Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
0 ĐỖ THỊ THANH VÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH
SẢN CỦA ONG ĐỰC VÀ ONG THỢ APIS CERANA
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
TÁC GIẢ Đỗ Thị Thanh Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ vii
DANH MỤC CÁC ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Sơ lƣợc lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.1.1. Sơ lƣợc lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới 4
1.1.2. Sơ lƣợc lịch sử và tình hình nuôi ong ở Việt Nam 8
1.2. Một số nghiên cứu về hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật trong và ngoài nƣớc 10
1.2.1. Nghiên cứu về hình thái ong mật trên thế giới 10
2.2. Nội dung nghiên cứu 43
2.3. Các chỉ tiêu theo dõi và phƣơng pháp theo dõi các chỉ tiêu 44
2.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu 47
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1. Ảnh hƣởng của lƣợng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự hình
thành ong đực 48
3.1.1. Ảnh hƣởng của lƣợng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự
hình thành ong đực vụ Xuân - Hè 48
3.1.2. Ảnh hƣởng của lƣợng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến sự
hình thành ong đực vụ Thu - Đông 49
3.2. Ảnh hƣởng của mùa vụ đến sự hình thành ong đực 52
3.3. Kích thƣớc và thể tích lỗ tổ ong đực 55
3.4. Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong đực 56
3.5. Tỷ lệ nuôi ấu trùng thành công của ong đực 58
3.6. Khối lƣợng ong đực khi mới nở và trƣởng thành 60
3.7. Số lƣợng tinh trùng của ong đực 62
3.8. Tuổi thọ của ong đực 63
3.9. Kích thƣớc và thể tích lỗ tổ ong thợ 65
3.10. Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong thợ 67
3.11. Khối lƣợng ong thợ 69
3.12. Thời gian ong thợ đẻ trứng 70
3.13. So sánh một số đặc điểm giữa trứng của ong thợ và trứng của ong chúa 72
3.14. Tuổi thọ của ong thợ 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1. Kết luận 76
2. Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
I. Tài liệu tiếng Việt 79
II. Tài liệu tiếng Anh 81
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Tóm tắt các giai đoạn phát dục của ong A.cerana 27
Bảng 1.2: Sự phân công lao động theo lứa tuổi ong thợ 29
Bảng 3.1a: Ảnh hƣởng của lƣợng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến
sự hình thành ong đực vụ Xuân - Hè 48
Bảng 3.1b: Ảnh hƣởng của lƣợng mật, phấn dự trữ và quy mô đàn đến
sự hình thành ong đực vụ Thu - Đông 50
Bảng 3.2: Ảnh hƣởng của mùa vụ đến sự hình thành ong đực 52
Bảng 3.3: Kích thƣớc và thể tích lỗ tổ ong đực 55
Bảng 3.4: Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong đực 57
Bảng 3.5: Tỷ lệ nuôi ấu trùng thành công của ong đực 59
Bảng 3.6: Khối lƣợng ong đực khi mới nở và trƣởng thành 60
Bảng 3.7: Số lƣợng tinh trùng của ong đực 62
Bảng 3.8: Tuổi thọ của ong đực 64
Bảng 3.9: Kích thƣớc và thể tích lỗ tổ ong thợ 65
Bảng 3.10: Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong thợ 67
Bảng 3.11: Khối lƣợng ong thợ khi mới nở và trƣởng thành 69
Bảng 3.12: Thời gian ong thợ đẻ trứng sau khi tách ong chúa 71
Bảng 3.13: So sánh một số đặc điểm trứng ong thợ và trứng ong chúa 72
Bảng 3.14: Tuổi thọ của ong thợ 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên viii
DANH MỤC CÁC ẢNH
Trang
Hình 1.1: Hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật 13
Hình 1.2: Các cấp ong trong đàn 16
Hình 1.3: Di trùng ong 19
Hình 1.4: Ong thợ Apis cerana 25
Hình 1.5: Sự phát triển của các cấp ong 28
Hình 2.1: Cấu tạo buồng đếm Newbauer qua kính hiển vi 46
Hình 3.1: Đàn ong thí nghiệm 51
Hình 3.2: Tiến hành đo kích thƣớc và thể tích lỗ tổ ong 56
Hình 3.3: Theo dõi, kiểm tra đàn ong thí nghiệm 60
Hình 3.4: Cân khối lƣợng ong thí nghiệm 62
Hình 3.5: Phân biệt vít nắp của ong thợ và ong đực 69
Hình 3.6: Phân biệt trứng ong thợ và trứng ong chúa 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
lần) so với giá trị kinh tế từ các sản phẩm mà chúng mang lại (Sivaram V.,
2004) [31].
