Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản tại Công ty cổ phần Intimex Việt Nam - Pdf 24

Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước, đồng thời từng bước tham gia hội nhập nền kinh tế
khu vực và thế giới, việc đẩy mạnh xuất khẩu được Nhà nước đặc biệt coi trọng.
Xuất khẩu phát triển đã đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, giải quyết
công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy các ngành công nghiệp khác
phát triển.
Ngành nông nghiệp nước ta là một ngành mũi nhọn trong quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước. Công ty cổ phần Intimex Việt Nam là một
trong những doanh nghiệp xuất khẩu của Nhà nước đứng đầu trong lĩnh vực
xuất khẩu, đã có những thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới. Trong thời
gian qua Công ty cổ phần Intimex Việt Nam ngày càng chiếm lĩnh các thị
trường khó tính như Nhật Bản, EU, Mỹ…đồng thời tạo được uy tín của công ty
trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá thương mại ngày
nay, công ty đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh lớn
mạnh trong xuất khẩu nông sản là Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia…đặc biệt
là Trung Quốc. Đây là thách thức to lớn đòi hỏi công ty phải có biện pháp giải
quyết, nhằm tăng sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao uy tín của công
ty trên trường quốc tế.
Sau một thời gian thực tập tại công ty và những kiến thức tích luỹ được ở
nhà trường đã giúp em viết khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Giải pháp thúc đẩy
xuất khẩu hàng nông sản tại Công ty cổ phần Intimex Việt Nam”. Em hy vọng
rằng những giải pháp mà em đề xuất dưới đây có thể phần nào giúp ích cho công
ty đưa ra những biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản trên thị trường thế
giới, đưa kim ngạch xuất khẩu của công ty ngày càng tăng và đóng góp nhiều
hơn vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bản khóa luận này có ba
chương chính:
- 1 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D

Hơn nữa, mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế so
sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế qua đó phát huy được
lợi thế bên trong và tận dụng được những lợi thế bên ngoài. Từ đó đẩy nhanh
quá trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa, rút ngắn khoảng cách giữa các nước
đang phát triển và các nước phát triển, mặt khác tạo ra doanh thu và lợi nhuận
giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển.
- 3 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu:
2.1 Đối với một quốc gia:
Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ để đảm bảo nhu cầu nhập khẩu. Sự tăng
trưởng của một quốc gia phụ thuộc vào 4 nhân tố là: Vốn, công nghệ, nhân lực
và tài nguyên. Nhưng không phải quốc gia nào cũng có đầy đủ cả 4 yếu tố trên,
đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển.
Hầu hết các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển đều thiếu vốn nên
họ không có cơ hội để nhập khẩu công nghệ hiện đại và không thể đầu tư nâng
cao trình độ nguồn nhân lực do đó trình độ sản xuất của họ rất thấp. Và vì trình
độ sản xuất thấp chính là nguyên nhân làm cho quốc gia này thiếu vốn, vì vậy
đây chính là một vòng luẩn quẩn của các quốc gia đang phát triển và chậm phát
triển. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn này các quốc gia buộc phải có vốn để nhập
khẩu công nghệ tiên tiến mà trong nước chưa sản xuất được và nâng cao trình độ
nguồn nhân lực qua đó nâng cao khả năng sản xuất. Nhưng một câu hỏi được
đặt ra với các quốc gia này là: Làm thế nào để có được lượng ngoại tệ cần thiết
đáp ứng cho nhu cầu này?
Thực tiễn cho thấy, để có đủ được lượng ngoại tệ đáp ứng cho nhu cầu
này, các quốc gia có thể sử dụng các nguồn huy động vốn chính sau:
- Nguồn thu từ các hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ
- Nguồn từ các dịch vụ thu ngoại tệ như ngân hàng, du lịch
- Nguồn vay nợ, viện trợ
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

