Điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi người già bằng khung cố định ngoài (tt) - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ÐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ QUANG TRÍ

ÐIỀU TRỊ GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN
XƯƠNG ÐÙI NGƯỜI GIÀ BẰNG KHUNG
CỐ ÐỊNH NGOÀI Chuyên ngành : Chấn thương chỉnh hình
Mã số : 62.72.07.25

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Công trình được hoàn thành tại:
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:
1. GS. Nguyễn Quang Long

Tổng hội Y học Việt Nam, tập 374, 2, tr. 326 – 331.
4. Lê Quang Trí (2012), “Một số đặc điểm giải phẫu học đầu trên
xương đùi ở người Việt Nam”, Tạp chí Y Dược học lâm sàng
108, Viện nghiên cứu Y Dược lâm sàng 108, tập 7, 5, tr. 48 – 55.

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN

Đặt vấn đề
Gãy LMCXĐ khá phổ biến, chiếm 55% các loại gãy đầu trên
xương đùi; hay xảy ra ở người già; phụ nữ gặp nhiều gấp 2-3 lần
nam giới.
Người già ngoài loãng xương còn có thể có các bệnh mạn tính
kèm theo như: bệnh tim mạch, bệnh về đường hô hấp, các bệnh lý về
nội tiết và rối loạn chuyển hóa, sa sút trí tuệ, thoái hoá hệ thống cơ
xương khớp, v.v. Do đó trước đây bảo tồn là phương pháp điều trị
chủ yếu, mặc dù thường gặp nhiều biến chứng.
Ngày nay, nhờ sự phát triển của chuyên ngành Gây mê - Hồi
sức, Công nghệ chế tạo các dụng cụ kết hợp xương, điều trị các gãy
LMCXĐ cho người già bằng phương pháp phẫu thuật đã được
thống nhất. Nhưng không phải trường hợp nào cũng có thể phẫu
thuật kết hợp xương bên trong, ngay tại các nước phát triển như
Pháp, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ đã có những nghiên cứu sử dụng KCĐN điều
trị gãy LMCXĐ trên người già có nhiều bệnh lý nội khoa kết hợp,
do phương pháp này có những ưu điểm như: can thiệp tối thiểu ít
sang chấn thêm với kỹ thuật đơn giản; thời gian phẫu thuật nhanh,
mất máu không đáng kể, cố định đủ vững giúp người bệnh đỡ đau
và tập PHCN sớm tránh các biến chứng do nằm lâu.
Hiện nay tại Việt Nam, các trung tâm y tế lớn có đủ điều kiện về
con người và trang thiết bị, đa phần phẫu thuật KHX bên trong điều

bên trong. Vì đây là phương pháp can thiệp ít xâm lấn, thời gian
phẫu thuật nhanh, mất máu không đáng kể, bệnh nhân đỡ đau và tập
phục hồi sớm, tránh được các biến chứng do nằm lâu đặc biệt trên
người già có thoái hóa đa cơ quan.
- Với những ưu điểm của kỹ thuật xuyên đinh vào thân xương
đùi ở vùng gần ổ gãy (ngay dưới mấu chuyển), chúng ta cần chọn
những dạng khung CĐN có kết cấu đạt được kỹ thuật xuyên đinh
gần ổ gãy.
- Mô tả được các biến chứng thường gặp khi tiến hành phương
pháp CĐN điều trị loại gãy này là:
 Ngắn chi
 Khép góc cổ thân
 Thất bại dụng cụ
 Nhiễm trùng chân đinh
3
Bố cục của luận án
Luận án có 120 trang, gồm: Đặt vấn đề 3 trang; tổng quan 38
trang; đối tượng và phương pháp nghiên cứu 15 trang; kết quả
nghiên cứu 34 trang; bàn luận 27 trang, kết luận 2 trang và kiến nghị
1 trang. Có 37 bảng, 7 biểu đồ, 25 hình. Có 116 tài liệu tham khảo
gồm 21 tiếng Việt, 89 tiếng Anh và 6 tiếng Pháp.

