Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHẠM MINH HƢƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
Ở TRƢỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ
TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Minh Hƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
TS. Phan Hữu Tham đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo cho tác giả hoàn
thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học, các thày giáo, cô giáo Khoa
Tâm lý giáo dục, Khoa đào tạo sau Đại học trường Đại học sư phạm - Đại học
5. Giả thuyết khoa học 4
6. Phương pháp và phạm vi giới hạn nghiên cứu 4
7. Cấu trúc của luận văn 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI
KHÓA BỘ MÔN TRONG TRƢỜNG THPT 6
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1. Trên thế giới 6
1.1.2. Trong nước 10
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục 12
1.2.2. Quản lý nhà trường, quản lý trường THPT Dân tộc nội trú 16
1.2.3. Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp 18
1.2.4. Quản lý hoạt động ngoại khóa bộ môn 19
1.2.5. Mối quan hệ giữa hoạt động ngoài giờ lên lớp với hoạt động ngoại
khoá và với các hoạt động dạy học, giáo dục 22
1.3. Một số vấn đề lý luận về hoạt động ngoại khóa bộ môn ở trường
THPT 22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
1.3.1. Vai trò ý nghĩa của hoạt động ngoại khoá bộ môn trong việc nâng
cao chất lượng dạy học cho học sinh ở trường THPT 22
1.3.2. Cơ sở giáo dục học - tâm lý học của việc tổ chức hoạt động ngoại
khoá bộ môn 27
1.3.3. Mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động ngoại khóa bộ môn 31
1.3.4. Quản lý các hoạt động ngoại khóa bộ môn 34
1.3.5. Vai trò của giáo viên bộ môn, tổ trưởng bộ môn và hiệu trưởng
trong hoạt động ngoại khóa bộ môn 45
Kết luận chương 1 48
2.4.5. Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động ngoại khóa bộ
môn ở trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng 76
Kết luận chương 2 78
Chƣơng 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
BỘ MÔN Ở TRƢỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH
CAO BẰNG 79
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 79
3.1.1. Đảm bảo tính phù hợp 79
3.1.2. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 79
3.1.3. Đảm bảo tính đồng bộ 79
3.1.4. Đảm bảo tính khả thi 80
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động ngoại khóa bộ môn ở trường THPT
Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng 80
3.2.1. Bồi dưỡng năng lực xây dựng kế hoạch ngoại khóa bộ môn cho
tổ trưởng bộ môn 80
3.2.2. Bồi dưỡng năng lực và rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động
ngoại khóa cho giáo viên bộ môn 86
3.2.3. Tăng cường chỉ đạo mở rộng hình thức tổ chức hoạt động ngoại
khóa bộ môn 90
3.2.4. Đổi mới kiểm tra đánh giá gắn nội khóa với ngoại khóa 95
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
3.2.5. Tăng cường huy động các nguồn lực để xây dựng các điều kiện
tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa bộ môn 98
3.2.6. Mối quan hệ giữa các biện pháp 102
3.3. Khảo sát tính khả thi của các biện pháp 103
Kết luận chương 3 106
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107
: Quản lý giáo dục
SL
: Số lượng
THPT
: Trung học phổ thông
TTBM
: Tổ trưởng bộ môn
UBND
XHCN
: Ủy ban nhân dân
: Xã hội chủ nghĩa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trường
THPT Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng năm học 2012 - 2013 50
Bảng 2.2. Thành phần dân tộc của học sinh trường THPT Dân tộc nội trú
tỉnh Cao Bằng năm học 2012 - 2013 50
Bảng 2.3. Chất lượng hai mặt giáo dục của học sinh trường THPT Dân tộc
nội trú tỉnh Cao Bằng năm học 2012 - 2013 51
Bảng 2.4. Nhận thức về tác dụng và yêu cầu của hoạt động ngoại khoá 52
Bảng 2.5. Xếp hạng tầm quan trọng của các năng lực và phẩm chất của giáo
viên khi tổ chức hoạt động ngoại khoá 53
Bảng 2.6. Tác dụng của việc tổ chức hoạt động ngoại khoá bộ môn và những
yêu cầu cần đạt 53
Bảng 2.7. Nhận thức về mức độ cần thiết của việc tổ chức các hoạt động
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu hướng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục đã
ban hành nhiều chỉ thị, văn bản liên quan đến việc đẩy mạnh các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp. Nội dung của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
đã được xác định trong Điều 26, Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày
12/2011/TT-BGDĐT Ban hành Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung
học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học: "Các hoạt động giáo dục
bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi
vào cuộc sống lao động. Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành
thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình
giáo dục của cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa
học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ
nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo
dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt
động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt
động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý
lứa tuổi học sinh" [4].
