công việc
Kết Cấu của TK 622
- Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia sản xuất sản phẩm xây lắp,
cung cấp dịch vụ trong kỳ
-Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá thành.
- Tài khoản này không có số dư cuối kỳ.
c. Tài khoản 623: Chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công
phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn
hợp vừa thủ công vừa bằng máy. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
16
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
trình hoàn toàn bằng máy thì không sử dụng tài khoản 623 mà kế toán phản ánh trực
tiếp vào tài khoản 621, 622 và 627.
Kết cấu của TK 623:
- Bên Nợ: Các chi phí liên quan đến hoạt động của máy thi công .Chi phí vật
liệu, chi phí dịch vụ khác phục vụ cho xe, máy thi công không bao gồm thuế GTGT
hoặc gồm cả thuế GTGT.
- Bên Có: Các khoản giảm chi phí sử dụng máy thi công
- Kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí sử dụng máy thi công cho các công trình,
HMCT vào bên Nợ TK 154
Tài khoản 623 không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 623 chia làm 6 tài khoản cấp hai khác.
d. Tài khoản 627: Chi phí sản xuất chung

nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
- Số Dư Nợ: - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ
- Giá thành sản phẩm xây lắp của nhà thầu phụ hoàn thành giao cho nhà thầu
chính chưa được xác định tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản 154 được chi tiết thành 4 tài khoản cấp 2 khác.
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán chi phí sản xuất còn được sử dụng một số
tài khoản như TK632, TK631,TK333,TK133,TK335,TK214
(3). Trình tự kế toán
Kế toán CPNVLTT:
- Khi xuất vật liệu xây dựng sử dụng cho các công trình, hạng mục công trình
tính theo giá thực tế, kế toán căn cứ vào phiếu xuất kho ghi tăng chi phí NVL TT và
ghi giảm nguyên liệu, vật liệu
.
Trường hợp vật liệu xây dựng mua về sử dụng ngay
cho các công trình, hạng mục công trình thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng
theo phương pháp khấu trừ, kế toán sẽ ghi tăng Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào
bên Nợ TK621, tăng số Thuế GTGT được khấu trừ vào bên Nợ TK Thuế GTGT
được khấu trừ và Có TK liên quan như phải trả người bán nếu nhận nợ, TK tiến mặt,
tiền gửi ngân hàng nếu trả ngay bằng tiền. Nếu thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
18
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
theo phương pháp trực tiếp thì kế toán phản ánh luôn tổng giá thanh toán vào chi phí
(bao gồm cả thuế) vào bên Nợ TK NVLTT
- Trường hợp DNXL giao khoán cho đơn vị trực thuộc không tổ chức hạch toán
kế toán riêng. Khi DNXL tạm ứng tiền hay vật liệu cho đơn vị nhận khoán, kế toán
ghi tăng khoản tạm ứng vào bên Nợ TK 141 (1413 -Tạm ứng CP giao khoán xây
lắp nội bộ) và giảm các khoản tiền(nếu tạm ứng bằng tiền), nguyên vật liệu (nếu
tạm ứng bằng nguyên vật liệu). Khi quyết toán tạm ứng về giá trị khối lượng xây
lắp giao khoán nội bộ hoàn thành đã bàn giao được duyệt thì ghi riêng phần chi phí

từng máy thi công.
a) Trong trường hợp tổ chức đội xe, máy thi công riêng biệt, được phân cấp hạch
toán và có tổ chức kế toán riêng thì việc hạch toán được tiến hành tương tự như một
đội xây lắp và sử dụng các TK 621; 622; 627 và TK 154.
b) Nếu không tổ chức đội máy thi công riêng biệt hoặc có tổ chức đội máy thi
công riêng biệt nhưng không tổ chức kế toán riêng cho đội máy thi công thì toàn bộ
chi phí sử dụng máy ( kể cả chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời như phụ cấp
lương, phụ cấp lưu động của xe, máy thi công ) sẽ sử dụng TK 623 “Chi phí sử
dụng máy thi công” để hạch toán.
Kế toán căn cứ vào các chứng từ như bảng lương, phiếu xuất kho, hóa đơn mua
hàng để ghi tăng TK chi phí sử dụng máy thi công trên sổ cái hoặc sổ chi tiết TK
623.
Trong kỳ kế toán tính trích khấu hao xe, máy thi công sử dụng ở đội xe máy thi
công. Căn cứ vào phiếu chi bằng tiền phát sinh chi máy thi công để ghi tăng cho tài
khoản sử dụng máy thi công.
Cuối kỳ kế toán căn cứ vào bảng phân bổ chi phí sử dụng máy thi công (chi phí
thực tế ca xe, máy) tính cho từng công trình, hạng mục công trình ghi vào sổ Nhật
ký chung đồng thời ghi vào sổ chi tiết TK623 và tập hợp vào sổ cái TK623.
Cuối tháng kế toán tập hợp TK 623 kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công
sang CPSX KD DD để tính giá thành sản phẩm.
Kế toán CPSXC
- Khi tính tiền lương (tiền công), các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên của
đội xây dựng, tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lý đội, của công nhân xây dựng,
trích các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN tính theo tỷ lệ (%) quy định hiện
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
20
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
hành trên tiền lương của công nhân trực tiếp xây dựng, công nhân sử dụng máy thi
công và nhân viên quản lý đội ghi tăng Chi phí sản xuất chung (6271) và tăng
khoản Phải trả cho người lao động, phải trả phải nộp khác (TK 338 (3382, 3383,

