skkn một số BIỆN PHÁP GIÚP HS lớp 5a3 TRƯỜNG TIỂU học mỹ PHƯỚC a PHÂN BIỆT từ ĐỒNG NGHĨA từ NHIỀU NGHĨA từ ĐỒNG âm - Pdf 24

TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HS LỚP 5A
3
TRƯỜNG TIỂU HỌC MỸ PHƯỚC
A PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG NGHĨA - TỪ NHIỀU NGHĨA - TỪ ĐỒNG ÂM
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1-Cơ sở lí luận :
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức
của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế dạy Tiếng Việt có
vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và trong đời sống của mỗi con
người. Mục tiêu của chương trình Tiếng việt tiểu học mới ngoài việc cung cấp kiến
thức Tiếng Việt và thái độ, tình yêu Tiếng Việt còn phải giúp học sinh giao tiếp tốt
trong môi trường hoạt động lứa tuổi. Vì thế việc sử dụng từ ngữ đúng, nắm rõ nghĩa
của từ có ý nghĩa quan trong trong giao tiếp, giúp học sinh tự tin tham gia vào hoạt
động giao tiếp qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt.
Muốn làm được điều này học sinh phải có kiến thức vững chắc về Tiếng Việt.
Đó không chỉ là kiến thức về ngữ pháp, về vốn từ mà còn phải nắm vững kiến thức
về nghĩa cuả từ. Trong chương trình Tiếng Việt 5 học sinh được học kiến thức về
nghĩa của từ: các hiện tượng trái nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa và nhiều nghĩa. Trong
các hiện tượng đó thì kiến thức về từ nhiều nghĩa là phức tạp nhất. Là một giáo viên
lớp 5, qua nhieàu năm kinh nghiệm giảng dạy tôi nhận thấy học sinh còn rất nhiều
lúng túng, khó khăn, khi học nội dung kiến thức này dẫn tới các tiết học nặng nề,
không hứng thú, không lôi cuốn được các em. Nguyên nhân nào dẫn tới những khó
khăn đó? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa? Đó là lý
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 1
do tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5A
3
trường tiểu học Mỹ
Phước A phân biệt từ đồng âm – từ đồng nghĩa - từ nhiều nghĩa”.

những kiến thức tài năng sẵn có và những gì đã được học tập, lĩnh hội ở nhà trường
sư phạm rồi dần dần đánh mất. Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh nghiệm
qua nhiều năm dạy-học lớp 5, năm nay tôi có : “Một số kinh nghiệm giúp HS lớp
5A
3
phân bịêt từ nhiều nghĩa- từ đồng nghĩa, từ đồng âm”. Nhằm giúp học sinh tháo
gỡ những lầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm tạo nền tảng
để các em học tốt môn Tiếng Vịêt. Tuy là bước đầu nhưng tôi mạnh dạn nêu lên và
mong được sự ủng hộ quan tâm, đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tôi được hòan
thiện hơn về kinh nghiệm này .
II-MỤC ĐÍCH , ĐỐI TƯỢNG VÀ PHUONG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Mục đích nghiên cứu:
Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích :
- Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa - từ đồng
nghĩa - từ đồng âm. Góp phần làm giàu thêm vốn từ cho HS.
- Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và tác được ý nghĩa từ
vựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ .
- Giúp HS có năng lực sử dụng từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm
trong sinh sản văn bản bằng hình thức nói họăc viết, để từ đó các em sử dụng được
Tiếng Việt văn hóa làm công cụ giao tiếp tư duy.
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 3
2-Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, vấn đề tơi nghiên cứu ở đậy: Một số kinh nghiệm giúp HS
phân bịêt về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm” và chỉ nghiên cứu trên
những học sinh lớp 5A
3
trường tiểu học Mỹ Phước A mà tơi đã chủ nhiệm có những
khó khăn phân biệt từ. Nhằm tìm ra những phương pháp hạn chế tối đa tình trạng
nhằm lẩn các từ nêu trên.
3. Phương pháp nghiên cứu:

Phạm vi tơi nghiên cứu và áp dung sáng kiến này ở lớp 5A
3
trường tiểu học
Mỹ Phước A trong năm học 2012 – 2013.
Mơn: Luyện từ và câu
Phần: Giúp học sinh phân biệt các từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng
âm.
IV. CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU:
Nếu học sinh lớp 5A
3
trang bị tốt kĩ năng phân biệt được nghĩa của từ. Đó cũng
là một tiền đề cho các em học tốt các mơn học còn lại. Bởi vì khơng chỉ có mơn
luyện từ và câu học sinh mới cần nắm được nghĩa của từ mà hầu như tất cả các
mơn. . Thơng qua việc phân biệt nghĩa của các loại từ giúp cho các em hiểu được
vận dụng rất nhiều trong thực tế.
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 5
Nếu các lớp áp dụng đồng bộ các kinh nghiệm mà đề tài đã nêu ra thì kĩ năng
phân biệt của học sinh sẽ đạt được kết cao trong các Luyện từ và câu tới.
V. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
Tháng 9/201: Đăng kí sáng kiến, sưu tầm tài liệu.
Tháng 10/2012: Điều tra thực trạng, thu thập và xử lí các số liệu .
Thaùng 11 / 2012: Lập đề cương.
Thaùng 12/ 2012 – 01/2013: Viết sáng kiến và báo cáo sơ bộ.
Thaùng 2 - 3/ 2013: Chỉnh sửa sáng kiến kinh nghiệm.
Thaùng 04/ 2013: Hoàn thiện đề tài và nộp về trường.
PHẦN II- NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I-THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
Qua những năm tôi được ban giám hiệu phân công giảng dạy trực tiếp lớp 5.
Với môn Luyện từ và câu qua phần “từ nhiều nghĩa – từ đồng nghĩa – từ đồng âm”.
Tôi nhận thấy học sinh của mình còn vướng mắc một số thực trạng sau :

đầu từ các ví dụ cụ thể. Qua đó để thấy được chỗ “hổng” của học sinh để kịp thời
củng cố, khắc sâu.
Xuất phát từ việc nghiên cứu bản chất của từ đồng am - nhiều nghĩa – từ đồng
nghĩa, xuất phát từ những khó khăn mà học sinh còn gặp phải khi học các tiết học về
từ đồng am - nhiều nghĩa – từ đồng nghĩa và nguyên nhân của những khó khăn đó,
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 7
để nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều nghĩa trong chương trình Tiếng Việt
lớp 5, qua nghiên cứu và thử nghiệm tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:
1. Từ đồng nghĩa :
Định nghĩa : *Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm nhưng giống
nhau về mặt ý nghĩa, chúng cùng biểu thị các sắc thái khác nhau của cùng một khái
niệm.( Tài liệu của Trường đại học Vinh )
Ví dụ: Cùng nói đến khái niệm ăn có xơi, nhậu nhẹt
*Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau .
Ví dụ: siêng năng , chăm chỉ,cần cù,
*Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn , có thế thay thế cho nhau trong lời nói. Ví
dụ : hổ, cọp, hùm,
*Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn .Khi dùng những từ này ,ta phải
cân nhắc để lựa chọn cho đúng .Ví dụ :
+ăn, xơi, chén, (biểu thị thái độ, tình cảm khác nhau đối với người đối thoại
hoặc điều được nói đến).
+mang, khiêng, vác, ( biểu thị những cách thức hành động khác nhau )
(Sách Tiếng Việt 5 tập 1)
2. Từ nhiều nghĩa :
Định nghĩa :*Là từ dùng một hình thức âm thanh biểu thị nhiều ý nghĩa (biểu
thị nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau ), các ý nghĩa có quan hệ với nhau, chúng lập
thành một trật tự,một cơ cấu nghĩa nhất định .
Ví dụ : đầu : (1)bộ phận trên hết của người, bộ phận trước hết của người của
vật
(2)trí tuệ thông minh : anh ấy là người có cái đầu.

* Bản chất của từ đồng nghĩa: Thực tế học sinh thường nhầm lẫn giữa từ
đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm. Không nắm được nghĩa của chúng bởi vì
định nghĩa về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chưa chính xác dẫn đến sự
khó khăn cho HS trong vịêc nhận diện. Phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ
đồng âm chỉ dựa vào định nghĩa là chưa đủ. Đứng trước thực tế đó nên tôi đã mở
rộng thêm cho HS một số kiến thức sau:
- Từ đồng nghĩa: Bản chất của từ đồng nghĩa ( tính ở mức độ của từ đồng
nghĩa )
Khả năng họat động tác động đến sự di chuyển của các sự vật có các từ: ném,
lao, phóng, quăng, vứt, xán xô, đẩy liệng, tống đạp, đá, nhấn, dìm, kéo, dật, rút,
gieo, rắc, vãi, trút, xoay, quay, gồng,, gánh
Căn cứ vào chiều di chuyển để chia ra các nhóm đồng nghĩa .
- Di chuyển ra xa chủ thể: ném, phóng, lao
- Di chuyển gần lại : lôi, kéo, co, giật, rút
- Di chuyển quay xung quanh chủ thể: gánh,xoay, quay
- Di chuyển cùng chủ thể : Gồng, gánh, bưng, đội, cõng
Các từ trong từng nhóm có mức độ đồng nghĩa cao hơn so với các từ trong các
nhóm khác .
a) Bản chất của từ đồng nghĩa là những từ đồng nhất với nhau về nghĩa nhưng
có tính mức độ.Tính mức độ này là do các từ ngoài sự đồng nhất thì có sự khác biệt
nhất định về sắc thái nghĩa .
Ví dụ : Về trạng thái chấm dứt sự sống: chết, hi sinh, tử, mất
Về hiện tượng hấp thụ thức ăn: Tống, hốc, tọng, ăn
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 10
Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác, đó là chỉ ra sự giống nhau và khác
nhau. Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái.
Ví dụ 1: Quả, trái
Giống nhau: Sản phẩm của cây trong một thời kì sinh trưởng nhất định (quả
mít/ trái mít)
Khác nhau: Quả gợi tính hình khối, tròn, treo lủng lẳng, trái toát ra sắc thái

Ví dụ: Hoài sơn/ củ mài; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong khoa
học, các từ thuần Việt dùng trong đời sống .
d) Hiện tượng đồng nghĩa không tách rời hiện tượng đa nghĩa, đó là nguyên
nhân của tính mức độ. Các từ đồng nghĩa với nhau không phải đồng nghĩa về tòan bộ
dung lượng nghiã của nó mà chỉ đồng nghĩa ở một một nghĩa nào đó mà thôi.
Ví dụ : Trông có ba nghĩa : - Hướng mắt quan sát
- Giữ, chăm sóc
- Nương vào, nhờ vào
Dựa có ba nghĩa : - Theo , căn cứ theo
- Tựa vào, nhờ vào
- Nương vào, nhờ vào
Trông và dựa đồng nghĩa với nhau ở nghĩa thứ ba.
*Một từ nếu là từ đa nghĩa, với các nghĩa gốc khác của nó, nó có thể đồng nghĩa với
nhiều từ khác nhau
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 12
Ví dụ: Ăn - Thắng (Đội tớ ăn rồi, đội cậu thua )
- Hợp (ăn cánh, ăn ảnh, ăn hình )
- Hưởng, nhận ( tàu ăn than
- Hao, tốn ( xe ăn xăng)
*Phân loại từ đồng nghĩa:
Từ đồng nghĩa xẩy ra ở nhiều cấp độ :
- Hình vị với hình vị : xanh- thanh - lam-bích- lục
Đánh- chiến – kích -đấu
- Từ với từ: Thiên- trời ; sơn –núi
- Từ Hán Việt với từ thuần Việt : Huynh đệ-Anh em; phụ nữ - đàn bà
- Từ thuần Vịêt với từ Thuần Việt: ăn-xơi
- Cụm từ với cụm từ :
*- Nguồn gốc của từ đồng nghĩa
a) Đồng nghĩa do cấu tạo từ, đồng nghĩa sẵn có giữa các yếu tố thuần Việt .
Ví dụ: Từ các từ Nhanh, mau, chóng có thể cấu tạo ra hàng lọat từ:

trên những đặc điểm, hình dáng, tính chất giống nhau hay gần nhau giữa các sự vẩt
ấy.Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành động này (nghĩa 1) chuyển sang gọi tên sự
vật, tính chất, hành động khác nghĩa ( nghĩa2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ
đó
Ví dụ: Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển
cao nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 14
(2) Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến
sự phát triển cao nhất .( Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
(3) Sự thay đổi màu sắc nước da. ( ngượng chín cả mặt )
(4) Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm. (cam chín).
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa, trước hết phải, miêu tả
thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa. Nghĩa
của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở :
+ Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có hai dạng sau :
- Dạng: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các
sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về hình dáng.
Ví dụ: Mũi
1
( mũi người) và Mũi
2
( mũi thuyền) :Miệng
1
( miệng xinh) và
miệng
2
( miệng bát)
Dạng 2: Nghĩa của từ phát triểm trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức năng,
của các sự vật, đối tượng .
Ví dụ : cắt

2
: nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa.
Ví dụ: Nhà
1
Là công trình xâu dựng (Anh trai tôi đang làm nhà)
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 15
Nhà
2
là gia đình ( Cả nhà có mặt)
Ví dụ 2: Thúng
1
: Đồ vật dùng để đựng đan bằng tre hoặc nứa( Cái thúng này
đan khéo quá)
Thúng
2
: Chỉ đơn vị ( Hai thúng lúa)
Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển dựa trên nguyên liệu hay công cụ với sản
phẩm được làm ra từ nguyên liệu hay công cụ đó hoặc hành động dùng nguyên liệu
hay công cụ đó .
Ví dụ: Muối
1
: Nguyên liệu ( Một kg muối); muối
2
: hành động làm cho thức ăn
chín hoặc lên men ( Chị ấy muối dưa ngon lắm)
4.3 Từ đồng âm :
a) Văn cảnh ( ngữ cảnh) là tập hợp những từ đi kèm một từ nào đó tạo cho từ
tính xác định về nghĩa .
b) Họat động của từ đồng âm :
- Tạo ra những văn cảnh trong đó có nhiều từ đồng âm xuất hiện:

Từ đồng
nghĩa
Từ nhiều nghĩa Từ đồng âm
Là những từ
có nghĩa
giống nhau
hoặc gần
giống nhau .
Ví dụ : Siêng
Nghĩa của từ được phát triển dựa trên hai cơ
sở :
- Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có
hai dạng sau :
+ D
1
:Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống
nhau về hình thức giữa các sự vật hiện tượng
Cơ sở tạo ra từ đồng
âm là do tính chất
tiết kiệm
-Thường xẩy ra ở
những từ có cấu trúc
đơn giản
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 17
năng, chăm
chỉ, cần cù ,
hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương
quan về hình dáng Ví dụ : Mũi
1
( mũi người),

tay
1
,mặt
1
là những tên gọi chỉ bộ phận được
chuyển sang chỉ cái toàn thể (Anh ấy có
Chân
2
trong đội bóng ; Tay
2
bảo vệ của nhà
máy số ba có mặt
2
trong hội nghị )
+ D
2
: Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ
giữa vật chứa với cái được chứa.Ví
dụ :Nhà
1
là công trình xây dựng (Tôi đang
làm nhà),Nhà
2
là gia đình(Cả nhà ăn cơm )
D
3
:Nghĩa của từ phát triển dựa trên quan hệ
nguyên liệu hay công cụ với sản phẩm làm ra
từ nguyên liệu hay công cụ đó hoặc hành
-Các từ đồng âm

