Tổng hợp 35 câu hỏi đáp án Triết học cao học - Pdf 24

Mục lục
Mục lục 1
Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi
mới nước ta hiện nay? 3
Câu 2. Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc
khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên
tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ? 6
Câu 3.Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, anh ( chị) hãy phân tích làm sáng tỏ luận
điểm sau đây của C. Má.c: 10
“ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật
chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật
chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 10
Câu 4. Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong
thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay 11
Câu 5. Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong
thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay 15
Câu 6: Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ
thể ? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay 18
Câu 7: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin;
Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 25
CÂU 8. Bằng lý luận và thực tiễn, Anh( chị) hãy chứng minh rằng: “ Trong mọi thời đại, những tư
tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng
vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội” 31
CÂU 9: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ
luận điểm sau đây của Lênin: 32
“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học . Một lý luận hết
sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong
các quan niệm về lịch sử và chính trị” 32
CÂU 10: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin: 41

nghĩa ở Việt Nam hiện nay? 68
Câu 25: Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng, cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ là một quá
trình khó khăn, lâu dài, phức tạp; cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng
cái cũ 72
Câu 26: Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về
sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều
đó đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự phát triển thêm” 73
Câu 27: Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn là quan điểm thứ nhất
và cơ bản của lý luận nhận thức” 75
Câu 28: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn? 76
2
Câu 29: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Vạch ra ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân
tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên”. Đảng
CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KT-XH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay? 78
Câu 31: Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người.
Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
hiện nay 80
Câu 32 :Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Sự vận dụng
mối quan hệ này trong công cuộc đổi mới ở nước ta? 82
Câu 33 : Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư
tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng
vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội” 84
Câu 34:Nhà nước pháp quyền là gì? So sánh NNPQ tư sản & NNPQ xã hội chủ nghĩa. Phân tich cơ sở
kinh tế, cơ sở chính trị và cơ sở xã hội của NNPQ xã hội chủ nghĩa Việt Nam 86
Câu 35:Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người và về vấn đề giải phóng
con người 88
“Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống biện chứng giữa hai phương

 Những yếu tố ý thức đúng đắn, tiến bộ thì sẽ thúc đẩy các tiến trình vật chất trong xã hội
tiến lên
 Những yếu tố ý thức sai lầm cổ hũ, phản động sẽ kìm hãm sự phát triển của các tiến trình
vật chất trong xã hội
• Vật chất hóa ý thức càng sâu rộng thì sức tác động của ý thức càng lớn
*Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất với ý thức vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Thựctrạng:
_Trướcđổimới:
Kinhtế(vậtchất):
Cơsởvậtchấtkỹthuậtyếukém,cơcấukinhtếnhiềumặtmấtcânđối,năngxuấtlaođộngthấp,sảnxuấtchưađả
mbảonhucầuđờisống,sảnxuấtnôngnghiệpchưacungcấpđủthựcphẩmchonhândân,nguyênliệuchocôngnghiệp,
hànghoáchoxuấtkhẩu.
Chínhtrị(ýthức):
Chúngtachưatìmrađượcđầyđủnhữngnguyênnhânđíchthựccủasựtrìtrệtrongnềnkinhtếcủanướctavàcũ
ngchưađềracácchủtrươngchínhsáchvàtoàndiệnvềđổimới,nhấtlàvềkinhtế,chúngtachưakiênquyếtkhắcphụcch
ủquan,trìtrệtrongbốtrícơcấukinhtế,cảitạoxãhộichủnghĩavàquảnlýkinhtếvàphạmnhữngsailầmtronglĩnhvựcp
hânphốilưuthông.
_Sauđổimới:
Chínhtrị:
Đảngvànhànướcđãđisâunghiêncứu,phântíchtìnhhình,lấyýkiếnrộngrãicủacơsở,củanhândân.vàđặcbi
ệtlàđổimớitưduyvềkinhtế.
ĐạihộilầnthứVIcủaĐảngđãrútrabàihọckinhnghiệmlớn,trongđó:phảiluônxuấtpháttừthựctế,tôntrọng
vàhànhđộngtheoquyluậtkháchquan.Đảngđãđềrađườnglốiđổimới,mởrabướcngoặttrongsựnghiệpxâydựngch
ủnghĩaxãhộiởnướcta.VàđếnĐạihộiđạibiểutoànquốclầnthứVII,tađãđánhgiátìnhhìnhchínhtrịxãhộiViệtNams
4
auhơnbốnnămthựchiệnđườnglốiđổimới:côngcuộcđổimớibướcđầuđãđạtđượcnhữngthànhtựubướcđầurấtqua
ntrọng,tìnhhìnhchínhtrịcủađấtnướcổnđịnh.
Kinhtế:
Nềnkinhtếcónhữngchuyểnbiếntíchcực,bướcđầuhìnhthànhnềnkinhtếhànghoánhiềuthànhphần,vậnđ
ộngtheocơchếthịtrườngcósựquảnlýcủanhànước,nguồnlựcsảnxuấtcủaxãhộiđượchuyđộngtốthơn,đờisốngvật