Ở nƣớc ta, 6 tỉnh Việt Bắc đƣợc coi là cái nôi để phát triển nghề nuôi
ong nội, trong đó Thái Nguyên - Thủ đô gió ngàn Việt Bắc với nghề nuôi ong
đã đƣợc chú trọng từ lâu. Từ năm 1996 đến nay nhờ các chƣơng trình, dự án
phát triển nuôi ong mật, góp phần xoá đói giảm nghèo, các tổ chức trong và
ngoài nƣớc: CIDSE (Đức) và CECI (Canada) hay chƣơng trình nâng cao chất
lƣợng đàn ong mật của Cục Khuyến nông - Khuyến lâm, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi ong ở Thái Nguyên.
Hiệu quả của chƣơng trình này đã đem lại cho Thái Nguyên hơn 1000 đàn
ong đƣợc nuôi tại các hộ với năng suất 12 - 15kg/thùng (Phùng Đức Hoàn,
2003) [10].
Loài ong nội Apis cerana có đặc tính dễ thích nghi, cần cù chăm chỉ,
không đòi hỏi nguồn hoa tập trung nhƣng năng suất thấp, tính tụ đàn không
cao, dễ bốc bay, tốc độ tăng đàn chậm,…
Con ong là đề tài nghiên cứu của rất nhiều ngƣời, trong đó đặc điểm
sinh vật học của ong nội Apis cerana từ lâu đã thu hút đƣợc sự chú ý của
nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Trong quá trình
nghiên cứu nhiều vấn đề lý thú về mặt sinh học của loài ong này đã dần dần
đƣợc hé mở làm căn cứ cho việc từng bƣớc hoàn thiện quy trình kỹ thuật chăn
nuôi góp phần nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế của nghề
nuôi ong. Tuy đã đƣợc nghiên cứu song còn rất nhiều vấn đề, đặc biệt là các
tập tính sinh học của từng cấp ong trong đàn ong vẫn còn là những câu hỏi
còn bỏ ngỏ đối với không chỉ ngƣời nuôi ong mà cả với các nhà khoa học của
Việt Nam và thế giới. Ong mật có đặc tính sống thành xã hội, đàn ong là một
đơn vị sinh học hoàn chỉnh bao gồm 3 loại hình ong là ong chúa, ong đực và
ong thợ. Để duy trì nòi giống, ngoài vai trò của ong chúa phải kể đến sự tham
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lƣợc lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới
Theo Eva Crane (1990) [8] từ xa xƣa con ngƣời đã biết săn ong lấy mật
để thu đƣợc các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của họ và tập quán
săn bắt ong rừng vẫn còn duy trì tới ngày nay, việc khai thác mật ong đƣợc
tiến hành dƣới nhiều hình thức khác nhau. Những tổ ong mà ngƣời ta thƣờng
săn lấy mật là thuộc giống ong Apis, mật ong đƣợc coi là một sản phẩm quý
hiếm của tự nhiên ban tặng cho con ngƣời. Từ việc quan sát và khai thác mật
ong tự nhiên, dần dần con ngƣời đã biết sử dụng đõ để nuôi ong, việc sử dụng
đõ bắt đầu ít nhất từ 4.500 năm nay.
Hiểu biết về lịch sử săn ong và nuôi ong của chúng ta đã tăng lên rất
nhiều trong mấy thập kỷ qua nhờ kết quả của các công trình nghiên cứu khảo
cổ, ngôn ngữ, qua những văn bản lƣu trữ và nhờ giao thông thuận lợi cho
phép ngƣời ta đi đến khắp nơi trên trái đất. Ở miền Đông Tây Ban Nha ngƣời
ta đã phát hiện một bức vẽ trên vách đá từ thời kỳ đồ đá trƣớc công nguyên
khoảng 6.000 năm. Ngƣời Ai Cập đã có nghề nuôi ong Apis mellifera từ
5.000 năm trƣớc công nguyên. Vào khoảng năm 2.500 năm trƣớc công
nguyên, ở Ai Cập cổ đại đã thực sự hình thành một nghề nuôi ong thịnh
vƣợng. Những tƣ liệu sớm nhất ghi chép về nuôi ong trong đõ đƣợc ra đời
khoảng 1.500 năm trƣớc công nguyên: đó là một phần của bộ luật Hittile ghi
trên những phiến đá sét, tìm thấy ở cao nguyên Anatoli không cây cối, cách
Ai Cập 100 km về phía Bắc. Ong Apis mellifera đƣợc nuôi trong các đõ bằng
bằng khoảng cách ở bánh tổ tự nhiên. Các tác giả đã nghiên cứu và nhận thấy
tầm quan trọng của khoảng không gian đều giữa các cầu ong và dựa trên
những hiểu biết đó, đã thiết kế ra những thùng ong mới (Eva Crane, 1990) [8].
Năm 1649, William Me ở Anh đã làm thùng ong bằng gỗ nhiều tầng
chồng lên nhau nhƣng không có xà hay khung cầu. Năm 1675 Gedde cũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
sáng tạo ra kiểu thùng tƣơng tự nhƣng mỗi tầng có khung cầu để ong gắn
bánh tổ. F. Huber (1792) tạo ra kiểu đõ dạng “quyển sách”. F.I. Prokopovich
(1806), J. Dziezion (1848) tạo ra các kiểu đõ có khung cầu cố định gắn vào
thành thùng (Eva Crane, 1990) [8].
Kiểu thùng Stewarton do Robin Ker ở Scotland sáng tạo năm 1819 có xà
cầu cố định. Đến năm 1844, Augustus Munn ở Anh đã làm một kiểu thùng tầng
có khung cầu. Năm 1851, giáo sĩ L. L. Langstroth (Philadelphia, Mỹ) (trích
Nguyễn Ngọc Vững, 2006) [26] đã sáng tạo ra kiểu thùng có khung cầu di động
nhờ phát hiện ra khoảng cách con ong. Với kiểu thùng này rất thuận tiện cho
việc nuôi ong, nhờ áp dụng nó mà nghề nuôi ong A. mellifera đƣợc phát triển
rất nhanh ở châu Âu và Bắc Mỹ, sau đó phát triển tới các châu khác trên thế
giới (Eva Crane, 1990) [8]. Kiểu thùng này cho phép ngƣời nuôi ong kiểm tra
tình hình đàn ong, từ đó tác động những biện pháp kỹ thuật một cách dễ dàng,
cho phép trao đổi giữa các đàn ong với nhau và giữa ngƣời nuôi ong khác.
Ngày nay, kiểu thùng này vẫn đang đƣợc áp dụng phổ biến ở khắp nơi và đƣợc
cải tiến tuỳ theo yêu cầu của ngƣời sử dụng.
Năm 1863, Dadant đã xuất bản sách về những cải tiến và sáng kiến của
ông, nhờ đó nhiều sáng kiến khác đƣợc nảy sinh ra từ nƣớc Mỹ, trong đó quan
trọng nhất là sáng kiến làm những tấm sáp in hình lỗ tổ ong hay còn gọi là
tầng chân, theo đó là các khung cầu đƣợc căng dây thép có gắn tầng chân, có
từ châu Âu chúng đƣợc du nhập vào nhiều châu lục khác (trích Nguyễn Thị
Thắm, 2010) [19].
Eva Crane (1990) [8] đã mô tả quá trình nhập ong A. mellifera châu Âu
vào vùng nhiệt đới châu Á nhƣ sau: Ở Trung Quốc ong A. mellifera đƣợc
nhập lần đầu vào năm 1913. Bảy mƣơi năm nay ong Ý đã thích nghi và đƣợc
sử dụng chính để sản xuất mật hàng hoá ở khu vực Á nhiệt đới. Việc nhập
ong A. mellifera là một cuộc cách mạng trong nghề nuôi ong ở Trung Quốc,
làm cho Trung Quốc trở thành nƣớc có nghề nuôi ong đứng thứ hai và là nƣớc
xuất khẩu nhiều mật nhất thế giới với hơn 5 triệu đàn ong A. mellifera, hàng
năm xuất khẩu 160 ngàn tấn mật. Thái Lan đã nhập ong A. mellifera nuôi tại
Chiềng Mai, nơi đây có cây nhãn là cây nguồn mật chính và cho sản lƣợng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
cao. Tại Miến Điện, vùng trồng cây Guizotia absyssinica, cây hƣớng dƣơng,
ong A. mellifera đã đƣợc nhập với số lƣợng lớn để phù hợp với nguồn mật và
phấn từ hai loại cây trồng này (trích Nguyễn Thị Thắm, 2010) [19].
1.1.2. Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghề nuôi ong đã đƣợc khai thác và nuôi từ lâu đời. Ngay
từ thế kỷ thứ VIII, thƣợng thƣ phụ trách về nông nghiệp Phạm Lê đã viết tài
liệu bằng chữ Hán về kỹ thuật nuôi ong (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện,
1999) [3]. Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII đã có một số nhận xét về đặc điểm sinh
học của đàn ong. Trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm và cải tiến kỹ thuật,
nghề nuôi ong Việt Nam đã dần dần đƣợc cải tiến từ đơn giản đến hoàn thiện
nhƣ ngày nay (Lê Quý Đôn, 1973) [7].
Ngƣời Việt Nam đã có thói quen đi lấy mật, săn ong từ rất lâu dựa vào
kinh nghiệm qua nhiều đời đƣợc truyền lại, họ khai thác từ những loại ong
mật khác nhau nhƣ: ong ruồi A. florea, ong nội A. cerana, ong khoái A.
Từ sau năm 1985, các đơn vị nuôi ong đã áp dụng các phƣơng pháp chọn
lọc, những biện pháp phòng trị ký sinh có hiệu quả nên cho đến nay ong Ý đã
đƣợc nuôi quanh năm ở nhiều tỉnh của miền Bắc và cho hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay Việt Nam đã hình thành những vùng nuôi ong rõ rệt. Miền
Bắc có nghề nuôi ong nội A. cerana phát triển, thích hợp với điều kiện nguồn
hoa phân tán, miền Nam phù hợp với nuôi ong Ý A. mellifera với quy mô lớn
do có điều kiện thuận lợi là cây nguồn mật tập trung (trích Nguyễn Ngọc
Vững, 2006) [26], hàng năm nƣớc ta đã cung cấp sản lƣợng mật lớn cho ngƣời
tiêu dùng: Năm 2002, sản lƣợng mật đạt 14.000 tấn, xuất khẩu mật ong đạt
12.000 tấn. Theo Cục chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp &PTNT) năm 2009 cả
nƣớc sản xuất đƣợc khoảng 18,6 nghìn tấn mật ong, xuất khẩu đƣợc hơn 14
nghìn tấn, thu về khoảng 23 triệu USD. Hiện nay nƣớc ta xuất khẩu 80 - 85%
tổng sản lƣợng mật ong, và 80% số này là vào thị trƣờng Mỹ. Năm 2008 là
năm thành công nhất của nƣớc ta từ trƣớc đến nay trong việc xuất khẩu mật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
ong vào thị trƣờng Mỹ. Theo Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) năm 2008 nƣớc
này nhập khẩu 19.387 tấn mật ong của Việt Nam, tăng 23% so với năm 2007.