nhuận lớn trong các hoạt động kinh doanh, chính vì vậy số lượng lao động hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu hàng hóa không ngừng tăng, hàng
năm ngành xuất khẩu giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động trong
khu vực. Thêm vào đó, do có điều kiện tiếp xúc với thị trường mới, phương thức
quản lý mới, khoa học công nghệ tiên tiến nên trình độ của người lao động cũng
được cải thiện để đáp ứng yêu cầu chung của thị trường quốc tế.
- 5 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Để
đánh giá uy tín của một quốc gia người ta thường dựa vào 4 yếu tố đó là: GDP,
lạm phát, thất nghiệp và cán cân thanh toán . Hoạt động xuất khẩu đem lại
nguồn thu ngoại tệ, góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán và đó là một
trong bốn điều kiện đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hơn nữa,
hoạt động xuất khẩu làm tăng tích lũy ngoại tệ của một quốc gia và có thể biến
quốc gia đó thành một quốc gia xuất siêu và tạo sự đảm bảo trong thanh toán
cho đối tác, tăng được uy tín trong kinh doanh. Thông qua hoạt động xuất khẩu,
hàng hóa của quốc gia này được bày bán trên thị trường thế giới, khuếch trương
tiếng vang và sự hiểu biết từ nước ngoài. Ngoài ra, hoạt động xuất khẩu làm tiền
đề cho các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như: Dịch vụ, ngân hàng, đầu tư,
hợp tác liên doanh... và làm cho mối quan hệ giữa các quốc gia trở nên chặt chẽ
hơn.
2.2 Đối với doanh nghiệp:
Hoạt động xuất khẩu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tham gia vào cuộc
cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã hàng hóa trên thị trường thế giới.
Chính yếu tố này buộc doanh nghiệp phải năng động sáng tạo hơn, phải không
ngừng nâng cao trình độ quản trị kinh doanh, tăng cường đầu tư đổi mới trang
thiết bị để tự hoàn thiện mình.
Hoạt động xuất khẩu tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ
buôn bán với các đối tác nước ngoài từ đó người lao động trong doanh nghiệp có
thể nâng cao năng lực chuyên môn, tiếp thu học hỏi kinh nghiệm quản lý của các

lô hàng xuất khẩu. Hình thức xuất khẩu này giúp doanh nghiệp tránh được sự
biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, đồng thời có lợi khi các
bên không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình.
3.4. Giao dịch qua trung gian:
- 7 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
Là phương thức giao dịch mà mọi việc thiết lập quan hệ giữa người bán
và người mua đều thông qua người thứ ba còn gọi là người trung gian buôn bán.
Trung gian buôn bán trên thị trường phổ biến là môi giới và đại lý.
Do quá trình trao đổi giữa người bán và người mua phải thông qua một
bên thứ ba nên tránh được những rủi ro như: do không am hiểu thị trường hoặc
do sự biến động của nền kinh tế. Tuy nhiên, phương thức giao dịch này phải qua
trung gian và phải mất một tỷ lệ hoa hồng nhất định làm cho lợi nhuận của
doanh nghiệp bị giảm xuống.
Hình thức ngày thường áp dụng ở những doanh nghiệp mới vươn ra thị
trường nước ngoài, sản phẩm xuất khẩu thường là những sản phẩm mới hoặc
những sản phẩm mang tính cạnh tranh cao.
3.5. Gia công quốc tế:
Là một hình thức kinh doanh, trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công)
nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên (đặt gia công) để chế
biến ra thành phẩm và giao lại cho bên đặt gia công để thu lại một khoản phí gọi
là phí gia công.
Hình thức này áp dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp ở các nước đang
phát triển có nhiều tài nguyên, lao động dồi dào với giá rẻ nhưng lại thiếu vốn
và yếu kém về công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Gia công quốc tế đem lại lợi ích cho cả hai bên. Bên đặt gia công tận dụng
được giá rẻ về nhân công, nguyên phụ liệu của nước gia công. Bên nhận gia
công tạo được việc làm cho lao động trong nước, nhập được máy móc thiết bị,
công nghệ mới. Tuy nhiên, họ dễ bị phụ thuộc vào nước đặt gia công về số
lượng, chủng loại, mẫu mã hàng hóa gia công và đặc biệt là dễ bị ép giá gia