+ “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”
-Khơi dậy và phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, truyền thống tốt đẹp của dân tộc
+Coi sự thống nhất nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc
Đổi mới
5
+Bồi dưỡng nhiệt tình phẩm chất cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, tài trí
người Việt Nam…
+Coi trọng và đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng HCM…), nâng
cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH và con đường đi lên CNXH…)
+Phổ biến tri thức khoa học – công nghệ cho cán bộ, nhân dân
- Khắc phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, đầu óc bảo thủ, trì trệ trong quá trình Đổi mới
+Kiên quyết ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan duy ý chí; lối suy nghĩ, hành động giản đơn; nóng vội
chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng, bất chấp quy luật hiện thực khách quan
+Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ, thói thờ ơ lãnh đạm…
+Phê phán thói vô trách nhiệm hay đổ lỗi cho hoàn cảnh mà lẫn trốn trách nhiệm cá nhân…
Câu 2. Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên
tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận
dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện
nay ?
Cơ sở lý luận:
Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính
thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau:khi nhận
thức khách thể ( đối tượng ), sự vật,hiện tượng tồn tại trong hiện thực -chủ thể tư duy phải nắm bắt,
tái hiện nó trong chính nó màkhông được thêm hay bớt một cách tùy tiện .
Nguyên tắc khách quan trước nhất thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, ta trong
nhận thức và hành động phải xuất phát từ chính bản thân sự vật với những thuộc tính, những mối
liên hệ vốn có của nó, những quy luật khách quan, phải có thái độ tôn trọng sự thật, không được lấy
ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến
lược, sách lược cách mạng. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc khách quan không có nghĩa là quan
điểm khách quan xem nhẹ, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phát phát huy tính

chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng và luôn chịu sự tác động của các lực
lượng tự phát của tự nhiên lẫn lực lượng tự giác ( ý chí,lợi ích, mục đích, nhân cách, cá
tính khác nhau ) của con người.Ờ đây đối tượng, khách thể tư duy quyện chặt vào chủ
thể tư duy bằng hệ thống những mối liên hệ chằng chịt. Do đó cần phải cụ thể hóa
nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội, tức là phải kết hợp nó với
các yêu cầu phát huy tính năng động, sáng tạocủachủ thể và nguyên tắc tính đảng. Điều này
có nghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu xuất
phát từ chính đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, không được
thêm bớt tùy tiện chủ quan, mà nó còn phải biết phân biệt những quan hệ vật chất với
những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủ quan, thừa nhận
các quan hệ vật chất khách quan tồn tại xã hội là nhân tố quyết định.còn những hiện
tượng tinh thần, tư tưởng được quy định bởi đời sống vật chất củacon người và các quan hệ
kinh tế của họ nhưng chúng có ảnh hưởng ngược lại tồn tại xã hội. Phải coi xã hội là một
là một cơ thể sống tồn tại và phát triển không ngừng chứ không phải là cái gì đó kết
thành một cách máy móc. Phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu
thành một hình thái kinh tế xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy
luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó.
• Khi nhận thức các hiệntượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và
năng lực nhận thứccủa cáclựclượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối
với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình
xã hội ….những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là
những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập
trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy
tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắctính đảng. Việ
c xem thường nguyên tắc này dễ dẫnđến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách
quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức
đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp.
Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của
lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau :

SX và đầu tư thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện khả năng thực
tế ” nên dẫn đến việc SX chậm phát triển, mâu thuẩn giữa cung và cấu ngày càng gay gắt do việc áp dụng
những chính sách, chủ trương trên đã vi phạm những quy luật khách quan của nền kinh tế SX hàng hóa
(quy luật cung cầu quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, phá sản …). Tóm lại, việc bỏ qua không thừa
nhận và vận dụng những quy luật khách quan của phương thức sản xuất, của nền kinh tế hàng hóa vào
việc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế nước ta bị trì trệ khủng hoảng trầm
trọng  nguyên nhân: Đó là sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được
yêu cầu của thực tiễn. Đó là việc hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ý
tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí
còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ
sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan là
kém lý luận, lý luận và lý luật suông.
8
Rút kinh nghiệm từ những sai lầm trên, Đại hội Đảng lần VI (1986) đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm trong
thực tiễn cách mạng ở nước ta là “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy
luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng” (Văn kiện Đại hội Đảng lần VI trang 30). Đây là sự vận
dụng đúng đắn nguyên tắc khách quan, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất và các quy luật khách
quan vốn có của nó trong việc đề ra các chế định, chủ trương, chính sách vào thực tế của công cuộc xây
dựng đất nước ta từ sau ĐH Đảng lần VI
Đại hội Đảng lần VI đã xác định xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn,
không thể làm xong trong một thời gian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật. Văn kiện Đại hội xác
định: "Nay phải sửa lại cho đúng như sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên,
liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc đẩy sự
phát triển của lực lượng sản xuất". Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớn có tính lý luận, hoàn toàn mới
mẻ: "Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ
sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất". Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thành
phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ".
Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, Đảng và Nhà nước đã điều chỉnh lại theo hướng "không bố trí

luận điểm sau đây của C. Má.c:
“ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực
lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành
lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
Gợi ý
Gỉải thích luận điểm
Ở đây, "Vũ khí của sự phê phán" và "lý luận" là khoa học, tư tưởng khoa học, lý luận khoa học,
thuộc phạm trù ý thức, còn "sự phê phán của vũ khí” và "lực lượng vật chất" là hoạt động vật chất, hoạt
động thực tiễn của con người, thuộc phạm trù vật chất. Như vậy, C Mác khẳng định, lý luận khoa học
phải thông qua hoạt động của con người thì mới trở thành lực lượng vật chất.
Phân tích Luận điểm trên tức là làm rõ quan hệ giữa vật chất với ý thức :
Về vật chất, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất: ‘‘Vật chất là phạm trù triết học
dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Còn ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần diễn ra trong đầu óc con người, phản ánh thế giới vật
chất xung quanh, hình thành phát triển trong quá trình lao động và định hình thể hiện ra bằng ngôn ngữ.
Như vậy bản chất của ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con
người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
+ Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn
gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất.
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao, là bộ óc người nên chỉ khi có con người
mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình
phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất, tức vật chất có trước, ý thức có
sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới
khách quan tác động đến bộ óc gây ra hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) đều, hoặc là chính bản
thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện
tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) nên vật chất là nguồn gốc của ý thức.
10
Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các

nguyên lý này là khách quan và phổ biến.
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Mọi sự vật, hiện tượng hay quá trình (vạn vật) trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràng
buộc lẫn nhau. Mối liên hệ tồn tại khách quan, phổ biến và đa dạng.
11
Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ biến.Mối liên hệ phổ
biến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá trình vận động, phát triển của
mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong thế giới.
4.2 Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện
Phát hiện nhiều mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) đang chi phối sự tồn
tại của bản thân sự vật. Sẽ xem xét được sự vật từ nhiều góc độ, từ nhiều phương diện.
Xác định được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào là bên
trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định…; còn những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu
tố, mặt,…) nào là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên,không ổn định…;
Từ những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) bên trong, cơ bản, tất
nhiên, ổn định…sẽ lý giải được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố,
mặt…) còn lại. Qua đó, xây dựng một hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các mối quan hệ, liên hệ (hay
những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…), phát hiện ra quy luật (bản chất) của nó.
Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) chi
phối sự vật.
Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà
trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ (hay
những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) của bản thân sự vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ (…)
bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng… của nó.
Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) của bản
thân sự vật, kịp thời sự dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để phát huy hay hạn chế sự tác
động của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta. Quán
triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ
nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện… trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình.
Nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện

và giữ nguyên các tập đoàn quốc doanh kinh doanh có hiệu quả đồng thời xóa bỏ các tập đoàn, doanh
nghiệp quốc doanh làm ăn kém hiệu quả gây hệ lụy xấu cho toàn bộ nền kinh tế.
Về chính trị:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công
cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chính sách đối nội, đối
ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung
trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội,
tạo điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm
tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống xã hội".
Đảng cộng sản Việt Nam xác định phải ngày càng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực tiễn của
Đảng, Nhà nước phải được xây dựng thành Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội
bằng pháp luật. Nước ta đã và đang xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững
mạnh, từng bước hiện đại hóa xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực.
Đổi mới chính trị thể hiện ở đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, phân cấp lãnh đạo của Đảng, dân chủ hoá
trước hết từ trong Đảng. Đổi mới chính trị, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế. Khi đường lối chính trị,
thiết chế chính trị được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hướng
13
cho phát triển kinh tế. Đồng thời tạo môi trường phát triển về an ninh trật tự để phát triển kinh tế và chính
trị còn đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục những mặt trái do đổi mới kinh tế đưa đến.
Tăng cường quốc phòng an ninh: bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ bảo
vệ an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá.
Về văn hoá, xã hội
Đảng ta coi nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nước.
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Cùng với sự đẩy mạnh phát triển kinh tế, chính trị, Đảng ta chủ trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội coi
đây là một hướng chiến lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta.
Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc.
Bên cạnh đó, gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục.

hoàn thiện hơn; nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện
tượng và giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự phát triển; phát triển vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy
vọt đi theo đường xoáy ốc, dường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện
tính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển.
Tính chất của sự phát triển.Phát triển có tính khách quan; tính phổ biến; tính kế thừa và tính đa dạng,
phong phú.Các tính chất đó của sự phát triển phản ánh tính chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới
đa dạng.
Từ nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, rút ra nguyên tắc phát triển trong nhận thức
và thực tiễn
Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển.
Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận động được hiểu như sự thay đổi
nói chung. “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất,
là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ
trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”.
Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn, do mâu thuẫn trong bản thân sự vật gây ra. Phát triển là một khuynh hướng vận
động tổng hợp của hệ thống sự vật, trong đó, sự vận động có thay đổi những quy định về chất (thay đổi
kết cấu – tổ chức) của hệ thống sự vật theo khuynh hướng tiến bộ giữ vai trò chủ đạo; còn sự vận động có
thay đổi những quy định về chất của sự vật theo xu hướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi những
quy định về lượng của sự vật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xu hướng chủ đạo
trên.
“Hai quan điểm cơ bảnvề sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như lập
lại; và sự phát triển coi như sự thống nhất của các mặt đối lập. Quan điểm thứ nhất thì chết cứng, nghèo
nàn, khô khan.Quan điểm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan điểm thứ 2 mới cho ta chìa khóa của “sự vận
động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”,
của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của “sự chuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự
nảy sinh ra cái mới”.
15
Phát triển như sự chuyển hóa: giữa các mặt đối lập; giữa chất và lượng; giữa cái cũ và cái mới; giữa cái

- Xuất hiện những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, các sự vật hiện tượng không ngừng vận động và phát triển,
nếu ta kìm hãm hoặc lở đi sự vận động phát triển đó sẽ trợ nên lạc hậu , không còn phù hợp dẫn đến
nguy cơ bị đào thải.
- Nếu không tôn trong nguyên tắc phát triển mà cố gắng tác động vào quá trình phát triển tự nhiên của
nó sẽ gậy ra những tác dụng ngược, những hậu quả không đáng có, mang lại những kết quả không
như mong muốn.
16
5.3 Vận dụng nguyên tắc phát triển trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay
Vận dụng của Đảng
Phát triển hình thái xã hội với mục đích cao nhất là trở thành một nước XHCN, cũng giống như tất cả các
nước trên thế giới, Việt Nam đã dần phát triển, trải qua các hình thái kinh tế xã hội từ thấp nhất là “công
xã nguyên thủy” đến các hình thái cao hơn như “chiếm hữu nô lệ”, “phong kiến”, và hiên tại mục tiêu của
Việt Nam là nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN. Tôn trọng nguyên tắc phát triển sẽ giúp Việt Nam
nhanh chóng đạt được sự tiến bộ, đạt được những mục tiêu đề ra, ngày càng rút ngắn khoản cách với các
nước khác trên thế giới.
Phát triển nền kinh tế bao cấp (những năm chiến tranh) thành nền kinh tế thị trường, sau khi kháng chiến
chống Pháp thắng lợi, nước ta bắt đầu xây dựng một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ,váo thời điểm
này mô hình này đã quy tựu những điểm tích cực của nó, biến Việt Nam từ một nền kinh tế lạc hậu, phân
tán nay đã tập trung lại để ổn định và phát triển kinh tế. Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, chúng ta
vẫn tiếp tục xây dựng nền kinh tế tập trung như cũ, kìm hãm sự phát triển của những cái mới tốt hơn đến
năm 1986 cơ chế này vẫn chưa đc xóa bỏ, cho đến khi văn kiện Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ VI
đc ban hành nước ta mới bắt đầu nhận ra sự quan trọng của phát triển và dần hình thành nền kinh tế thị
trường cho đến nay.
Phát triển về nhận thức tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong giai đoạn sau khi thống
nhất đất nước chúng ta đã có một sự lạc hậu về nhận thức trong thời kỳ quá độ, đặc biệt là bệnh chủ quan,
duy ý chí , lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan,đến Đại hội
VII Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm tòi, xây dựng đường lối, xậy dựng mục tiêu và phương
hướng XHCN, Đảng nhận định cần xóa bỏ ngay nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Hiện nay, tư
tưởng của Đảng ta là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.Qua đó, ta có thể thấy, nhận

