Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HƢƠNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hƣơng
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Hƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng
nghiên cứu 2
4. Giả thuyết khoa học 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 3
2.1. Khái quát về kinh tế xã hội, môi trường và tình hình Giáo dục THCS
thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 32
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và môi trường ở thành phố
Uông Bí 32
2.1.2. Tình hình giáo dục THCS của thành phố Uông Bí 33
2.2. Tổ chức khảo sát 38
2.2.1. Mục đích khảo sát 38
2.2.2. Đối tượng khảo sát 38
2.2.3. Nội dung khảo sát 38
2.2.4. Phương pháp khảo sát 38
2.3. Thực trạng GDMT ở trường THCS thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh . 39
2.3.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên, học sinh về môi trường và
giáo dục môi trường cho học sinh ở trường THCS 39
2.3.2. Nhận thức của học sinh về vấn đề môi trường và BVMT 42
2.3.2. Thực trạng nội dung giáo dục môi trường đã triển khai ở trường
THCS thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 47
2.3.3. Thực trạng phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục môi trường
đã tiến hành ở trường THCS thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 49
2.3.4. Thực trạng tổ chức các hoạt động ngoại khóa với chủ đề GDMT
cho học sinh THCS thành phố Uông Bí 52
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
2.3.5. Thực trạng phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong
công tác GDMT cho học sinh 55
2.4. Thực trạng về quản lý GDMT thông qua hoạt động dạy học ở trường
THCS thành phố Uông Bí 56
2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch GDMT thông qua hoạt động dạy
học ở trường THCS thành phố Uông Bí 57
tầm quan trọng của giáo dục môi trường 67
3.2.2. Biện pháp 2. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục môi
trường cho đội ngũ giáo viên 69
3.2.3. Biện pháp 3. Chỉ đạo tổ chuyên môn, hướng dẫn giáo viên tổ
chức hoạt động ngoại khóa môn học về giáo dục môi trường cho
học sinh 76
3.2.4. Biện pháp 4. Quản lý khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị
dạy học phục vụ cho hoạt động GDMT 77
3.2.5. Biện pháp 5. Tăng cường sự phối hợp các lực lượng trong và
ngoài trường để giáo dục môi trường thông qua hoạt động dạy học 81
3.2.6. Biện pháp 6. Tăng cường kiểm tra đánh giá giáo dục môi trường
thông qua hoạt động dạy học 82
3.2.7. Biện pháp 7. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong quản lý GDMT thông qua hoạt động dạy học 84
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 85
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
3.4.1. Mục đích khảo nghiệm 86
3.4.2 . Phạm vi và nội dung khảo nghiệm 86
3.4.3. Phương pháp khảo nghiệm 86
3.4.4. Kết quả khảo nghiệm 86
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1. Kết luận 91
2. Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Quy mô mạng lưới trường, lớp, HS cấp THCS 33
Bảng 2.2. Kết quả giáo dục đạo đức 5 năm qua 34
Bảng 2.3. Kết quả chất lượng giáo dục các môn văn hóa 5 năm qua 35
Bảng 2.4. Đội ngũ CBQL trường THCS 5 năm qua 36
Bảng 2.5. Đội ngũ GV trường THCS 5 năm qua 37
Bảng 2.6. Nhận thức của GV về tầm quan trọng của công tác GDMT cho
học sinh THCS 39
Bảng 2.7. Nhận thức của giáo viên về mục tiêu GDMT cho học sinh 40
Bảng 2.8. Nhận thức của học sinh về các vấn đề môi trường và BVMT 43
Bảng 2.9. Thái độ của học sinh đối với những hành động có tác động đến
môi trường 46
Bảng 2.10. Thực trạng xác định các nội dung GDMT cho học sinh của giáo viên. 48
Bảng 2.11. Nhận thức của giáo viên về các hình thức GDMT cho học sinh
THCS 50
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự
tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật đã đem lại rất nhiều lợi ích to lớn cho con
người. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại thì ô nhiễm môi
trường sống ngày càng gia tăng, các cơn bão, lũ, hạn hán, lốc xoáy, sóng thần,
động đất, ngày càng nhiều. Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp đều do tác động
của con người. Vì vậy việc giáo dục bảo vệ môi trường cũng như trang bị kiến
thức về bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ là điều cấp thiết.
Ở nước ta, giáo dục môi trường mới được quan tâm đến trong những
năm gần đây. Vấn đề tích hợp GDMT đã được thực hiện trong hoạt động dạy
và học, hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp song vẫn còn mới mẻ
và cũng chưa được tổ chức một cách có hệ thống đúng với tầm quan trọng của
nó. Mặt khác, theo Đề án đổi mới căn bản toàn diện giáo dục thì sau năm 2015
chương trình giáo dục phổ thông sẽ dạy theo phương án tích hợp và phân hóa,
lồng ghép các vấn đề như môi trường, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số,
Quá trình quản lý giáo dục môi trường thông qua hoạt động dạy học ở
trường THCS thành phố Uông Bí.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động GDMT thông qua hoạt động dạy học ở
trường THCS thành phố Uông Bí.
4. Giả thuyết khoa học
Hiệu quả của giáo dục môi trường thông qua hoạt động dạy học ở trường
THCS phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố quản lý. Quản lý GDMT
thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS thành phố Uông Bí sẽ được nâng
cao nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp và thực hiện đồng bộ các biện
pháp quản lý GDMT đã đề xuất.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận của quản lý GDMT thông qua hoạt động dạy
học ở trường THCS.
5.2. Khảo sát làm rõ thực trạng quản lý GDMT thông qua hoạt động dạy
học ở trường THCS thành phố Uông Bí.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý GDMT thông qua hoạt động dạy học
ở trường THCS thành phố Uông Bí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
6.1. Địa bàn và khách thể điều tra
Đề tài nghiên cứu ở 7 trường THCS thành phố Uông Bí từ năm học
2010 - 2011 đến năm học 2013 - 2014. Khảo sát trên 60 cán bộ quản lý,
giáo viên, 140 học sinh.
6.2. Nội dung nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lí của Hiệu trưởng đối với hoạt
động GDMT thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS thành phố Uông Bí.
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1. 1. Vấn đề môi trường và giáo dục môi trường
Trên thế giới, việc giáo dục môi trường (GDMT) được tiến hành từ
những năm đầu của thập niên 70, và từ đó đến nay, dưới sự hướng dẫn và theo
dõi của các tổ chức môi trường (MT) của Liên Hiệp Quốc nó đã phát triển
mạnh mẽ và sâu rộng.
Do nhận thức rõ tình trạng MT bị biến đổi ngày càng xấu đi, Liên Hiệp
Quốc đã tổ chức hội nghị Quốc tế về “Con người và MT”tại Stôckhôm (Thụy
Điển) vào ngày 5 tháng 6 năm 1972. Tại hội nghị này, các thành viên đã nhất
trí nhận định: Việc bảo vệ thiên nhiên và MT là một trong hai nhiệm vụ hàng
đầu của toàn nhân loại (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hòa bình chống chiến tranh).
Từ đó, ngày 5 tháng 6 hàng năm trở thành "Ngày MT thế giới". Hội nghị cũng
đã tuyên bố GDMT là phương pháp quan trọng để hình thành nhận thức và
hành vi có trách nhiệm cho cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ và cải thiện
MT, là một yếu tố quyết định trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng MT trên
toàn thế giới.
Sau hội nghị Stôckhôm năm 1973, GDMT đã được đưa vào các trường
học. Có khoảng hơn 1000 chương trình MT và BVMT được giảng dạy trong
750 trường thuộc 70 nước khác nhau. Tuy nhiên, về mục đích, nội dung và
phương pháp GDMT phải đợi đến nhiều hội nghị quốc tế sau đó mới được giải
quyết và hoàn thiện dần.
Tiếp theo, tháng 8 năm 1987, UNESCO và UNEP phối hợp tổ chức hội
nghị quốc tế về GDMT tại Maxtcơva (Nga), với sự tham gia của đại diện hơn
100 nước và nhiều tổ chức quốc tế khác nhau. Hội nghị đã xây dựng chiến lược
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
quốc tế về chương trình hành động GDMT cho thập kỷ 90 gồm 9 mục tiêu về
6
và bảo vệ môi trường (BVMT) sống. Trong 5 năm 1985-1990 đã trồng được 94
triệu cây, gây trồng 8.600 ha rừng, tạo ra sản phẩm hàng trăm tỉ đồng. Theo
thống kê của Bộ Lâm Nghiệp, ở nước ta từ năm 1986 đến 1992, tổng diện tích
rừng bạch đàn đã trồng được là 320.000 ha, từ năm 1988 đến 1992 đã trồng
được 65.000 ha keo [18].