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về gãy LMC xương đùi
1.1.1. Đặc điểm về bệnh lý và tổn thương giải phẫu bệnh: Gãy
LMC xương đùi là loại gãy xương nặng hay gặp ở người lớn tuổi. Là
loại gãy ngoài bao khớp, trong vùng xương xốp với hệ thống mạch
máu nuôi dồi dào nên gãy xương thường mất máu nhiều và bất kỳ
phương pháp điều trị nào cũng dễ đưa đến kết quả liền xương.

Ngày nay, phương pháp điều trị bảo tồn gãy LMC duy nhất ; có
ít nhiều hiệu quả còn tồn tại đó là phương pháp kéo liên tục.
1.1.5.2. Các phương pháp điều trị phẫu thuật
Do các phương pháp điều trị bảo tồn để lại nhiều biến chứng,
nên ngày nay đa số tác giả nghiên cứu gãy xương VMCXĐ đề
nghị phẫu thuật KHX bên trong vững chắc là phương pháp điều trị
tiêu chuẩn.
Phẫu thuật với dụng cụ nẹp vít nén ép trượt
Phẫu thuật bằng dụng cụ nội tủy
Phương pháp nắn kín và cố định ngoài
Phương pháp sử dụng dụng cụ cố định ngoài, được coi là phương
pháp điều trị bảo tồn có can thiệp (xuyên đinh qua da, dưới gây tê tại
chỗ), được chỉ định cho những trường hợp quá già yếu, không còn
khả năng đi lại và không còn khả năng phẫu thuật.
1.4. Biến chứng của gãy xương vùng mấu chuyển xương đùi
Bao gồm những biến chứng sớm và muộn, biến chứng sớm là
sốc chấn thương và tắc mạch máu do mỡ. Những biến chứng
muộn là:
5
1.4.1. Những biến chứng trong quá trình phẫu thuật
 Còn di lệch các đoạn gãy
 Tổn thương mạch máu vùng chậu do xuyên kim định hướng
 Vị trí vít đầu trong chỏm xương đùi không chính xác
 Xoay chỏm xương đùi trong quá trình xuyên vít đầu
 Chiều dài vít đầu không phù hợp.
1.4.2. Những biến chứng trong giai đoạn liền vết mổ
Những rối loạn trong giai đoạn liền vết mổ bao gồm tiết dịch, tụ
máu, nhiễm trùng nông và nhiễm trùng sâu, được ghi nhận từ 1% đến
16% các trường hợp.
1.4.3. Những biến chứng trong quá trình liền xương

2001, tác giả đã ứng dụng khung Orthofix điều trị cho 78 trường hợp,
kết luận rằng phương pháp cố định ngoài nhiều ưu điểm hơn điều trị
bảo tồn và là lựa chọn khi chống chỉ định với các phương pháp phẫu
thuật khác.
Nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu phương pháp này và có kết
luận tương tự.
1.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ghi nhận tình hình ứng dụng phương pháp CĐN trong điều trị
gãy LMC tại nước ta, có những báo cáo đáng chú ý sau đây:
- Từ năm 1997 đến 10/2003 Nguyễn Văn Tín và cộng sự tại bệnh
viện Trung ương Quân đội 108 đã ứng dụng cọc ép răng ngược chiều
(CERNC) điều trị cho 27 bệnh nhân gãy nền cổ và vùng LMC xương
đùi, nhưng chưa có tổng kết.
- Năm 1998 đến tháng 10/2003 Vũ Hữu Dũng và cộng sự đã ứng
dụng CERNC điều trị gãy LMC xương đùi cho 29 bệnh nhân cao
tuổi, theo dõi trong 1 năm được 18 trường hợp với kết quả như sau:
Tốt: 83,3%; Khá: 16,7%; Kém: 0%.
- Lê Quang Trí và cộng sự (2003) đã ứng dụng khung cố định
ngoài tự chế điều trị cho 40 bệnh nhân có độ tuổi từ 60 trở lên, kết
quả như sau: Liền xương: 31 bệnh nhân; Tử vong: 01 bệnh nhân do
bệnh lý nhồi máu cơ tim; Đánh giá theo mức độ phục hồi chức năng:
Tốt: 35,5% - Trung bình: 48,5% - Xấu: 16%.
7
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân được chẩn đoán là gãy xương vùng liên mấu
chuyển, lần lượt được chọn vào mẫu:
- Nhóm 1: 55 bệnh nhân thu nhận tại Bệnh viện Chấn Thương
Chỉnh Hình Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 10/2005 đến

mm và kim định hướng; 7. Khoan vỏ xương 4,0 mm; 8. Khoan tay;
9. Khoan máy.
2.2.2.1. Khung kim loại dùng cho các bệnh nhân bắt đinh xa ổ gãy
Là loại khung được chế tạo từ thép không rỉ 36-L, do nhóm
nghiên cứu tự thiết kế và Công ty Hào Nam sản xuất và Bộ Y tế cho
phép lưu hành.
2.2.2.2. Khung Composit dùng cho các bệnh nhân bắt đinh gần ổ gãy
Chúng tôi đã kết hợp với Trung tâm vật liệu mới Hà Nội thiết
kế và sản xuất KCĐN bằng vật liệu Composit dùng để điều trị gãy
VLMCXĐ.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Đây là nghiên cứu quan sát, mô tả tiến cứu, có theo dõi dọc,
theo mẫu bệnh án thống nhất, có phân tích hai kỹ thuật xuyên
đinh khác nhau.
2.3.1. Cỡ mẫu nghiên cứu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Nhà nghiên cứu
chủ định chọn vào nghiên cứu các đối tượng theo tiêu chuẩn lựa
chọn và loại trừ. Với cỡ mẫu:
2
2
2/1
)1(
d
p





Với: 05,0

Nhóm thứ hai đưa vào nhóm sử dụng khung CĐN dạng
Orthofix được sản xuất bởi Trung tâm vật liệu mới – Bộ Khoa học
và Công nghệ Việt Nam. Cấu trúc của dạng khung này cho phép
xuyên nhóm đinh thân gần sát với ổ gãy LMC, tránh việc xuyên đinh
vào khối cơ rộng làm ảnh hưởng đến cơ năng khớp gối trong quá
trình mang khung, gọi chung là Nhóm đinh gần ổ gãy.
2.3.3. Phương pháp tiến hành thu thập thông tin
Tất cả thông tin về hành chính, bệnh sử, tiền căn, quá trình điều
trị và theo dõi được ghi vào mẫu bệnh án thiết kế sẵn cho nghiên cứu.
Ghi nhận thông tin trong quá trình phẫu thuật và hậu phẫu
Theo dõi bệnh nhân trong 1 năm, tái khám ở các thời điểm 1
tháng, 2 tháng, thời điểm lấy khung, 6 tháng và 1 năm.
2.4. Các biến số cần đánh giá
- Thời điểm phẫu thuật
-

Đánh giá nguy cơ trong phẫu thuật theo hiệp hội gây mê
Hoa Kỳ (ASA).
10
- Phân loại gãy xương theo Jensen.
- Thời gian mổ.
-

Kết quả nắn chỉnh ổ gãy và di lệch thứ phát sau KHX
theo Jensen
- Kết quả nắn chỉnh trên hình ảnh C- arm và X quang ngay sau
mổ theo Baumgaertner chia ra làm 3 mức độ: tốt, chấp nhận và xấu.
- Góc cổ thân xương đùi.
- Đau: dựa vào thang điểm VAS (visual analogue scale), NRS
(numeric rating scale) và vẻ mặt

tuân thủ đúng đề cương nghiên cứu.

Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đánh giá kết quả điều trị gãy vùng liên mấu chuyển xương
đùi người già bằng phương pháp cố định ngoài và so sánh sự
khác biệt giữa hai hình thức xuyên đinh vào thân xương đùi ở
gần và xa ổ gãy.
3.1.1. Một số đặc điểm của gãy liên mấu chuyển xương đùi
của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
: tuổi trung bình 77,3 tuổi; có
34 nam và 75 nữ. TNGT chiếm 11,9%, TNLĐ chiếm 1,8% và
TNSH chiếm 86,2%.
3.1.2. Kết quả điều trị gãy xương vùng mấu chuyển xương đùi
người già bằng phương pháp cố định ngoài
3.1.2.1.Kết quả nắn xương trong khi phẫu thuật
Bảng 3.10. Kết quả nắn xương khi phẫu thuật theo nhóm nghiên cứu

Đinh xa ổ gãy

(n=55)
Đinh gần ổ
gãy
(n=54)
Kết quả
nắn chỉnh
khi mổ
SL TL (%) SL

TL (%)
a. Man - Whitney test
3.1.2.7. Kết quả về thời gian liền xương và lấy khung
Trong nghiên cứu chúng tôi xác định thời gian liền xương là thời
gian lấy khung

Bảng 3.19. Thời gian liền xương trung bình của nhóm nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu
Thời gian liền xương
trung bình (ngày)
TB ± SD (Min – Max)
p
Đặt đinh xa ổ gãy (n=54)* 90,4 ± 10,4 (70-126)
Đặt đinh gần ổ gãy (n=54) 86,9 ± 7,4 (70 – 112)
Chung 88,6 ± 9,1 (70 – 126)
0,047
a*
Bệnh nhân số 14 tử vong sau 2 tuần sau mổ nên chỉ còn 54
trường hợp
a. Mann - Whitney test

3.1.2.9. Kết quả về phục hồi cơ năng
Theo dõi phục hồi chức năng tại hai thời điểm 6 tháng và 1 năm,
chúng tôi có kết quả theo tiêu chuẩn của Kyle RF như sau:

13

Tổng
p-
value
s
Rất tốt 26 (52,0%) 37 (71,2%)
63
(61,8%)
0,046
6
Tốt 9 (18,0%) 10 (19,2%)
19
(18,6%)
0,87
Trung bình 10 (20,0%) 3 (5,8%)
13
(12,8%)
0,031
Xấu 5 (10,0%) 2 (3,8%) 7 (6,8%) 0,402
p, χ2 p = 0,072 χ2 = 6,99

* Có 4 Bệnh nhân không đánh giá được là 14 (tử vong sau 2 tuần),
16 (tử vong sau 5 tháng), 74 (tử vong sau 5 tháng), 76 (tử vong sau
6 tháng).
** Thêm 3 bệnh nhân không đánh giá được: 28 và 32 (gãy lại cổ
xương đùi tháng thứ 7), 35 (gãy lại cổ xương đùi tháng thứ 8). Tất cả
các bệnh nhân gãy lại đều do ngã.
14
Nhận xét:
Bảng trên cho thấy, tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng, tỷ lệ phục
hồi chức năng đạt kết quả rất tốt ở nhóm đặt đinh gần ổ gãy cao hơn

Đinh xa ổ gãy
(n=54)
Đinh gần ổ gãy
(n=54)
Tổng

Mức độ ngắn
TB
9 (16,7%)
13,09 ± 4,9
3 (5,6%)
16,7 ± 5,8
12
(11,1%)
0,411
a

Không 45 (83,3%) 51 (94,4%)
96
(88,9%)
p, χ2 P = 0,062 χ2 = 3,375
a. Mann – Whitney test

3.2.6. Tình trạng chân đinh
Thời điểm tháng đầu sau mổ, không có chân đinh nào bị nhiễm
trùng. Thời điểm sau mổ 1 tháng, có 8 đinh (5 đinh 1 và 3 đinh 2/5
BN, chiếm 4,6%) bị nhiễm trùng chiếm tỷ lệ 1,9% (8/432 chân
đinh). Thời điểm sau mổ 2 tháng, không có đinh nào bị nhiễm
trùng. Thời điểm lấy khung, chỉ có 1 chân đinh bị nhiễm trùng trên
tổng số 432 chân đinh (1/108 bệnh nhân, chiếm 0,9%) chiếm tỷ lệ

4.1.2.1. Kết quả nắn chỉnh
Mặc dù Baumgaertner và cộng sự (1995) đã đưa ra tiêu chuẩn để
đánh giá kết quả nắn chỉnh xương, nhưng các tác giả nghiên cứu về
phương pháp CĐN trong điều trị gãy LMC chưa đưa ra số liệu nào
cụ thể trong quá trình nắn chỉnh. Theo Baumgaertner, trong nhóm
nghiên cứu 198 TH phẫu thuật KHX bên trong điều trị gãy vùng liên
mấu chuyển, có mức độ nắn chỉnh như sau: Tốt: 45,9%, chấp nhận:
39,3% và xấu là 14,6%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, từng trường hợp nắn chỉnh trên
bàn kéo xương được ghi nhận kết quả qua màn hình tăng sáng (C-
Arm) và phân tích. Kết quả nắn chỉnh cho hiệu quả nắn xương tốt có
85 trường hợp (77,9%), ở mức độ chấp nhận có 19 trường hợp
(17,5%), xấu có 5 trường hợp (4,6%) (bảng 3.11). Như vậy so với
Baumgaertner, chúng tôi có kết quả nắn chỉnh tốt hơn, có thể do
chúng tôi nắn kín sẽ dễ dàng hơn so với mở ổ gãy trong nghiên cứu
17
của Baumgaertner. Kết quả này phụ thuộc rất nhiều đến thời điểm
phẫu thuật, những trường hợp được phẫu thuật sớm, việc nắn chỉnh
dễ dàng và đa số cho kết quả tốt. Còn những trường hợp phẫu thuật
muộn, đặc biệt sau 10 ngày, thường khó khăn trong nắn chỉnh và cho
kết quả xấu.
Về kết quả nắn xương, ở nhóm đặt đinh gần ổ gãy có kết quả nắn
xương tốt cao hơn nhóm đặt đinh xa ổ gãy, tuy nhiên sự khác biệt là
không có ý nghĩa thống kê, nhưng điều này có thể chứng minh cho
việc nếu thời điểm phẫu thuật càng kéo dài thì kết quả nắn chỉnh
càng xấu đi và ngược lại nếu được phẫu thuật sớm thì kết quả nắn
chỉnh tốt hơn.
4.1.2.3. Thời gian phẫu thuật
Ưu điểm đầu tiên của phương pháp CĐN có thể kể đến là thời
gian PT ngắn hơn so với các phương pháp khác, do kỹ thuật nắn

phương pháp có những kỹ thuật đơn giản và dễ thực hiện, phẫu thuật
viên chấn thương chỉnh hình hay ngoại tổng quát có tay nghề và kinh
nghiệm là có thể thực hiện được.
4.1.2.7. Cơ năng khớp gối
Vấn đề tập vận động khớp gối được quan tâm đầu tiên khi bắt
đầu tập PHCN, trong nghiên cứu của chúng tôi tầm hoạt động khớp
gối ở thời điểm ngay những ngày sau mổ là 31,8
0
, ở thời điểm 1
tháng là 65,3
0
, thời điểm lấy khung sau 3 tháng là 95,9
0
và ở thời
điểm 06 tháng sau mổ là 128,8
0
(bảng 3.18). Như vậy có sự cải thiện
rất rõ khả năng gập gối ở từng thời điểm và phục hồi cơ năng khớp
gối hoàn toàn sau 6 tháng. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu
của các tác giả nước ngoài như Anil Dhal (1991) hay Barros JW
(1995) đều cho thấy trong thời gian mang khung CĐN, khả năng gập
gối chỉ ở mức độ từ 20
0
đến 120
0
, chỉ sau khi lấy khung gối mới có
thể gập hoàn toàn. Nhưng khả năng gập gối ở 2 nhóm nghiên cứu có
sự khác biệt rõ, ở thời điểm ngay sau mổ nhóm đinh xa ổ gãy chỉ gập
gối trung bình là 12,5
0

khung. Do đó thời gian lấy khung cũng là thời gian liền xương.
Các tác giả nghiên cứu ở nhóm KHX bằng khung CĐN cũng
cho kết quả liền xương rất tốt, đạt tỷ lệ 100% liền xương và thời
gian liền xương trung bình từ 12 đến 16 tuần như: Yilmaz Tomak
(2005) 12 tuần (sớm nhất là 10 tuần và muộn nhất là 18 tuần),
Nikolaos Kourtzis (2001) 13,91 tuần; Verkis (2011) 14 tuần;
Anil Dhal (1991) 16 tuần.
Nghiên cứu của chúng tôi có thời gian liền xương trung bình là
88,6 ngày (ngắn nhất là 70 ngày tương đương khoảng 10 tuần, thời
gian dài nhất là 126 ngày tương đương 18 tuần), cũng tương đương
kết quả của các tác giả khác (bảng 3.21). Thời gian mang khung của
nhóm đặt đinh gần ổ gãy ngắn hơn có ý ghĩa thống kê so với nhóm
đặt đinh xa ổ gãy. Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
(bảng 3.20).
Thông thường chúng tôi lấy khung khi đạt được liền xương trên
lâm sàng và phim X quang. Vấn đề này cũng được các tác giả nước
ngoài đồng tình như I.C. Vossinakis, L.S. Badras và cộng sự, Yilmaz
Tomak và cộng sự (2005).
4.1.2.9. Kết quả phục hồi chức năng
Chúng tôi theo dõi kết quả PHCN tại 2 thời điểm 06 tháng và 01
năm thấy có sự cải thiện rõ nét về mặt chức năng vận động giữa hai
thời điểm 06 tháng và 01 năm. Trong 06 tháng đầu có 3 trường hợp
20
tử vong, Sau 6 tháng có thêm 01 TH tử vong và 03 trường hợp gãy
cổ xương đùi do trượt té chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu. Như vậy
sau 01 năm, còn lại 102 trường hợp cho kết quả PHCN rất tốt là 63
(61,8%), tốt là 19 trường hợp (18,6%), trung bình là 13 trường hợp
(12,8%) và xấu là 07 trường hợp (6,8%). Kết quả phục hồi cơ năng ở
thời điểm 06 tháng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 02 nhóm
nghiên cứu (p = 0,003), nhưng thời điểm 12 tháng, kết quả phục hồi

trường hợp ngắn chi dưới 2 cm, 9/ 154 (5,84%) trường hợp ngắn chi
trên 2 cm, tất cả đều do góc cổ thân bị khép. Tác giả E. Alcivar
(2001) có ngắn chi trung bình là 1,5 cm. So sánh với các tác giả trên,
mức độ ngắn chi trong nghiên cứu của chúng tôi là ít hơn và dễ chấp
nhận hơn.
Biến dạng về góc cổ thân xét ở 03 thời điểm (sau mổ, thời điểm
lấy khung và thời điểm 06 tháng sau mổ), ngay thời điểm sau mổ cho
thấy ở nhóm đinh xa ổ gãy có tỷ lệ góc cổ thân nhỏ hơn 125
0
nhiều
hơn nhóm gần ổ gãy. Thời điểm 06 tháng có 10 TH góc cổ thân dưới
125
0
(9,4%) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 02 nhóm
nghiên cứu (p = 0,034. Khép góc cổ thân đi kèm với ngắn chi, so với
14% khép góc cổ thân của Kourtzis thì tỷ lệ 9,4% của chúng tôi là
chấp nhận được.
Đánh giá về biến chứng mất máu, chỉ có 1 trường hợp phải
truyền máu trong mổ là do có rối loạn đông máu, 6 trường hợp còn
lại là do thiếu máu trước mổ (thiếu máu mãn tuổi già tăng nặng thêm
do có gãy xương), những trường hợp này đều được truyền máu trước
mổ, không liên quan đến mất máu trong và sau mổ. Như vậy có thể
khẳng định tất cả các trường hợp chúng tôi đặt khung CĐN đều
không mất máu đến mức cần truyền máu. Kết quả của chúng tôi cũng
phù hợp với các tác giả trên thế giới, quá trình can thiệp chỉ là xuyên
04 đinh Schanz vào xương đùi cho nên sự mất máu trong lúc mổ là
không đáng kể, vì vậy việc phải truyền máu là không cần thiết, vấn
đề này được đa số tác giả đồng tình là ưu điểm lớn nhất của phương
pháp CĐN.
4.2.3. Tình trạng chân đinh

có trong nghiên cứu của chúng tôi.

KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu điều trị cho 109 NB gãy LMCXĐ bằng hình
thức nắn kín, CĐN với 02 điểm đặt đinh xa và gần ổ gãy, tại Bệnh
viện Chấn Thương Chỉnh Hình, Bệnh viện Quân Dân Miền Đông,
Bệnh viện Cấp Cứu Sài Gòn và Bệnh viện 7B trong thời gian từ
tháng 10/2005 đến tháng 10/2012, thời gian theo dõi sau PT 01 năm,
chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status