Thị phần mật ong của Việt Nam tiêu thụ tại Mỹ chiếm khoảng 17% nhập
khẩu mật ong của Mỹ, trở thành nƣớc xuất khẩu mật ong lớn nhất vào Mỹ
(Chu Khôi, 2010) [11].
1.2. Một số nghiên cứu về hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật trong và
ngoài nƣớc
1.2.1. Nghiên cứu về hình thái ong mật trên thế giới
1.2.1.1. Lịch sử hệ thống học và phân loại ong mật
Ong mật có ở khắp mọi nơi do giá trị kinh tế và tầm quan trọng của
chúng trong văn hoá của con ngƣời. Chúng xuất hiện ở hầu hết những vùng
sinh thái khác nhau của một loài ong mật.
Dựa trên đặc điểm hình thái và phân bố địa lý loài ong nội đƣợc chia
thành 4 phân loài: A. cerana indica Fabricius 1798, A. cerana cerana Fabricius
1793, A. cerana himalaya Maa 1944 và A. cerana japonic Radoszkowski 1877
(Ruttner F., 1988) [30]. Còn Heburn H.R.et al (2001) chia ong nội thành 33
phân loài khác nhau. Trong đó có 9 phân loài có tên và 24 phân loài chƣa đƣợc
đặt tên: A. cerana cerana Fabricius 1793, A. cerana indica Fabricius 1798, A.
cerana japonica Radoszkowski 1877, A. cerana javana Enderlein 1906, A.
cerana himalaya Maa 1944, A. cerana skorikovi Maa 1944, A. cerana abaensis
Yun and Kuang 1982, A. cerana hainanensis Yun and Kuang 1982 và A.
cerana philipina Skorikovi 1929. Radloff S.E. và cs, (2005), thu thập 58 đàn
ong mật A. cerana vùng phía tây dãy Himalaya với 27 chỉ tiêu hình thái đƣợc
xử lí thống kê bằng phƣơng pháp phân tích đa biến đã xác định đƣợc khu vực
này có 2 nhóm là: Hindu Kush - Kashmir và Himachal Pradesh (trích Phạm
Hồng Thái, 2008) [18].
Tóm lại: Ong nội Apis cerana Fabricius 1793 là một trong 9 loài ong mật
có ngòi đốt của thế giới (Sheppard W.S and Smith D.R., 2000) và đến nay xác
định đƣợc có tới 33 phân loài trong đó có 9 phân loài đã đƣợc đặt tên (Hepburn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
H.L. và cs, 2001; Kuang B.Y. và Ken T., 1996; Peng Y.S. và cs, 1989) (trích
Phạm Hồng Thái, 2008) [18].
1.2.1.3. Phân bố và vị trí phân loại của ong Apis cerana
Apis cerana là ong bản địa ở nhiều vùng rộng lớn của Châu Á, trải dài
từ Iran ở phía Tây đến Nhật Bản ở phía Đông, từ vùng Viễn Đông trên bờ
Thái Bình Dƣơng của Nga chiếm phần lớn ở phía Bắc đến miền cực nam của
lục địa ở phía Nam (Eva Crane, 1990) [8].
Chân trƣớc
Gai trƣớc
Đùi trƣớc
Cẳng chân
Cổ chân
Mắt kép
Miệng
Râu 1.2.3. Đặc điểm hình thái, cấu tạo cơ thể ong Apis cerana
Hình 1.1: Hình thái, cấu tạo cơ thể ong mật
1.2.3.1. Hình thái cơ thể
Theo các tác giả Nguyễn Văn Niệm (1991) [13]; Lê Đình Thái, Nguyễn
Văn Niệm (1980) [17] thì cơ thể ong mật gồm 3 phần nối với nhau bởi các
khớp động là phần đầu, ngực, bụng. Cơ thể ong đƣợc bao bọc bằng lớp vỏ
kitin, chính lớp vỏ kitin là bộ xƣơng ngoài, là chỗ dựa cho các cơ quan bên
trong và bảo vệ cơ thể ong tránh những tác động bất lợi từ bên ngoài.
* Phần đầu ong:
Đầu ong có cấu tạo hình hộp, trên đầu có hai mắt kép, số mắt kép ở ong
đực là 6.000 mắt nhỏ ghép lại còn ở ong chúa và ở ong thợ chỉ có 4.000. Đỉnh
đầu có 3 mắt đơn phân bố theo dạng hình tam giác.
Ở phần trƣớc đầu ong có một đôi râu, râu ong chia làm nhiều đốt: râu
ong đực chia làm 13 đốt, ong chúa và ong thợ là 11 đốt. Râu là cơ quan cảm
giác rất nhạy bén.
Miệng và vòi ong có đặc điểm (với chức năng cắn, nghiền, hút) khác
với nhiều loại côn trùng khác, ong dùng hàm trên để cắn các vật cứng khi mở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
thu nhận và vận chuyển về tổ, đồng thời thích hợp với việc dự trữ dinh dƣỡng
khi qua đông ở xứ lạnh.
* Cơ quan hô hấp: Cơ quan hô hấp của ong gồm những lỗ thở, hệ thống
khí quản phân nhiều nhánh, các túi khí và hệ thống mao quản trao đổi khí với
các tế bào, các mô trong cơ thể. Các lỗ thở nằm hai bên cơ thể có 3 đôi lỗ thở
ở phần ngực, 6 đôi lỗ thở ở phần bụng.
* Cơ quan tuần hoàn: Hệ thống tuần hoàn của ong là một hệ thống hở,
tim ong gồm 5 ngăn, hai bên sƣờn của mỗi ngăn tim có các cửa để cho máu từ
ngoài vào.
* Cơ quan thần kinh: Cơ quan thần kinh của ong phát triển rất cao, bảo
đảm mối liên hệ thƣờng xuyên của đàn ong với môi trƣờng xung quanh, đồng
thời điều khiển mọi hoạt động thống nhất trong cơ thể con ong. Cơ quan thần
kinh chia làm 3 phần: thần kinh trung ƣơng, thần kinh ngoại biên, thần kinh
thực vật.
* Cơ quan sinh dục: Ong mật cũng nhƣ các côn trùng khác đều thuộc
nhóm động vật phân tính, nghĩa là cơ quan sinh dục đực và cái ở trong các cá
thể khác nhau, cơ quan sinh dục của ong chúa gồm 2 buồng trứng hình quả lê,
mỗi buồng trứng có rất nhiều ống trứng nằm song song với nhau. Cơ quan
sinh dục của ong thợ về cấu tạo giống của ong chúa nhƣng không đƣợc phát
triển hoàn chỉnh, hai buồng trứng của ong thợ dạng vải và kém phát triển. Cơ
quan sinh dục của ong đực gồm 2 dịch hoàn, ống dẫn tinh, tuyến phụ và bộ
phận giao phối.
1.3. Một số đặc điểm sinh vật học của ong nội Apis cerana
Tổ ong đƣợc cấu tạo bởi nhiều bánh tổ xếp song song với nhau theo
hƣớng đi vào của cửa tổ và vuông góc với mặt đất. Giữa các bánh tổ có một
khoảng trống thích hợp để làm lối đi lại của ong. Bánh tổ ong có nhiều lỗ tổ