thích hợp là thực sự cần thiết. Trong lĩnh vực xuất khẩu, các công cụ chính sách
chủ yếu thường được sử dụng để điều tiết hoạt động này gồm:
a. Thuế quan:
- 9 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
Trong hoạt động xuất khẩu, thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị
hàng xuất khẩu. Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản
lý hoạt động xuất khẩu theo hướng có lợi nhất cho quốc gia. Công cụ này
thường chỉ được áp dụng với một số ít mặt hàng xuất khẩu nhằm bổ xung cho
ngân sách nhà nước, hạn chế xuất khẩu để đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng
mặt hàng trong nước.
Ngoài thuế quan xuất khẩu, thuế quan nhập khẩu cũng có tác động đến
hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Thuế quan nhập khẩu là thuế quan mà
nước nhập khẩu đánh vào một đơn vị hàng nhập khẩu. Do vậy nó sẽ làm tăng
giá bán hàng xuất khẩu của doanh nghiệp tại thị trường nhập khẩu. Vì vậy hàng
xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ giảm sức cạnh tranh.
b. Hạn ngạch:
Hạn ngạch được hiểu như là qui định của nhà nước về số lượng nhiều
nhất một mặt hàng hay một nhóm mặt hàng mà doanh nghiệp được phép xuất
khẩu hay nhập khẩu. Quốc gia xuất khẩu sẽ qui định hạn ngạch xuất khẩu nhằm
điều chỉnh lượng hàng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Quốc gia nhập
khẩu sẽ qui định hạn ngạch nhằm hạn chế lượng hàng nhập khẩu vào trong
nước, bảo hộ nền sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân
thanh toán. Tương tự thuế quan, cả hạn ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều có
thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu của doanh nghiệp.
c. Tỷ giá hối đoái và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm khuyến
khích xuất khẩu:
Tỷ giá hối đoái là sức mua của một đồng tiền so với đồng tiền khác. Sức
mua của đồng tiền là khả năng thanh toán của một đơn vị tiền tệ với một khối
lượng hàng xuất khẩu nhất định gắn liền với thanh toán quốc tế. Trong thanh

là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế
chính vì vậy nó cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của các mối quan hệ này.
Khi hàng hóa của doanh nghiệp thâm nhập được vào thị trường của một
quốc gia thì nó sẽ được hưởng chính sách ưu đãi hoặc phải đối mặt với những
rào cản thương mại từ những quốc gia này như: thuế quan, hạn ngạch nhập
- 11 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
khẩu, các tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm...Mức độ ưu đãi mà doanh nghiệp được
hưởng hay các rào cản thương mại mà doanh nghiệp phải đối đầu, chặt chẽ hay
nới lỏng hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế song phương giữa hai
quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu.
Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay, nhiều hiệp
định kinh tế song phương và đa phương đã được ký kết, nhiều liên minh kinh tế
đã được hình thành với mục tiêu là giảm bớt thuế quan giữa các nước tham gia,
giảm giá cả, thúc đẩy các hoạt động thương mại trong khu vực và trên thế giới.
Nếu là một thành viên trong liên minh kinh tế hoặc hiệp định thương mại ấy thì
quốc gia sẽ có cơ hội thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Nếu không thuộc, chính các
hiệp định thương mại, liên minh kinh tế này sẽ trở thành một rào chắn lớn cho
việc xâm nhập và mở rộng thị trường của doanh nghiệp.
f. Ảnh hưởng của nền sản xuất, thương mại trong nước và quốc tế:
Sản xuất trong nước là nhân tố chủ yếu quyết định đến cung hàng xuất
khẩu. Nếu nền sản xuất trong nước phát triển, khả năng cung ứng hàng xuất
khẩu sẽ tăng lên, giá cả thu mua hàng xuất khẩu sẽ giảm xuống, doanh nghiệp sẽ
gặp nhiều thuận lời trong khâu đầu vào. Ngược lại, khi nền sản xuất trong nước
bị giảm sút dẫn tới giá cả hàng xuất khẩu sẽ tăng, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn
để chọn được hàng hóa có chất lượng cao, đồng đều phục vụ cho xuất khẩu.
Đối với nền sản xuất nước ngoài thì ngược lại. Khi nền sản xuất nước
ngoài phát triển nhu cầu nhập khẩu sẽ ít đi, khả năng xuất khẩu của các doanh
nghiệp và thị trường của họ bị hạn chế. Ngược lại, khi nền sản xuất của họ bị
giảm sút, nhu cầu nhập khẩu của họ cao. Đây sẽ là thời cơ để doanh nghiệp thúc