Hoạt động ngoại khoá các môn học là một trong những hình thức hoạt
động ngoài giờ lên lớp có tác dụng góp phần nâng cao chất lượng học tập và
giáo dục cho học sinh. Hoạt động ngoại khoá bao gồm một số các hình thức tổ
chức như câu lạc bộ khoa học, dạ hội khoa học hay nghệ thuật, tổ ngoại khoá,
Đây là những hình thức tổ chức hoạt động dựa trên sự hứng thú và tự nguyện
của học sinh, như những trò chơi mà trong đó các em được trổ tài, được giao
lập dành cho con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài
tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh; Việc giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
các em trở thành những con người toàn diện về các mặt là mục tiêu và là nhiệm
vụ quan trọng của nhà trường bởi các em chính là nguồn đào tạo cán bộ dân tộc
cho địa phương, những người trực tiếp xây dựng bản làng, quê hương, tuy
nhiên các hoạt động ngoại khóa của nhà trường còn chưa có chất lượng và hiệu
quả, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và của ngành. Các
hoạt động này mới chỉ dừng lại ở những môn có thế mạnh (Ngữ văn, Sinh học)
và ngay cả những môn đó thì hình thức tổ chức cũng chưa phong phú, chưa tạo
được hứng thú thật sự cho học sinh. Nhiều môn học giáo viên chỉ chú trọng
cung cấp và nhồi nhét kiến thức, làm cho học sinh cảm thấy nặng nề, kết quả
học tập của các em không cao. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các
nhà quản lý và giáo viên chưa được cung cấp đầy đủ lý luận về tổ chức và quản
lý hoạt động ngoại khoá môn học. Còn quá ít các công trình nghiên cứu về vấn
đề này. Giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nói chung, cán bộ quản lý nhà
trường nói riêng chưa ý thức được đầy đủ về vai trò và tác dụng của các hình
thức hoạt động ngoại khoá. Hiểu biết của người giáo viên về hoạt động ngoại
khoá còn phiến diện, năng lực tổ chức ngoại khoá còn hạn chế, các nhà quản lý
chưa có được những biện pháp đồng bộ cần thiết để thúc đẩy các hoạt động
ngoại khoá bộ môn. Các điều kiện để tổ chức hoạt động ngoại khoá còn hạn
chế: thiếu địa điểm, thiếu phương tiện, đặc biệt là các tài liệu tham khảo,
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động ngoại khóa ở trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng” để nghiên
cứu và hy vọng có những đóng góp tích cực vào nâng cao chất lượng giáo dục
của nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu
6.1.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài
liệu và các văn bản.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử vấn đề, phát hiện và khai thác những
khía cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, làm cơ sở
cho việc nghiên cứu tiếp theo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
6.1.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra bằng ankét về thực trạng
hoạt động ngoại khóa và quá trình quản lý hoạt động ngoại khóa ở trường
THPT Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều
tra, các biện pháp quản lý.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong quản lý hoạt động ngoại khóa.
6.1.3. Nhóm phƣơng pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra, khảo sát.
6.2. Phạm vi giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình quản
lý hoạt động ngoại khóa bộ môn ở trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng.
Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ngoại khóa bộ môn nhằm phát
triển toàn diện các phẩm chất và năng lực của học sinh trường THPT Dân tộc
nội trú tỉnh Cao Bằng.
Khách thể điều tra: thăm dò ý kiến của 03 cán bộ quản lý, 30 giáo viên
và 100 học sinh trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Cao Bằng về hoạt động
ngoại khóa bộ môn của nhà trường.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
và tôn trọng lẫn nhau giữa các trẻ, nuôi dưỡng khả năng sáng tạo”. [24]
J.A.Cô men xki - ông tổ của nền sư phạm cận đại trong thời gian làm cố
vấn giáo dục tại Hung ga ri đã rất coi trọng hoạt động ngoại khoá bộ môn. Ông
cho học sinh tham gia biểu diễn sân khấu để giúp các em ghi nhớ sâu sắc những
nội dung cần thiết. Ông thấy rằng những chàng trai thường ngày so ro, rụt rè
nay ra trước công chúng với vẻ tự tin, xử sự điềm tĩnh. Những con người mới
mấy tuần lễ trước còn đọc câu ngắc ngứ, bây giờ đã có thể nói một đoạn độc
thoại dài mà không phạm lỗi hoặc giải thích những khái niệm một cách hùng
hồn đầy tính thuyết phục. Cô men xki ở thời đó đã áp dụng phương pháp dạy
học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho học sinh,
đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới đầy tính thuyết phục. [21]
Đến thập niên 20, 30 của thế kỉ XX, A.S.Macarenco-nhà giáo dục nổi
tiếng người Nga đầu thế kỉ XX - đã bàn về tầm quan trọng của công tác này.