Năm học 2012-2013 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5A
3
có 22 em học sinh
.Tôi lần lượt sử dụng các giải pháp trên bằng cách lựa chọn và phân bố hợp lí theo
từng nội dung của bài, lấy nhiều ví dụ minh họa để học sinh nắm được đặc điểm cơ
bản của các loại từ trên từ đó có thể phân biệt và nhận dạng dễ dàng hơn trong khi
làm bài tập .Tôi đã thu được kết quả sau:
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 19
Thời điểm dạy và học Học kì I Giữa học kì II
Số học sinh phân biệt được từ đồng nghĩa,
từ nhiều nghĩa, từ đồng âm 54,55% 90,90%
Số học sinh đạt điểm khá, giỏi . 31,81% 50%
Qua kết quả khảo sát trên và qua thực tế lớp, tơi nhận thấy trong các giờ Luyện
từ và câu học sinh rất say mê học tập làm cho khơng khí lớp trở nên sơi nổi, kĩ năng
phân biệt từ của học sinh được nâng lên rõ rệt. Có nhiều em đầu năm học chưa biết
nhưng đến gần cuối năm đã tuến bộ rõ ràng,, nhiều em đạt điểm khá tốt.
2. Phạm vi, vi mô áp dụng :
Sau khi được tổ khối 5 và BGH trường thống nhất với các giải pháp mà
tôi đã đưa ra trong đề tài. Vì vậy đề tài của tôi đã được áp dụng cho khối lớp 5 ở
trường tiểu học Mỹ Phước A. Nhằm nâng cao hiệu quả các tiết học về từ nhiều
nghĩa – đồng nghĩa – đồng âm.
PHẦN III. KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CƠNG TÁC DẠY VÀ HỌC :
Qua q trình nghiên cứu và áp dụng các biện pháp đã nghiên cứu vào thực
tiễn cho thấy: kết quả dạy và học có chuyển biến rõ rệt. Bước đầu đã đem lại nhiều
cái hay, cái đúng. Cái hay ở đây là cải thiện được phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học, học sinh thật sự là trung tâm trong q trình dạy học, các em đã có động cơ
thích thú khi học Luyện từ và câu, các em đã tự mình tìm tòi học hỏi, đã có một thái
độ học tập chăm chỉ. Với qúa trình thực hiện như thế các em học sinh đã có tâm lý
sẵn sàng đến lớp học và có hứng thú nhiều trong việc Luyện từ và câu. Ngòai ra, các

- Ngoài ra tôi học thêm ở các bạn đồng nghiệp bằng nhiều hình thức , và tự
học, tự nghiên cứu qua sách vở, báo đài .
- Người giáo viên phải tận tụy với nghề, mến trẻ, tận tâm với nghề.
III. ĐỀ XUẤT
Dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học là một vấn đề rất khó và phức tạp. Việc nắm
vững các kiến thức về từ nhiều nghĩa – đồng nghĩa – đồng âm. góp phần quan trọng
nâng cao kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh để từ đó học sinh có thể giao tiếp
tôt trong môi trường hoạt động lứa tuổi. Thực tế hiện nay chất lượng các tiết học về
từ nhiều nghĩa chưa cao, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong những
tiết học. Giáo viên chưa lôi cuốn thu hút được học sinh vào hoạt động học tập tích
cực. Nguyên nhân của vấn đề này có từ hai phía: giáo viên và học sinh. Qua nghiên
cứu tôi cũng nhận thấy rằng nếu trong quá trình dạy học giáo viên sử dụng khéo léo
các phương pháp dạy học, các hình thức dạy học khác nhau có thể phát huy được
tính tích cực của học sinh và kích thích, lôi kéo các em vào quá trình học tập, từ đó
nâng cao hiệu quả dạy học.
Qua những năm nghiên cứu thử nghiệm tôi nhận thấy để dạy các tiết học về
ttừ nhiều nghĩa – đồng nghĩa – đồng âm. có kết quả cao, hạn chế được những khó
khăn của học sinh khi học đồng thời kích thích hứng thú học tập, nâng cao chất
lượng học tập của học sinh, tôi xin đề xuất một số biện pháp sau:
1.Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ SGK, tài liệu tham khảo về hiện tượng từ nhiều
nghĩa – đồng nghĩa – đồng âm. của từ để từ đó nắm vững, giải nghĩa từ một cách
chính xác.
2. Giáo viên cần phải nghiên cứu tình hình học tập của học sinh, xác định những
khó khăn mà học sinh lớp mình gặp phải để từ đó có biện pháp khắc phục, nâng cao
hiệu quả các tiết học.
Người thực hiện : Hồ Minh Tâm 22
3. Với mỗi tiết học giáo viên cần phải phân loại các dạng bài tập, lựa chọn các
phương pháp dạy học khác nhau để kích thích hứng thú học tập của học sinh.
4. Sau mỗi bài học giáo viên nên đưa ra một số dạng bài tập khác nhau để củng
cố, mở rộng kiến thức cho học sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status