thống này được đầu tư xây dựng phù hợp với yêu cầu chung của thị trường quốc
tế sẽ là nhân tố tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Ngược lại, hệ thống cảng biển, nhà ga, bến dỡ không đạt yêu cầu tối thiểu về kỹ
thuật sẽ gây tâm lý nghi ngại từ phía đối tác nước ngoài và rất có thể doanh
nghiệp sẽ mất cơ hội kinh doanh.
- 13 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
4.2. Các nhân tố thuộc phạm vi doanh nghiệp.
4.2.1 Nguồn nhân lực:
Con người là chủ thể của mọi hoạt động xã hội và hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp và suy đến cùng thì cũng là do con người và vì con người. Bởi vậy
con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm khi xem xét đến các vấn đế liên quan
đến doanh nghiệp. Một đội ngũ lao động vững vàng trong chuyên môn, có kinh
nghiệm trong buôn bán quốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trước biến động
của thị trường và đặc biệt có lòng say mê trong công việc luôn là đội ngũ lý
tưởng trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu nguồn nhân
lực của doanh nghiệp yếu kém về chất lượng và hạn chế về số lượng thì doanh
nghiệp sẽ luôn trong tình trạng bị động và kinh doanh kém hiệu quả. Như vậy,
nhân lực quyết định hoạt động của doanh nghiệp nên doanh nghiệp muốn hoạt
động có hiệu quả nhất thiết phải quan tâm đến vấn đề tuyển chọn đội ngũ lao
động thực sự có năng lực, đồng thời chú trọng đến công tác quản lý nhằm tạo
động lực cho người lao động trong doanh nghiệp làm việc có hiệu quả.
4.2.2. Khả năng tài chính:
Khả năng tài chính là một trong những nhân tố quyết định sức mạnh của
doanh nghiệp trong thời đại ngày nay. Nếu có tiềm lực tài chính mạnh, doanh
nghiệp có thể đầu tư đổi mới công nghệ, thu hút lao động có chất lượng cao, mở
rộng quy mô hoạt động. Ngoài ra, khi có tiềm lực về tài chính doanh nghiệp có
thể thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của mình thông qua việc cấp tín dụng cho
khách hàng qua hình thức trả chậm.
Như vậy có thể nói hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh

nhuận mà doanh nghiệp thu được so với lúc chính vụ lớn hơn rất nhiều. Ngoài ra
do đặc tính thu hoạch theo thời vụ nên hoạt động thu hoạch hàng nông sản
thường chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Với đặc tính này buộc doanh nghiệp
phải có mạng lưới thu mua nông sản rộng khắp và phải chuẩn bị đủ vốn để thực
hiện công tác thu mua có hiệu quả.
Hàng nông sản chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố khí hậu, thời tiết. Nếu
năm nào, khu vực nào có mưa thuận gió hòa thì cây cối phát triển cho năng suất
- 15 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
cao hàng nông sản sẽ tràn ngập trên thị trường với giá rất rẻ, ngược lại, nếu năm
nào hoặc khu vực nào có khí hậu thời tiết khắc nghiệt, hạn hán lũ lụt xảy ra
thường xuyên thì hàng nông sản sẽ khan hiếm và chất lượng không cao nhưng
giá cả thường cao. Căn cứ vào đặc tính này các doanh nghiệp có thể tìm ra cơ
hội kinh doanh cho mình. Chẳng hạn: Khi một khu vực thị trường nào có các
doanh nghiệp xuất khẩu cùng một loại hàng với doanh nghiệp, là đối thủ cạnh
tranh của doanh nghiệp mà có thời tiết, khí hậu không thuận lợi cho sản xuất
hàng nông sản thì ở khu vực ấy sẽ bị mất mùa, doanh nghiệp phải tận dụng ngay
cơ hội này để đẩy mạnh xuất khẩu. Hàng nông sản chủ yếu phục vụ cho nhu cầu
thiết yếu của con người vì thế chất lượng của nó có tác động trực tiếp đến tâm lý
và sức khỏe con người, chính vì vậy, chất lượng hàng nông sản luôn là yếu tố
đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm. Tại các quốc gia phát triển nhập khẩu
hàng nông sản ngày càng có nhiều các yêu cầu được đặt ra đối với hàng nhập
khẩu về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch, xuất
xứ...vì vậy để thâm nhập được các thị trường khó tính này, đòi hỏi hdoanh
nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu mà họ đặt ra. Theo đó, với các mặt hàng
nông sản thì khâu bảo quản và chế biến rất quan trọng, và vì giá cả hàng nông
sản xuất khẩu phụ thuộc vào chất lượng. Chất lượng hàng nông sản không chỉ
phụ thuộc vào khâu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản và
chế biến. Chính vì vậy, để nâng cao được giá hàng nông sản xuất khẩu thì khâu
bảo quản và chế biến phải được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Ngoài ra, với

yếu. Tuy nhiên hàng nông sản được xuất khẩu từ những nước này chủ yếu là
những mặt hàng nông sản thô hoặc mới chỉ qua sơ chế nên giá trị xuất khẩu
chưa cao.
Những nước không có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp là
những nước chính nhập khẩu nông sản. Đây có thể là những nước chậm phát
triển, đang phát triển hoặc các nước phát triển. Tuy nhiên, nhu cầu của mỗi nước
về hàng nông sản là rất khác nhau. Thông thường các nước chậm phát triển và
đang phát triển có nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn sản phẩm lương thực, những
sản phẩm này có yêu cầu về chất lượng không cao, giá rẻ và chỉ cần có sự thay
đổi nhỏ về giá cả sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn trong hành vi tiêu dùng của người
dân tại các nước này. Ngược lại, tại các nước phát triển, người tiêu dùng chỉ
- 17 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
chấp nhận sản phẩm có chất lượng mà không quan tâm nhiều đến sự thay đổi về
giá.
Thị trường nhập khẩu hàng nông sản đã và đang thu hẹp lại. Hiện tại, các
nước phát triển có nhu cầu nhập khẩu hàng nông sản lớn nhất thế giới. Tuy
nhiên các nước này đã và đang thực hiện một cách phổ biến và sâu rộng chế độ
trợ cấp cho sản xuất hàng nông nghiệp ở mức độ cao, bảo hộ thị trường nông sản
nội địa dưới nhiều hình thức. Cơ chế trợ cấp và trợ giá quá cao cho hàng nông
sản ở các nước phát triển đã gây sự bóp méo giá cả hàng nông sản xuất khẩu,
hạn chế tác động của qui luật thị trường và giảm đi ưu thế cạnh tranh hàng nông
sản ở các nước đang phát triển vốn nhờ và lao động rẻ. Cơ chế này không những
làm tăng khả năng xuất khẩu hàng nông sản ở các nước này mà còn hạn chế
nhập khẩu nông sản của các nước này. Đây là một bất lợi lớn đối với sản xuất
nông nghiệp và xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển.
Trong năm 2009 dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu, thương mại thế giới sụt giảm đáng kể (giảm 12,2% về
lượng và 23% về giá trị so với năm 2008). Đặc biệt, tại một số nền kinh tế lớn
và phát triển mức giảm thậm chí còn cao hơn như Mỹ giảm 13,9%; Liên minh

cho những người sản xuất nông nghiệp và cho những nước xuất khẩu nông sản.
Theo như đã phân tích, thị trường nông sản thế giới đang bị thu hẹp,
nguồn cung cấp hàng nông sản thế giới ngày càng dồi dào, cạnh tranh giữa các
nước xuất khẩu nông sản nguyên liệu diễn ra ngày càng gay gắt buộc các nước
đang phát triển phải xuất khẩu nông sản nguyên liệu cho các nước phát triển với
giá thấp. Mặt khác hàng nông sản chế biến của các nước đang phát triển lại phải
cạnh tranh với hàng nông sản xuất khẩu cùng loại của các nước phát triển ở thế
yếu hơn do hạn chế về công nghệ chế biến và khả năng đầu tư cho công nghệ
chế biến nông sản xuất khẩu. Trong những điều kiện này, ưu thế cạnh tranh trên
thị trường thế giới thuộc về các nước phát triển. Các nước này đã trở thành
người chi phối và chiếm ưu thế trong quan hệ buôn bán nông sản trên thị trường
thế giới.
Hiện tại thiệt thòi đang thuộc về các nước đang phát triển. Tuy
nhiên theo đánh giá của tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc
- 19 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
(FAO) với tốc độ phát triển như hiện nay (dân số thế giới tăng trưởng với tốc độ
cao nhưng đất đai sử dụng cho nông nghiệp lại giảm cùng với quá trình công
nghiệp hóa làm cho tốc độ tăng bình quân nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp lớn hơn tốc độ tăng bình quân sản lượng nông sản trên thị trường thế
giới) thì đến năm 2020 cầu về hàng nông sản trên thị trường thế giới sẽ vượt
cung. Điều này mở ra một cơ hội mới cho các nước đang phát triển xuất khẩu
nông sản nói chung và Việt Nam nói riêng để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản
trong tương lai.
- 20 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
TẠI CÔNG TY INTIMEX
I. Giới thiệu về công ty
Công ty cổ phần Intimex Việt Nam được thành lập ngày 10/08/1979 với

được vốn và bắt đầu có lãi vào năm 2006. Tại Thanh Chương-Nghệ An, Công ty
đã xây dựng nhà máy chế biến tinh bột sắn vào năm 2003 với công suất ban đầu
50 tấn/ngày và đến nay công suất đã tăng lên 180 tấn/ngày, lượng xuất khẩu
hàng năm đạt 20.000 tấn. Đến năm 2007, nhà máy chế biến tinh bột sắn Intimex
đã thu hồi được vốn và bắt đầu có lãi đồng thời trở thành nhà máy lớn nhất Miền
Bắc. Hiện nay Công ty cổ phần Intimex Việt Nam cũng đang đầu tư xây dựng
hai nhà máy chế biến cà phê chất lượng cao tại Bình Dương và Buôn Ma Thuột
với công suất mỗi nhà máy 20.000 tấn/năm.
Ngoài ra, Intimex còn đầu tư vào nuôi trồng và chế biến thủy sản ở Diễn
Kim tỉnh Nghệ An và Đồng Ghép tỉnh Thanh Hóa. Với diện tích gần 100 ha
nuôi tôm công nghiệp và được VASEP đánh giá là đơn vị có diện tích nuôi tôm
thẻ chân trắng lớn nhất và hiện đại nhất Miền Bắc và nuôi tu hài ở Vân Đồn-tỉnh
Quảng Ninh với diện tích lên tới một triệu m
2
mặt biển.
Để mở rộng địa bàn hoạt động, Intimex đã thành lập thêm các chi nhánh,
xí nghiệp tại Tây Ninh, Bình Dương, Nghệ An, Đắc Lắc. Ngoài ra đơn vị còn
sáp nhập thêm các đơn vị khác có nhiều khó khăn, thua lỗ như: Công ty nông
sản 3 (Bộ Thương mại), xí nghiệp nuôi tôm Sầm Sơn, nhà máy thủy sản Hoằng
Trường (Tỉnh Thanh Hoá)....nhờ đó mà Intimex đã phát triển mở rộng thị trường
kinh doanh, sản xuất cả về lượng và chất.
Một trong những thế mạnh của Intimex nữa là với truyền thống kinh
doanh bán buôn, bán lẻ thời kỳ bao cấp của ngành nội thương với cơ sở vật chất
có sẵn, năm 2001 công ty lần đầu tiên xây dựng siêu thị đầu tiên của ngành
thương mại tại Hà Nội nói riêng và Miền Bắc nói chung. Việc đi tiên phong về
- 22 -
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
phát triển siêu thị của một doanh nghiệp Nhà nước của ngành thương mại đã
thành công và đến nay Công ty đã có 14 siêu thị và Trung tâm thương mại tại
Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hòa Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Đà Nẵng,

Ban Tổng giám đốc
Ban kiểm soát
Khối các phòng quản

Khối các phòng KD
Khối các công ty liên
kết
Phòng tài chính kế toán
Phòng kế hoạch
Phòng tổ chức cán bộ
Phòng ĐT & XDCB
Phòng HC-QT
Phòng kinh doanh 1
Phòng kinh doanh 2
Công ty CP INTIME Hà Nội
Công ty CP INTIME Sài Gòn
Công ty CP XNK INTIMEX
Khối các đơn vị trực thuộc
Trung
tâm
thương
mại
Intimex
XN chế biến
nông sản –
thực phẩm
Intimex
Quang Minh
XN TM và
DV Intimex

Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Xu©n Thu - TC25D
2. Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện cho các cổ đông để quản lý doanh
nghiệp. Các cuộc họp của hội đồng quản trị diễn ra hàng quý, trừ các cuộc họp
bất thường để giải quyết các vấn đề khẩn cấp của Công ty. Hội đồng quản trị
được bầu 5 năm một lần. Thành phần của hội đồng quản trị của Intimex bao
gồm 6 thành viên: Một là chủ tịch, một là tổng giám đốc và những thành viên
khác.
Ban kiểm soát là cơ quan có quyền giải quyết những vấn đề tài chính và
hành chính thông thường. Ban kiểm soát bao gồm 3 thành viên: Một trưởng ban
và hai hỗ trợ trưởng ban.
Đại hội đồng cổ đông bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết.
Các cổ đông bổ nhiệm các thành viên trong Hội đồng quản trị bằng cách bỏ
phiếu. Đây là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của Intimex. Cuộc họp đại
hội đồng cổ đông được tổ chức mỗi năm một lần trừ những cuộc họp bất
thường.
3. Chức năng nhiệm vụ các phòng ban:
3.1 Ban Tổng giám đốc
Tổng giám đốc điều hành mọi hoạt động kinh doanh hàng ngày và cơ cấu
tổ chức của Intimex. Tổng giám đốc được hội đồng quản trị bổ nhiệm và chịu
trách nhiệm về tất cả các khía cạnh công việc của Công ty với hội đồng quản trị.
Hai phó tổng giám đốc sẽ chịu trách nhiệm trợ giúp tổng giám đốc trong
lĩnh vực tài chính và lập chiến lược kinh doanh của công ty.
3.2 Khối các phòng quản lý
* Phòng kế toán gồm 21 nhân viên:
Thực hiện toàn bộ công tác kế toán thống kê, thông tin kế toán, hạch toán
kế toán, báo cáo chế độ kế toán theo qui định của nhà nước theo định kỳ về chế
- 25 -

Trích đoạn Phân tích hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần Intimex Việt Nam 1 Phân tích thực trạng và kế hoạch xuất khẩu của công ty cổ phần Định hướng xuất khẩu của nông sản Việt Nam Đa dạng hoá mặt hàng, phát huy tất cả các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế Nâng cao chất lượng sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status