Câu 6: Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc lịch sử -
cụ thể ? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện
nay.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể là gì?
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển, tức là một hệ thống
các nguyên lý, quy phạm, phạm trù nói về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong toàn bộ
thế giới. Mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình tồn tại trong hiện thực đều được tạo thành từ những yếu tố,
bộ phân khác nhau; có muôn vàn sự tương tác (mối liên hệ, quan hệ) với nhau và với các sự vật, hiện
tượng hay quá trình khác nhau; qua đó nó bộc lộ ra thành những đặc điểm tính chất không giống nhau.
Thêm vào đó, mỗi sự vật, hiện tương hay quá trình đều tồn tại trong tiến trình phát sinh, phát triển và diệt
vong của chính mình; quá trình này thể hiện một cách cụ thể bao gồm mọi sự thay đổi và phát triển diễn
ra trong những điều kiện, hòan cảnh khác nhau, tương tác với những sự vật, hiện tượng hay quá trình khác
nhau, trong những không gian và theo những thời gian không như nhau.
Cơ sở lý luận của nguyên tắc lịch sử - cụ thể bao gồm toàn bộ nội dung của hai nguyên lý là nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển
Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng vai trò xương sống trong
phép duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin khi xem xét, kiến giải sự vật, hiện tượng. Trong hệ
thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất.
Nội dung hai nguyên lý cơ bản như sau:
• Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan
tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
• Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng
khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật).
Phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích
18
Vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể vào thực tế, nhất thiết phải áp dụng phương pháp lịch sử và phương
pháp logic. Phương pháp lịch sử là phương pháp diễn lại tiến trình phát triển của các hiện tượng và các sự
kiện lịch sử với mọi tính chất cụ thể của chúng. Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu quá trình

Nhận biết được những điều đó sẽ giúp ta:
- Có quan điểm đánh giá chính xác đặc điểm cũng như những điểm mạnh, điểm yếu của sự vật đó
- Dễ dàng có phương hướng, hành động đúng đem lại hiệu quả cao.
- Áp dụng những chính sách cụ thể vào tình hình thực tế một cách đúng đắn, mang lại thắng lợi.
19
- Tổng quát được các sự kiện xảy ra trong nghiên cứu khoa học hay các biến cố xảy ra trong các
tiến trình lịch sử nhân loại; nhận thức được tính muôn vẻ của tự nhiên, tính phong phú của lịch sử
trong sự thống nhất.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn được coi là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin. Nó
tổng hợp trong mình những nguyên tắc, quan điểm, yêu cầu mang tính phương pháp luận của triết học
Mác – Lênin, do đó, hiểu theo nghĩa rộng, nó cũng chính là phương pháp biện chứng. Vì thế trong hoạt
động nhận thức và thực tiễn, nếu không tôn trong nguyên tắc lịch sử - cụ thể đồng nghĩa với việc đi ngược
lại với phương pháp biện chứng, tức phương pháp siêu hình:
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các
mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số
lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.
Mà hậu quả của phương pháp siêu hình là làm cho con người chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà
không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà
không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những
sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng.
Tóm lại, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu không tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ thể sẽ mang
lại những hậu quả rất nghiệm trọng, ta sẽ luôn nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách phiến diện, trừu
tượng và sẽ không bao giờ giải quyết được các mâu thuẫn; sẽ không bao giờ có được những phương
hướng, hành động đúng khi giải quyết vấn đề.
(Về hậu quả của việc không vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể do không có tài liệu tham khảo mà tự suy
luận nên cần liên lạc với Thầy để hỏi lại)
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta
hiện nay ?
i. Đảng ta vận dụng như thế nào?