Ông phát biểu: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo
dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho
quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét
vuông của đất nước chúng ta…” Nghĩa là “trong bất kì hoàn cảnh nào cũng
không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp”.
Trong thực tiễn công tác của mình, Macarenco đã tổ chức các hoạt động bên
ngoài lớp học trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất
cứ lúc nào, nhưng các tổ phải kỷ luật trong quá trình hoạt động. [20]
E. K. Krupskaja bàn về công tác ngoại khóa tại trong Hội nghị giáo dục
toàn quốc nước Nga năm 1938: “Nên hiểu cho đến cùng: như thế nào là hạnh
phúc của con em. Vấn đề này hoàn toàn không có nghĩa là phải chiều chuộng
phục vụ, phục vụ và phục vụ trẻ con như con em của một tên tư bản nào đó…
cao trong học tập người ta nhấn mạnh đến khả năng tìm kiếm tri thức, sự phát
triển về kỹ năng sống và kỹ năng xã hội. Luyện tập các môn nghệ thuật, thể thao
học sinh có được nhiều thói quen tốt, tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống. Các
học sinh tham gia vào việc tổ chức các sự kiện đạt được nhận thức về bản thân,
biết tự tin, tự trọng, tự hào. Các hoạt động xã hội tạo ra tình huống để học sinh
biết cách phân tích, giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Matt Craft cho rằng
hoạt động ngoại khóa còn có ảnh hưởng tích cực đến kỹ năng tổ chức và quản lý
thời gian của học sinh. Các hoạt động này chiếm mất một số buổi trong thời
khóa biểu của học sinh, trong khi nhiệm vụ chính của họ vẫn là học tập. Để có
thể tham gia được các hoạt động mà họ yêu thích, học sinh phải biết sử dụng thời
gian một cách hiệu quả, lập kế hoạch cá nhân một cách hợp lý nhất để có thể
hoàn thành được mọi nhiệm vụ (Rachel Hollrah, 2007). Trong hoạt động ngoại
khóa học sinh làm quen được với nhiều bạn mới, xây dựng tinh thần đồng đội,
kỹ năng làm việc hợp tác. Những kỹ năng này lại giúp họ thành công ở học
đường và trong nghề nghiệp tương lai. Học sinh dành thời gian cho các hoạt
động ngoại khóa cảm nhận ý nghĩa cuộc sống rất tích cực, đạt được thành tích
học tập cao hơn, có hành vi đạo đức tốt hơn trong nhà trường, có mối quan hệ và
xúc cảm tốt hơn, phát triển tốt hơn tránh được việc sa vào tệ nạn sử dụng các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
9
chất kích thích và vi phạm pháp luật (Rachel Hollrah, 2007). Nghiên cứu so sánh
của các nhà giáo dục Mĩ năm 2002 giữa chất lượng giáo dục của Mĩ và 8 nước
trong khối G8 cho rằng, hoạt động ngoài giờ lên lớp và ngoại khoá là một trong
những điều kiện đem lại chất lượng giáo dục cao ở các nước. [25]
Các nhà giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động
ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khoá. Học sinh Nhật Bản dành khá nhiều
thời gian cho các hoạt động này vì hầu hết các trường học ở Nhật Bản là các
trường bán trú. Tuy nhiên, các hoạt động ngoài giời lên lớp này tập trung chủ
Như vậy, các công trình nghiên cứu này đã làm nổi rõ tầm quan trọng
của các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khoá và chỉ ra một số biện
pháp cần thiết cho người hiệu trưởng phải làm gì để tổ chức và quản lý tốt các
hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
1.1.2. Trong nước
Ở nước ta, đã nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu giáo viên phải
chú ý giáo dục nhiều mặt cho học sinh như đức, trí, thể, mĩ, lao động. Trong
Thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, Bác viết: “Trong lúc
học cũng cần làm cho các cháu vui, trong lúc vui cũng cần làm cho các cháu
học. Ở trong nhà trường, trong xã hội, các cháu đều vui, đều học” [19]. Từ
những năm 60, khi xây dựng chương trình giáo dục, Bộ Giáo dục đã xác định
rõ trong cuốn “ Giải thích chương trình quốc văn 1961 - 1962”: “ Muốn thực
hiện giáo dục và giáo dưỡng trong các môn học đạt kết quả đầy đủ thì ở nhà
trường cần tổ chức ngoại khoá. Hoàn cảnh kháng chiến trước đây chưa cho
phép chúng ta thực hiện đầy đủ công tác này cho nên trong chương trình cũng
chưa ghi phần ngoại khoá. Từ lúc hoà bình được lập lại, vấn đề này được nêu ra
và được các địa phương thực hiện lẻ tẻ. Trong chương trình mới công tác ngoại