nhau. Vì vậy tùy theo đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp mà kế toán sẽ
mở các hình thức sổ kế toán phù hợp.
a) Doanh nghiệp áp dụng sổ kế toán theo hình thức Nhật Ký - Sổ Cái:
Nhật ký - Sổ cái là sổ kế toán tổng hợp dùng để phản ánh tất cả các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian và hệ thống hóa theo nội cung kinh tế
(theo tài khoản kế toán). Số liệu ghi trên Nhật ký – Sổ cái dùng để lập các Báo cáo
tài chính.
Các loại sổ sử dụng: Nhật ký – Sổ cái TK 621, 622, 623, 627,152,
Các sổ và thẻ kế toán chi tiết chủ yếu: sổ TSCĐ, sổ chi tiết vật tư, sổ chi phí
sản xuất kinh doanh, sổ chi tiết thanh toán
Quy trình ghi sổ theo hình thức Nhât ký - Sổ cái
b) Doanh nghiệp áp dụng sổ kế toán theo hình thức Chứng từ ghi sổ:
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian. Sổ dùng để quản lý chứng từ ghi
sổ, kiểm tra đối chiếu số liệu với Bảng Cân đối số phát sinh.
Các loại sổ sử dụng: sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái các TK 621, 622,
623, 627, 154, đồng thời mở sổ theo dõi chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ như
TK152, 153, sổ kho, sổ chi phí sản xuất kinh doanh,
Quy trình ghi sổ theo hình thức Chứng từ ghi sổ
c) Doanh nghiệp áp dụng sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung:
Nhật ký chung là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế
tài chính phát sinh theo trình tự thời gian. Số liệu ghi trên sổ Nhật ký chung được
dùng làm căn cứ để ghi sổ cái.
Các loại sổ sử dụng: sổ nhật ký chung, nhật ký chi tiền, Sổ cái các TK 621,
622, 627, 623, Sổ chi tiết TK 152, 153,621, 622, 623,627, sổ kho
Quy trình ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
22
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
d) Doanh nghiệp áp dụng sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chứng từ:

Số tài khoản: 102 010 000 768 674- tại ngân hàng Công thương Việt Nam -
Chi nhánh Hải Dương.
- Vốn điều lệ : 50.000.000.000đ (Năm mươi tỷ đồng)
- Mệnh giá cổ phần : 10.000.000đ/1cổ phần.
- Số cổ phần và giá trị vốn cổ phần đã góp: 50.000.000.000đ (Năm mươi tỷ
đồng)
Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Quang Long là công ty cổ phần
thành lập theo quyết định số 0403 000 690 của Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải
Dương ngày 02 tháng 10 năm 2007.
Người đại theo pháp luật: ông Kiều Đức Quang
Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Quang Long là doanh nghiệp mới
thành lập 2007 đến nay đã được 5 năm song công ty đã đạt được thành tựu cơ bản,
góp phần nhỏ công sức xây dựng công trình cho quê hương Hải Dương nói riêng,
SVTH:Lã Thị Minh Tuyết Lớp K7HK9
24
Trường ĐH Thương Mại Chuyên đề tốt nghiệp
cho đất nước nói chung đẹp giàu hơn. Công ty đã nhận được bằng khen của Sở xây
dựng Hải Dương, của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương và đặc biệt là của Đại sứ
quán Pháp tại Việt Nam và Tổ chức phi chính phủ Pháp trong năm 2010 về xây
dựng công trình: Hệ thống xử lý nước thải Bệnh viện lao và bệnh phổi Hải Dương
mà Tổ chức phi chính thủ Pháp đã tài trợ vốn.
* Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Thiết kế công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, khảo sát địa chất các
loại công trình xây dựng.
- Lập dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng
kỹ thuật và giao thông, lập hồ sơ mời thầu.
- Giám sát thi công xây dựng công trình cấp thoát nước.
- Thẩm tra báo cáo kinh tế kỹ thuật, bản vẽ và dự toán các công trình dân
dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật và đường nội bộ.
- Thi công xây lắp các công trình thuỷ lợi, giao thông, nông nghiệp, thi công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status