Từ năm học 1986 đến 1992 các sách giáo khoa Tiểu học, trung học cơ sở
và trung học phổ thông với một số nội dung được cải tiến, trong đó vấn đề
GDMT đã được quan tâm nhiều hơn. Đặc biệt, bắt đầu từ năm học 2002-2003,
việc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa với nhiều bài, nhiều mục,
nhiều nội dung GDMT được đưa vào nội dung các môn học tạo điều kiện rất
thuận lợi cho việc GDMT trong nhà trường phổ thông.
Tuy nhiên, hiện nay nhận thức và hành động tiêu cực của đông đảo quần
chúng, trong đó có rất nhiều học sinh vẫn còn là trở lực lớn cho việc BVMT và
thiên nhiên ở nước ta. Do đó, việc nâng cao nhận thức cho nhân dân và học sinh về
MT và BVMT cần được quan tâm hơn. Kiến thức MT và phát triển bền vững phải
đưa dần từng bước giúp học sinh có ý thức tự giác từ nhỏ cho đến hết đời mình.
Chúng ta nhận thấy, công tác GDMT ở nước ta những năm qua tuy đã thu được
một số kết quả bước đầu nhưng đang còn nhiều tồn tại và thiếu sót. Theo đánh giá
của các tác giả Đinh Quang Báo và Dương Tiến Sỹ: "Tài liệu phục vụ GDMT còn
thiên về cung cấp kiến thức chưa đề cập đến phương pháp, hình thức GDMT, thiếu
phương pháp, biện pháp giáo dục kĩ năng, thái độ, hành vi BVMT, dẫn tới việc khai
thác tri thức MT và BVMT lồng ghép tích hợp trong nội dung môn học còn gặp
nhiều lúng túng và mức độ thực hiện còn hạn chế”. Để khắc phục những thiếu sót
trên và thực hiện mục tiêu GDMT trong quá trình dạy học, cần phải triển khai đồng
bộ các hướng nghiên cứu khoa học lấy GDMT làm định hướng và cơ sở thực hiện .
Bên cạnh đó, cần tập trung nghiên cứu khai thác các nội dung GDMT được lồng
ghép tích hợp trong các môn học, các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao
cho phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh, đảm bảo GDMT sát với yêu
chưa được nhiều nhà khoa học quan tâm. Đặc biệt là chưa có công trình nào
nghiên cứu về quản lý giáo dục môi trường thông qua hoạt động dạy học ở
trường THCS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy rằng:
- Vấn đề GDMT là một trong những nhiệm vụ được đặt ra cho nhà
trường phổ thông hiện nay.
- Các công trình nghiên cứu về GDMT trong nhà trường phổ thông chủ
yếu tập trung nghiên cứu về nội dung và các giải pháp chung. Một số đề cập
đến vấn đề GDMT qua các môn học và vấn đề tích hợp GDMT địa phương
qua các môn học. Vấn đề quản lý giáo dục môi trường thông qua hoạt động
dạy học còn chưa nhiều.
Do vậy, hiện nay, việc nghiên cứu quản lý giáo dục môi trường thông
qua hoạt động dạy học ở trường phổ thông nói chung và trường THCS nói
riêng là điều hết sức cần thiết và rất cần được quan tâm nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan
1.2.1. Môi trường và giáo dục môi trường
1.2.1.1. Môi trường
Khái niệm MT đã được đưa ra tranh luận từ lâu và được hiểu theo nhiều
cách khác nhau, không thống nhất, vì nó phụ thuộc vào quá trình nhận thức và
cách nhìn nhận vấn đề theo các góc độ chuyên môn khác nhau.Ví dụ như:
- Các nhà khoa học nhấn mạnh: MT là điều kiện cần thiết cho sự di
truyền những tính chất đặc biệt của sinh vật và ngược lại đó cũng là nơi và điều
kiện để tạo ra những biến dị mới, những loài mới.
- Các nhà địa lý thì cho rằng MT mà cụ thể là MT địa lí là một bộ phận tự
nhiên của bề mặt trái đất bao quanh xã hội loài người, bị thay đổi bởi xã hội loài
người ở mức độ này hay mức độ khác, ở những thời điểm nhất định có quan hệ
nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người.
Theo Điểm 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì: Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [19].
Như vậy, dưới các góc độ khác nhau thì có cách nhìn nhận về MT khác
nhau. Nếu khái quát hoá lại ta có thể hiểu khái niệm MT như sau: MT là toàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống xã hội do con người tạo ra, chúng có
mối quan hệ mật thiết với nhau, bao xung quanh con người và ảnh hưởng tới
đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
1.2.1.2. Giáo dục môi trường
GDMT là tiền đề của sự phát triển bền vững. Vì GDMT là làm cho
từng người và cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của MT tự nhiên và
nhân tạo, có được tri thức thái độ và kĩ năng thực tế để tham gia có hiệu
quả và có trách nhiệm vào việc tiên đoán và giải quyết các vấn đề MT và
quản lí chất lượng MT.
Hiện nay trên các tài liệu về giáo dục tồn tại rất nhiều định nghĩa về
GDMT. Cách trình bày các định nghĩa nói chung rất đa dạng. Song nếu xét từ
mục tiêu GDMT được nêu trong định nghĩa thì có thể phân chia thành 2 loại
định nghĩa sau đây:
Thứ nhất, GDMT là quá trình hình thành cho người học những hiểu biết,
tri thức về MT và các vấn đề MT liên quan. Đại diện cho kiểu định nghĩa này là
định nghĩa về GDMT được nêu trong luật GDMT của Mỹ được ban hành vào
năm 1970: GDMT là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan hệ giữa
con người với MT tự nhiên và MT xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn
đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật phát triển đô thị và nông
thôn có ảnh hưởng đến MT con người như thế nào.
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học
sinh”[13, tr.48].
Vậy khái niệm chung nhất của quản lý giáo dục là:
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật quản lý nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách thể quản lý
làm cho hệ thống giáo dục được quản lý nhằm thực hiện được các mục tiêu
giáo dục đề ra.
Trong quản lý hiện đại, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnh
vực khác nhau của khoa học xã hội và khoa học hành vi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
1.2.2.2. Quản lý giáo dục môi trường
Từ khái niệm quản lý giáo dục và khái niệm giáo dục môi trường, ta có
thể hiểu quản lý giáo dục môi trường là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục môi trường đến kết quả
mong muốn một cách hiệu quả nhất.
Về bản chất, quản lý giáo dục môi trường là quá trình tác động có
định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình
hoạt động giáo dục môi trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục môi
trường. Như vậy, quản lý giáo dục môi trường là hoạt động điều hành công
tác giáo dục môi trường.
1.3. Những vấn đề lí luận cơ bản về quản lý GDMT thông qua hoạt động
dạy học ở trƣờng
THCS
1.3.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về GDMT ở trường THCS
1.3.1.1. Vai trò, ý nghĩa của GDMT ở trường THCS
và ý thức lao động, làm tăng cường kỹ năng sống… cho thế hệ trẻ. Mặt khác
GDMT là một phần quan trọng của kết quả các mặt GD khác. Và nó thực sự
cần thiết đối với tất cả các lứa tuổi, các bậc học.
Đối với lứa tuổi học sinh THCS, GDMT là một trong những nội dung
giáo dục cực kỳ quan trọng và cần thiết, bởi ở lứa tuổi này con người đang
đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời, toàn bộ nhân cách, năng lực, trí tuệ,
thế giới quan có những bước biến đổi lớn… Tất cả những gì các em tích
luỹ được ở giai đoạn này này sẽ trở thành hành trang để các em bước vào
cuộc sống tự lập một cách vững tin, chắc chắn. Những kiến thức về môi
trường và bảo vệ môi trường mà các em được tiếp nhận ở giai đoạn này
không chỉ có tác dụng thay đổi nhận thức về môi trường mà còn có tác
dụng định hướng hành động cho các em khi tham gia giải quyết các vấn đề
về môi trường nhằm xây dựng môi trường phát triển bền vững. Đối với một
số em, thì những kiến thức về GDMT mà các em tích luỹ được ở giai đoạn
này có thể trở thành động cơ thúc đẩy việc lựa chọn hướng đi nghề nghiệp
trong tương lai của các em.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
Chính vì vậy, GDMT là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong
nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng.
1.3.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục môi trường ở trường THCS
Xuất phát từ mục tiêu chung về GDMT trong hiến chương Belgrade
(1975), các nước sẽ xây dựng mục tiêu riêng cho nước mình, phù hợp với đặc
điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động của từng cấp học, dựa
trên tiêu chuẩn quan trọng nhất là hành động tích cực của cá nhân và tập thể
trong việc cải thiện chất lượng MT. Thông qua chỉ thị 36/CT-TƯ đưa ra ngày
25/6/1998 của bộ chính trị về “tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” ở đó nêu công tác GDMT là giải pháp đầu