khoá trở thành một phần quan trọng, khăng khít với nội khoá. Công tác ngoại
khoá không nên vì cái tên ngoại khóa của nó mà bị đặt vào một vị trí quá ư thấp
kém như một số trường vẫn làm như vậy. Công tác ngoại khoá không hề mâu
thuẫn gì với nội dung giáo dục, giáo dưỡng của nhà trường XHCN mà trái lại
bổ sung và nâng cao chất lượng của nội khoá lên một bước”.
Tác giả Phạm Lăng khi tìm hiểu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở
trường trung học Chu Văn An Hà Nội đã xác định nhiều hình thức hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp và nhấn mạnh: Nếu tổ chức hoạt động này một cách
khoa học sẽ không làm giảm đi chất lượng các môn học. [15]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
môn vào trong kế hoạch năm học … Điều này khiến cho không ít trường
trung học phổ thông vẫn cảm thấy hoạt động ngoại khoá bộ môn còn là việc
làm có tính hình thức, ép buộc…
Vì thế việc xây dựng cơ sở lý luận cho quản lý hoạt động ngoại khoá bộ
môn cần thiết giúp nhà quản lý có cơ sở điều hành công tác chuyên môn của nhà
trường nói chung, hoạt động ngoại khoá bộ môn nói riêng đạt kết quả tốt hơn.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, thì quản lý là phương thức tác
động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc ràng
buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì
tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt đến mục tiêu.
Theo quan điểm của điều khiển học, thì quản lý là chức năng của những
hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế
độ hoạt động. Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận
động vận hành và phát triển.
Các nhà quản lý theo thuyết quản lý khoa học, mà đại diện tiêu biểu là
Frederics William Taylor (Mỹ - 1856 -1915) cho rằng “Quản lý là nghệ thuật
biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng
phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”.
Mác cũng đã từng khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng
trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất
định đến sự quản lý. Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá
nhân và hình thành những chức năng chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản
xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó”. [10]
Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu dẫn đến suy thoái.
Hệ phát triển mà thiếu ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
Như vậy: Quản lý = Ổn định + Phát triển
Trong quản phải có lý; trong lý phải có quản; ổn định đi tới sự phát triển,
phát triển trong thế ổn định. [7]
Như vậy, mặc dù có những kiến giải khác nhau nhưng đi sâu tìm hiểu
bản chất khoa học của các khái niệm đã nêu về quản lý, có thể dễ dàng nhận
thấy giữa chúng luôn có sự thống nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
Quản lý là khoa học vì nó là những tri thức được hệ thống hoá và là đối
tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải
các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Quản lý là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo,
tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đã quan sát được,
những tri thức đã được đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới
khách thể quản lý.
Nói đến quản lý thì đồng thời cũng phải hiểu quản lý bao giờ cũng có định
hướng, có mục tiêu, có tổ chức, có tác động tương ứng, phù hợp, nhằm hướng
dẫn, điều khiển những đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu định sẵn.
Cuối cùng, tồn tại với tư cách là một hệ thống, quản lý bao gồm các
thành phần: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ chế quản lý và mục tiêu
chung. Chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý, còn khách thể quản lý tạo
ra các sản phẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hoá mục tiêu đã định và làm thoả
mãn mục đích của nhà quản lý. Chủ thể quản lý luôn là con người và có cơ cấu
tổ chức phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp của khách thể quản lý. Khách thể
quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lý, khách thể
quản lý bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất