Thực trạng phát triển ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam - Pdf 24

Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Lời nói đầu
*
Tính cấp thiết của đề tài: Từ thực trạng này, đề tài muốn đa ra giải pháp để
phát triển ngành công nghiệp chế tạo ô tô phục vụ cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, đẩy mạnh quá trình hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới.
Đồng thời đa ra đợc phơng hớng phát triển của ngành trong thời gian tới tơng xứng với
tầm vóc của ngành công nghiệp chủ đạo của đất nớc trong thế kỷ 21.
Ngành công nghiệp chế tạo ô tô là ngành công nghiệp chủ yếu của hầu hết các
quốc gia. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo ô tô sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự
phát triển của nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Việt Nam với dân số 80 triệu ng-
ời và là một trong những quốc gia có mức tăng trởng kinh tế ổn định, đợc đánh giá là
thị trờng tiêu thụ ô tô đầy tiềm năng trong khu vực Đông Nam á. Đây chính là tiền đề
vững chắc cho sự phát triển của ngành công nghiệp này trong tơng lai.
Chúng ta bắt đầu có cái nhìn đúng đắn hơn về ngành công nghiệp chế tạo ô tô từ
đầu năm 1991. Điều này thể hiện bằng việc trong một thời gian ngắn đã có 12 liên
doanh lắp ráp sản xuất ô tô đợc cấp giấy phép và đi vào hoạt động. Song, sau hơn 10
năm nhìn lại, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận một thực tế là hoạt động công nghiệp
chế tạo ô tô của Việt Nam vẫn ở điểm xuất phát.
Đối tợng, phạm vi nghiên cứu: Khoá luận tập trung nghiên cứu vai trò, sự
hình thành và phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, những khó khăn tồn tại,
đồng thời tham khảo kinh nghiệm phát triển công nghiệp ô tô của một số nớc trong khu
vực và trên thế giới.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
1
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Phơng pháp nghiên cứu: Khoá luận sử dụng phơng pháp phân tích tổng hợp,
kết hợp với việc sử dụng có chọn lọc các số liệu thống kê từ báo chí, Internet để làm
sáng tỏ vấn đề.
Mục tiêu: Qua nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn của ngành công nghiệp
ô tô Việt Nam, khoá luận đã đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát

đã thực sự trở thành phơng tiện mang tính thực dụng. Nhng thời đó, ô tô vẫn bị coi là
những cỗ máy thô kệch, là nỗi kinh hoàng của ngời đi đờng và nó không thể sánh đợc
với những cỗ xe ngựa sang trọng.
Gần 10 năm sau, năm 1892, tại một cuộc triển lãm ở Chicago (Mỹ) đã xuất hiện một
chiếc ô tô chạy bằng động cơ đốt trong, có bốn bánh và hàng loạt tính năng kỹ thuật
mới nh hệ thống đánh lửa bằng điện, bộ bơm dầu tự động. Phát minh này là của ông
Iacốplép, một kỹ s cơ khí quân đội Nga, và nó đã đợc thử nghiệm thành công. Chiếc xe
có thể chạy với tốc độ 20 km/h. Ngay sau đó, Nga hoàng đã ban sắc lệnh về quy chế và
các điều kiện để sử dụng các loại xe có dộng cơ tự vận hành ở nớc Nga. Điều đó có
nghĩa là xe ô tô, bằng hiệu quả thực tế của nó, đã trở thành loại phơng tiện của giai cấp
đặc quyền và những ngời giàu có. Đa số các nhà sản xuất ô tô thời kỳ đó đều muốn làm
sao sản xuất ra đợc nhiều xe có chất lợng cao mà giá thành thấp. Mục tiêu đó đã đợc
thực hiện và một kỷ nguyên mới của ô tô bắt đầu: Sản xuất dây chuyền và ô tô nhân
dân.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
3
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Bắt đầu từ nớc Đức, dấu hiệu đầu tiên của việc sản xuất những chiếc ô tô đặc biệt là ô
tô dành cho một ngờivà ngời sản xuất ra loại ô tô này là ông Damler Benz. Những
chiếc xe này có tên là Mano, đợc bán với giá mà với số tiền này vào thời đó ngời ta có
thể mua đợc một đàn ngựa và thuê rất nhiều ngời làm. Nh vậy, loại xe này là quá đắt
đối với giới bình dân, cho nên nó chỉ đợc sản xuất ít nhng với giá thành cao và đó cũng
là một cách để các nhà sản xuất ô tô làm giàu, còn việc sản xuất thật nhiều với giá thật
rẻ vẫn là điều khó khăn.
Vào năm 1902 ở Pháp, ô tô Popula ra đời, ngời ta gọi là xe nhân dân. Đây mới chỉ
là tên gọi, phải ba năm sau xe Popula mới thực sự đi vào đời sống của tầng lớp bình
dân. ở Mỹ, có một nhà sản xuất tên là Ranson Onsu cũng quan tâm đến việc sản xuất
những chiêc ô tô dành cho quần chúng và hàng năm đã có khoảng từ 3.000 dến 4.000
chiếc xe mang nhãn hiệu Onsu đợc tung ra thị trờng. Nhằm mục đích quảng cáo, hãng
này cho phép mọi ngời vào tham quan nhà máy của họ. Trong số những ngời tham

mạnh, mỗi ngày bình quân có khoảng vài trăm chiếc ô tô đợc xuất xởng và mỗi năm lại
có một kiểu ô tô mới ra đời.
Trở lại trớc chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở Texas miền Tây Nam nớc Mỹ khi
những mỏ dầu đợc khai thác với quy mô lớn làm giá xăng dầu giảm mạnh thì lợng xe
hơi ngày càng tăng lên và dần tiến vào xã hội. Lúc này quy trình sản xuất xe hơi đã trở
nên u việt, nớc Mỹ đã biến thành xã hội phát triển với đủ loại xe hơi. Trong những năm
từ 1939 đến 1945 chiến tranh thế giới nổ ra thì những nhà máy ô tô đợc biến thành nơi
sản xuất quân trang hoặc chế tạo vũ khí. Sau chiến tranh, ngành công nghiệp ô tô lại
một lần nữa lên ngôi. Kỹ thuật cơ bản về sản xuất ô tô đã đợc hoàn thiện hơn, xe hơi
của Mỹ đã cạnh tranh mạnh mẽ với các loại xe khác nhờ trong xe có điều hoà nhiệt độ
và kèm theo hàng loạt chức năng khác. Những kỹ thuật lắp ráp xe hơi bắt đầu phát triển
cao không cần đến sự can thiệp của con ngời, ô tô đợc sản xuất hàng loạt.
Cùng thời gian đó, Nhật Bản, một nớc bại trận nhng đã phát triển kinh tế với một
tiềm lực phi thờng. Ngời Nhật Bản sang Mỹ để học kinh nghiệm chế tạo ô tô và họ đã
thành công, trở thành một trong những nớc có ngành công nghiệp ô tô phát triển nhất
thế giới.
Ngày nay, sản xuất ô tô đã trở thành một ngành công nghiệp chủ yếu của thế giới.
Công nghiệp ô tô đợc đánh giá là bộ mặt cho nền công nghiệp mỗi quốc gia. Tổng số ô
tô trên thế giới hiện nay khoảng 660 triệu xe. Số lợng này hầu nh không tăng giảm
trong nhiều năm gần đây và sản lợng ô tô thế giới gần nh ổn định quanh con số khoảng
50 -52 triệu xe/năm, tập trung vào 3 trung tâm công nghiệp lớn là Bắc Mỹ, Tây Âu và
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
5
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Nhật Bản. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Đông Nam á và Châu á cũng đang
nổi lên và có xu hớng là một trung tâm công nghiệp ô tô của thế giới trong tơng lai
(đáng kể là Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc). Các hãng sản xuất ô tô hàng đầu thế
giới hiện nay là: TOYOTA, FORD, CHRYSLER, GM, VW, FIAT, NISSAN,
MISUBISHI, PEUGEOT,
Theo tạp chí ô tô xe máy, năm 2000 ở Mỹ, quốc gia giàu có nhất thế giới, cứ 1,3 ng-

phẩm. Khi công nghiệp ô tô phát triển, xuất hiện nhiều chi tiết vợt quá khả năng thao
tác của con ngời, yêu cầu phải có sự trợ giúp của máy móc kỹ thuật. Máy móc kỹ thuật
càng hiện đại càng giảm bớt sự nặng nhọc và nguy hiểm; nhng điều quan trọng hơn là
dới sự điều khiển của con ngời, những máy móc hiện đại có thể chế tạo và lắp ráp các chi
tiết thành sản phẩm cuối cùng với xác suất sai sót không đáng kể.
2.3. Về lao động
Hiện nay, ngành sản xuất ô tô không còn sử dụng một số lợng lớn lao động nh thời
kỳ trớc và nh một số ngành sản xuất vật chất khác (lơng thực, dệt may, khai khoáng, )
do đã áp dụng nhiều tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Trong phần lớn các nhà máy lắp
ráp ô tô trên thế giới, ngời ta ít thấy bóng dáng con ngời, công việc sản xuất đều do các
rôbôt đảm nhận, con ngời chỉ điều khiển máy móc chính. Do vậy, số lợng lao động làm
việc trong ngành không cao. Thêm vào đó, để có thể sử dụng thành thạo các máy móc
hiện đại, những ngời công nhân phải có tay nghề cao, đợc đào tạo bài bản, đòi hỏi có
chi phí lớn và thời gian dài cho đào tạo. Mặc dù u thế của các nớc đang phát triển là có
nguồn nhân công dồi dào với tiền công thấp nhng hạn chế lớn trong u thế này lại là
chất lợng nguồn lao động không cao.
Vì vậy, có thể khẳng định ngành không tận dụng đợc nhiều lợi thế so sánh về nguồn
lao động của các nớc đang phát triển (dồi dào về số lợng, chi phí nhân công thấp).
Thêm vào đó có thể thấy đợc đây là một khó khăn lớn cho các nớc đang phát triển
trong quá trình xây dựng và phát triển ngành công nghiệp ô tô bởi đây là một ngành
khá mới mẻ, kiến thức nghề nghiệp và kinh nghiệm của ngời công nhân còn non.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
7
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
3. Vai trò của ngành công nghiệp ô tô
Bên cạnh vai trò cung cấp phơng tiện đi lại tối u, từ việc gắn chặt với các tiến bộ
khoa học kỹ thuật, công nghiệp ô tô còn đóng vai trò thúc đẩy phát triển khoa học kỹ
thuật của các quốc gia có ngành sản xuất ô tô, đặc biệt là khoa học điện tử, tự động
hoá, công nghệ vật liệu mới. Sở dĩ nh vậy là do nguồn gốc xuất xứ của các sản phẩm ô
tô là từ các nớc công nghiệp phát triển. Đứng trớc nhu cầu ngày càng cao của các

khoảng 21%. Ngành công nghiệp ô tô cũng là ngành công nghiệp tiếp cận nhanh nhất
và sớm nhất các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, từ công nghệ tin học, điều
khiển học, đến ngành vật liệu mới, tự động hoá sản xuất thông qua hệ thống máy móc
hiện đại.
Bảng 1: Sản lợng ô tô trên toàn thế giới theo các năm
(Đơn vị tính: triệu chiếc)
Năm
Khu vc
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tây Âu 15,114 15,781 16,169 16,975 18,111 17,017 16,840
Bắc Mỹ 15,755 15,264 15,392 15,786 15,801 17,538 17,810
Nhật Bản 10,554 10,197 10,346 10,976 10,086 9,895 10,145
Châu á(trừ
Nhật Bản) 5,465 6,317 7,121 6,476 5,439 6,870 6,759
Đông Âu 1,890 2,000 2,084 2,381 2,453 2,412 2,762
Các khu
Vực khác 2,720 2,750 3,021 3,481 3,107 2,672 4,125
Tổng 51,498 52,309 54,133 56,075 54,997 56,404 58,441
Nguồn:Economist Intelligence Unit (EIU-Tổ chức trí tuệ kinh tế học) 12/2006.
(1):Buôn bán ô tô toàn cầu giảm mạnh- Thời báo kinh tế ngày 7/9/2006
Đến nay, sản phẩm ô tô là một sản phẩm mang tính quốc tế. Các quốc gia đảm
nhận chế tạo các phần khác nhau của ô tô rồi lắp ráp thành phẩm. Các nớc đang phát
triển cũng đã tính đến việc xây dựng một ngành công nghiệp ô tô cho riêng mình. Các
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
9
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
nớc phơng Tây, Mỹ không còn độc chiếm nguồn cung cấp ô tô cho toàn thế giới nữa.
Trên thế giới đã có 89 quốc gia có dây chuyền sản xuất và lắp ráp ô tô.
Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô thế giới đợc đánh dấu bằng cuộc chiến
tranh xe hơi Nhật, Mỹ. Cho đến thập kỷ 90, số lợng xe hơi Nhật Bản ở Mỹ chiếm hơn

Các nhân tố ảnh hởng đến tình hình sản xuất và tiêu thụ ô tô trên thế giới trong
những năm qua:
*Sự phát triển của các nền kinh tế:
Các khu vực có sản lợng ô tô sản xuất ra lớn đều là những khu vực có nền kinh
tế phát triển trên thế giới. Qua các bảng số liệu trên chúng ta dễ dàng nhận ra đó là các
cờng quốc nh Mỹ, Nhật Bản, các nớc Tây Âu Đây là các quốc gia và khu vực mà nền
kinh tế của họ có sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp ô tô. Với các nớc này,
ngành công nghiệp ô tô là bộ mặt của ngành công nghiệp nói chung. Bởi lẽ ngành công
nghiệp ô tô là khách hàng của hầu hết các ngành công nghiệp khác, một ngành sản
xuất thu hút đợc lực lợng lao động khổng lồ.
Mặt khác, tại các quốc gia này, ngời ta luôn cố gắng tạo ra một môi trờng cạnh
tranh lành mạnh, sự công bằng cho các nhà sản xuất. Điều này giúp các nhà sản xuất
yên tâm, khuyến khích họ kinh doanh đúng luật, tạo ra các sản phẩm mới ngày càng
tân tiến phục vụ cho nhu cầu ngày càng đa dạng của con ngời.
*Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ:
Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô cần thiết phải có sự phát triển tơng
xứng của các ngành công nghiệp phụ trợ nh ngành công nghiệp cơ khí, ngành công
nghiệp hoá chất, ngành điện tử
Sự phát triển của các ngành này là hậu thuẫn để ngành công nghiệp ô tô luôn sử
dụng các sản phẩm có chất lợng tốt, kỹ thuật tiên tiến hiện đại. ở đây chúng ta có thể
thấy khi ngành công nghiệp ô tô phát triển, nó tác động các ngành công nghiệp phụ trợ
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
11
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
khác phát triển theo và ngợc lại, các ngành sản xuất đó sẽ nghiên cứu để tạo ra các sản
phẩm phục vụ ngành ô tô.
* Chính sách Nhà nớc
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, chính sách của Nhà nớc là nhân tố vô cùng
quan trọng ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế. Nhà
nớc có thể điều tiết cung cầu thông qua các chính sách về thuế, hạn ngạch. Vì vậy, để

Một điểm rất đáng chú ý là sự bảo hộ rất cao của chính phủ đối với ngành công
nghiệp ô tô trong nớc. Malaysia áp dụng thuế suất nhập khẩu rất cao đối với xe nhập
khẩu nguyên chiếc(CBU): từ 140% đến 300%; xe nhập dới dạng CKD: từ 42% đến
80%. Do sự bảo hộ này mà Proton đã trở thành nhãn hiệu ô tô số một tại thị trờng
Malaysia và cả tại thị trờng các nớc ASEAN. Xe Proton và Perodua gần nh độc chiếm
thị trờng ô tô Malaysia (đến 90% thị phần), chỉ còn lại 10% thị phần chia cho 25 nhà
sản xuất khác tại nớc này. (3)
Từ tháng 7 năm 1998, Malaysia bắt đầu triển khai chơng trình chế tạo xe tải
nhẹ(van) quốc gia mang tên Inokom Permas dựa trên mẫu xe Renault do một liên
doanh chế tạo trong đó phía Malaysia nắm 68% vốn. Sản lợng ô tô quốc gia của
Malaysia hiện nay rất lớn so với các nớc trong khu vực Đông Nam á.
Bảng 3 :Sản lợng ô tô sản xuất trong nớc của Malaysia qua các năm
Năm Sản lợng Tốc độ tăng(%)
2004 126.400 100
2005 250.620 198
2006 253.900 101
Nguồn: Báo Sài Gòn tiếp thị số ra ngày 22-1-2007.
(3)Kinh nghiệm xây dựng phát triển ngành công nghiệp ô tô ở một số nớc Châu á-
Báo Sài Gòn tiếp thị ngày 22/05/2002
Cho đến thời điểm hiện tại, Chính phủ Malaysia vẫn tiếp tục ủng hộ việc bảo hộ
cho ngành công nghiệp ô tô của mình bắng cách quyết định trì hoãn 2 năm cha áp
dụng việc giảm thuế suất theo lộ trình thực thi các qui định của AFTA.
Nh vậy, từ sự thành công của ngành công nghiệp ô tô Malaysia, chúng ta nhận
thấy họ đã có ý thức rất sớm về tầm quan trọng của ngành công nghiệp và có sự đầu t
đúng hớng. Chính phủ Malaysia đã có sự hỗ trợ rất tích cực bằng cách tạo ra sự bảo hộ
hợp lý, xây dựng chiến lợc phát triển quốc gia có tính khả thi và trải qua các giai đoạn
khác nhau. Vai trò của chính phủ trong sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô của
quốc gia này đã để lại một dấu ấn rất đáng chú ý, đáng để chúng ta học tập.
5.2. Thái Lan:
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT


Mặc dù ra đời sau hàng chục năm so với Nhật Bản nhng ngành công nghiệp
ô tô Hàn Quốc đã có những bớc phát triển mạnh mẽ và ngoạn mục. Với 20 năm, từ con
số không, Hàn Quốc đã xuất khẩu hàng loạt ô tô với chất lợng cao cạnh tranh với cả xe
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
14
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Nhật. Hàn Quốc xây dựng một chiến lợc với các giai đoạn 5 năm một và trên thực tế đã
đạt đợc kết quả rất khả quan. 5 năm đầu (1962-1966): lắp ráp xe dạng SKD. 5 năm sau
đã chuyển sang lắp ráp CKD ở quy mô lớn (1967-1971). 5 năm tiếp theo phát triển
kiểu xe riêng của Hàn Quốc (1972-1976). Năm 1977-1981, Chính phủ cho xây dựng
cơ sở sản xuất loại lớn, cho phép 2 công ty sản xuất xe du lịch, một công ty sản xuất xe
thơng dụng với sự hạn chế về số kiểu. Nhà máy mới không đợc phép thành lập. 1982-
1986, lợng xe xuất khẩu tăng nhanh (từ 100.000-700.000 chiếc/năm), với tay sang cả
thị trờng Mỹ. Đến giai đoạn 1987-nay, ô tô đợc sử dụng phổ biến trong dân chúng và
đợc xuất khẩu với số lợng lớn. Lúc này, Chính phủ bỏ hạn chế số lợng nhà sản xuất và
số lợng kiểu xe.
Với 20 năm xây dựng và phát triển, Hàn Quốc đã xuất khẩu hàng loạt ô tô có
chất lợng cao cạnh tranh với cả xe hơi của Nhật Bản và Mỹ. Hàn Quốc xây dựng hẳn
một chiến lợc với các giai đoạn 5 năm một và trên thực tế đã đạt đợc kết quả rất khả
quan. 5 năm đầu, từ năm 1962 đến năm 1966, họ lắp ráp xe dạng SKD. 5 năm sau, từ
năm 1967 đến năm 1971 đã chuyển sang lắp ráp xe dạng CKD ở qui mô lớn. 5 năm
tiếp theo, năm 1977 đến năm 1981, chính phủ cho xây dựng cơ sở sản xuất xe loại lớn,
cho phép 2 công ty sản xuất xe du lịch, 1 công ty sản xuất xe thơng dụng với sự hạn
chế về số kiểu. (5)
(4),(5) Kinh nghiệm xây dựng phát triển ngành công nghiệp ô tô ở một số nớc
Châu á-Báo Sài Gòn tiếp thị ngày 22/05/2002
Từ năm 1982 đến năm 1986, lợng xe xuất khẩu của Hàn Quốc tăng nhanh, từ
100.000 chiếc/năm lên 700.000 chiếc/năm, với tay sang cả thị trờng Mỹ. Từ năm 1987,
ô tô đợc sử dụng phổ biến trong dân chúng, lúc này Chính phủ Hàn Quốc huỷ bỏ hạn

mắt là cung cấp cho thị trờng nội địa, về lâu dài chúng ta sẽ hớng tới xuất khẩu cung
cấp cho thị trờng các nớc ASEAN Đồng thời chúng ta cũng sẽ sản xuất các loại xe
phổ thông phù hợp với trình độ sản xuất của ngành công nghiệp hiện nay, từ đó từng b-
ớc đầu t để có thể sản xuất các loại xe ở mức cao hơn.
Nếu chúng ta muốn tập trung vào mục tiêu cung cấp phụ tùng và các loại xe
hoàn chỉnh cho thị trờng nội địa cũng nh thị trờng các nớc trong khu vực thì trong vòng
20 năm tới, chúng ta phải phát triển ngành ô tô với những sản phẩm đợc thị trờng quốc
tế chấp nhận.
Mục tiêu này chỉ có thể đạt đợc với sự phát triển hợp lí của ngành công nghiệp
phụ tùng ô tô. Dựa trên kinh nghiệm phát triển công nghiệp ô tô của các nớc khác, yếu
tố chúng ta cần hiện nay là phải tạo ra sự cạnh tranh hợp lí trong nớc : đó là không quá
ít sự cạnh tranh để cho một vài công ty có thể chiếm độc quyền trong việc sản xuất ô
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
16
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
tô, cũng nh không quá nhiều sự cạnh tranh để cho một số lớn các nhà sản xuất ô tô phải
chen chúc nhau trong một sân chơi để cố giành giật đợc một thị phần ít ỏi.
Tơng tự nh vậy, việc sản xuất phụ tùng ô tô cần phải tận dụng đợc nội lực và thế
mạnh trong nớc. Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào và chất lợng ngày càng đợc nâng
cao, chi phí thấp. Đó là một tiềm năng to lớn cho chúng ta phát triển sản xuất các loại
phụ tùng cần nhiều sức lao động.
Chúng ta cũng có thể thu đợc ngoại tệ bằng cách xuất khẩu các loại phụ tùng
này. Chúng ta cũng có thể thúc đẩy xuất khẩu phụ tùng nhờ tận dụng lợi thế của hiệp
định CEPT. Qui mô sản xuất kinh tế khó thể đạt đợc nhờ các hoạt động xuất khẩu phụ
tùng.
Tuy nhiên, với qui mô hiện nay của thị trờng trong nớc, chúng ta khó có thể thúc
ép các nhà sản xuất ô tô Việt Nam tiến hành sản xuất phụ tùng trong nớc bằng cách áp
dụng những luật lệ khắt khe với tỉ lệ nội địa hoá giống nh các nớc ASEAN đã từng áp
dụng trớc đây, các luật lệ này bao gồm các khoản phạt sẽ dẫn đến việc sản xuất các
loại xe với giá thành cao gây cản trở nghiêm trọng cho sự phát triển của ngành công

doanh và doanh nghiệp trong nớc tham gia vào ngành ô tô hiện chỉ mới dừng lại ở dạng
lắp ráp CKD. Theo quy định của Chính phủ, các nhà sản xuất ô tô trong nớc phải đảm
bảo đợc tỷ lệ nội địa hoá. Đây là quy định rất đúng dắn, hợp lý, nhng để thực hiện
không phải dễ.
Cả nớc hiện nay mới có khoảng 60 công ty sản xuất linh kiện thì không thể nào đáp
ứng đợc nhu cầu trên 200 ngàn chi tiết của một chiếc ô tô xuất xởng, ở Thái lan có 15
hãng sản xuất ô tô với 17 nhà máy lắp ráp ô tô trong khi đó có đến 709 công ty lớn và
1.100 công ty vừa và nhỏ cung cấp linh kiện. Trung Quốc có 125 nhà máy lắp ráp ô tô
của hơn 60 Tập đoàn, công ty nhng có gần 5.000 nhà cung ứng linh kiện phụ tùng ô tô .
Bởi thế, hơn 13 năm qua, các liên doanh cũng nh một số doanh nghiệp trong nớc hầu
nh chỉ hoạt động ở mức 10 30% công suất thiết kế và dĩ nhiên lại phải phụ thuộc
vào linh kiện nhập khẩu. Sở dĩ họ không mặn mà sản xuất linh kiện là vì ngành công
nghiệp sản xuất ô tô trong nớc cha đủ mạnh để đáp ứng thị trờng linh kiện. Vừa có tín
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
18
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
hiệu mừng sẽ phát triển đợc nhiều dự án đầu t, sản xuất ô tô, thì bất ngờ trong số này
có không ít đơn vị đã lạng lách để đợc phê duyệt rồi chỉ đơn thuần lắp ráp bán lấy
lãi, không tuân thủ quy định nội địa hoá cũng nh các tiêu chuẩn theo Quy định
115/2004/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp.
Có thể nói, muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô, ngoài việc cơ chế chính sách
nhà nớc phải hợp lý, hậu kiểm và xử lý triệt để các đơn vị làm ăn chụp giựt, vấn đề
cơ bản là các doanh nghiệp phải có cái tâm thì mới cùng đa ngành công nghiệp ô tô
trong nớc đi lên đợc.
2.Mục Tiêu :
Mục tiêu chủ yếu là góp phần xây dựng nghành công nghiệp ô tô Việt Nam trở
thành một ngành rất quan trọng vào năm 2020. Các mục tiêu định lợng đợc trình bày
sơ qua nh sau:
Bảng 4. Dự kiến sản lợng ô tô các loại đến năm 2120
(Đơn vị : Số xe)

10% giá trị tổng sản lợng của ngành vào năm 2010. Trong giai đoạn 2003- 2010, sản l-
ợng ô tô bổ sung đợc dự báo nh bảng dới đây.
Bảng 5: Cân đối năng lực, nhu cầu và bổ sung sản lợng ô tô đến năm 2010
(Đơn vị : Số xe)
Năng lực hiện
tại năm 2003
Sản lợng yêu cầu
năm 2010
(dự báo)
Sản lợng cần bổ sung
năm 2010
Xe con
Xe đến 5 chỗ ngồi >100.000 60.000 Không cần đầu
t thêm
Xe 6-9 chỗ ngồi 4.000 10.000 6.000
Xe khách
10-16 chỗ ngồi - - 21.000 21.000
17-25 chỗ ngồi - - 5.000 5.000
26-46 chỗ ngồi 7.000 6.000 Không cần đầu
t thêm
> 46 chỗ ngồi 2.000 4.000 2.000
Xe tải
Đến 2 tấn 10.000 57.000 47.000
2-7 tấn 4.000 35.000 31.000
7-20 tấn - - 34.000 34.000
>20 tấn - - 1.000 1.000
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
20
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Xe chuyên dùng

nông nghiệp
Sản xuất, lắp ráp xe khách, xe tải trung và
nhỏ, động cơ, hộp số, cụm truyền động
Tổng công ty Than Việt Nam Sản xuất, lắp ráp xe tải hạng trung và
nặng, xe chuyên dùng và các thiết bị công
tác kèm theo.
Tổng công ty cơ khí giao thông vận tải
Sài Gòn
Sản xuất, lắp ráp xe khách, xe chuyên
dùng và một số loại phụ tùng ô tô.
Bộ công an và Bộ quốc phòng Sản xuất, lắp ráp ô tô có tính năng kỹ
thuật đáp ứng yêu cầu an ninh, quốc
phòng.
Nguồn : Trích dẫn từ Quyết định số 177/2004/QĐ-TTG về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020.
4. Tài chính và các chính sách hỗ trợ:
Theo bản quy hoạch này, tổng nhu cầu vốn đầu t để thực hiện quy hoạch trong giai
đoạn 2001 2010 khoảng 16.000 18.000 tỷ đồng (khoảng 1 1,1 tỷ đô la Mỹ) và
35.000 40.000 tỷ đồng (khoảng 2,2 2,5 tỷ đô la Mỹ) trong giai đoạn 2010
2020
4
. Chính phủ sẽ cung cấp tín dụng cho các dự án đợc Thủ tớng chính phủ phê
duyệt.
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
22
Thc trng v gii pháp phát triển của Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thế kỷ XXI
Bản chính sách hỗ trợ đợc nêu ra bao gồm : (i) chính sách thuế đối với ô tô và linh
kiện phụ tùng ô tô ; (ii) chính sách về thị trờng ; (iii) chính sách về đầu t ; (iv) chính
sách về khoa học và công nghệ ; (v) chính sách về nguồn nhân lực ; (vi) chính sách về
huy động vốn ; và (vii) chính sách về quản lý ngành. Nội dung chính của các chính

Bộ Kế hoạch và Đầu t Kêu gọi thu hút đầu t nớc ngoài, đặc biệt là
lĩnh vực sản xuất linh kiện, phụ tùng.
Bộ công an : Bộ Giao thông vận tải ;
các Uỷ ban nhân dân
Giới hạn số lợng ô tô đăng ký mới hàng năm
Hiệp hội các doanh nghiệp cơ khí Việt
Nam, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô
Việt Nam, Hiệp hội kỹ s ô tô Việt
Nam
Nâng cao tính hợp tác liên kết và tính
chuyên môn hoá trong ngành ; đề xuất chính
sách hỗ trợ theo đúng Chiến lợc Quy hoạch
đã đợc duyệt
Các doanh nghiệp đã đợc cấp có thẩm
quyền cho phép sản xuất các loại xe
chuyên dùng trên cơ sở khung gầm
động cơ (Chassis)
Đáp ứng các điều kiện quy đinh tại Quyết
định 177/2004/QĐ-TTG (thời hạn : Ngày
01/7/2005)
Nguồn : Trích dẫn từ Quyết định số 177/2004/QĐ - TTG về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020.
Chơng II : Thực trạng phát triển ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam.
I.Vai trò của ngành công nghiệp ô tô trong nền
kinh tế Việt Nam.
1.Ngành công nghiệp ô tô việt nam có vai trò quan trọng trong giao
thông đờng bộ
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
24

A.hành khách
Nghìn HK Triệu HK/KM
569.802,3 19.457,0 105,1 107,0
468.868,0 12.482,0 105,4 104,8
91.069,8 1.255,0 103,3 103,0
7.122,0 2.339,0 105,1 107,0
2.127,0 3.347,0 114,0 118,1
Đỗ Thế Bảo CN13D - HNT
25

Trích đoạn .Giảm dần các mức thuế nhập khẩu. .Cụ thể hoá các mức thuế CKD và IKD. Tự nghiên cứu phát triển các sản phẩm phục vụ cho chơng trình nội địa hoá. Hoàn thiện quy định dạng rời. Tăng cờng nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trờng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status