đổi mới ở Việt Nam. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì kinh tế quyết định chính trị "
chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để
thực hiện mục đích kinh tế" . Lênin đã chỉ rõ " Để thoả mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị
chỉ được sử dụng làm phương tiện đơn thuần". Khẳng định đó của Lênin không có nghĩa là phủ nhận vai
trò quyết định của kinh tế đối với chính trị mà muốn nhấn mạnh tác động của chính trị đối với kinh tế.
Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà nó được xem xét giải quyết theo một lập trường
chính trị nhất định. Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị thống nhất biện chứng
với nhau trên nền tảng quyết định của kinh tế.
Sau khi miền Bắc giải phóng và từ sau năm 1975 thống nhất đất nước cả nước ta đã kiên quyết đi theo
con đường XHCN – đây là sự lựa chọn tất yếu và đúng đắn. Tuy nhiên vì không qua giai đoạn TBCN nên
chúng ta gặp nhiều khó khăn và bỡ ngỡ trong công cuộc xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh.
Thêm vào đó khi ta đang trong tình trạng ban đầu của công cuộc đổi mới, một giai đoạn quan trọng mà
chính trị là yếu tố định hướng dẫn đường thì CNXH ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu sụp đổ hàng loạt
đã gay nhiều hoang mang cho Đảng và nhân dân ta. Điều này cũng chứng tỏ rằng đang có nhiều thế lực
phản động không ngừng tìm cách phá hoại, lật đổ chế độ CNXH ở nước ta.
Điều kiện thế giới:
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mặc dù thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp nhưng hoà bình và hợp
tác là xu thế chủ đạo, là đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các quốc gia. Các cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ đạt đựơc những bước tiến vượt bậc đặc biệt trong lĩnh vực tin học, viễn thông, sinh học, vật
liệu mới và năng lượng mới đang đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá cao độ các lực lượng sản xuất dẫn đến
sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc. Như vậy có nghĩa là ngày nay không một nền kinh tế
nào có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Tình hình đó đòi hỏi sự hợp tác ngày càng rộng tạo nên
thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển. Trong lịch sử phát
triển của xã hội có lẽ chưa bao giờ có một sự hợp tác để phát triển rộng rãi đan xen lồng ghép và nhiều
tầng lớp như hiện nay với sự hình thành nhiều tổ chức kinh tế lớn trong khu vực và thế giới như ASEAN,
WTO, AFTA, APEC…
21
Đối với các khu vực, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á châu Á Thái Bình Dương, một khu vực
đựơc coi là có nền kinh tế năng động và có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giói trong những năm gần đây.
Hầu hết các nước trong khu vực như Singapor, Thái Lan, Inđônêxia đều đã tiến hành nền KTTT được

vẫn chưa bước hẳn ra sự khủng hoảng của những năm đổi mới.
Giai đoạn 1991-nay
Giai đoạn này do đã dần điều chỉnh phù hợp với những điều kiện, nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến nền
KTTT nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng kể:
22
Điều đầu tiên cần nói đến là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định. Giai đoạn 1986-1990,
GDP tăng trung bình là 3,9% thì giai đoạn này GDP tăng bình quân 8,2%. Cơ cấu giữa các thành phần
kinh tế và các ngành cũng hợp lý hơn. Hàng loạt công ty, doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong mọi lĩnh
vực ra đời. Dịch vụ thương mại phát triển tưong đối mạnh đã tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá, làm
cho số lượng hàng hoá phong phú hơn và chất lượng không ngừng cải tiến. Giao thông vận tải được chú
trọng và sửa chữa và xây mới nên hàng hoá đã đến được các vùng sâu, vùng xa và miền núi.
Một thành tựu quan trọng hơn nữa là trong điều kiện kinh tế thế giới với sự cạnh tranh rất khốc liệt gây ra
sự phân cực giàu nghèo mạnh mẽ với nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, Đảng ta kịp thời rút
kinh nghiệm và đã có những đường lối, chính sách định hướng cho nền kinh tế phát triển theo định hướng
XHCN, hướng thị trường hàng hóa vào quỹ đạo cạnh tranh lành mạnh cùng phát triển. Chính vì vậy nền
KTTT của ta chẳng những không xảy ra khủng hoảng mà còn tránh được ảnh hưởng tiêu cực từ những
cuộc khủng hoảng ở các nước trong khu vực và thế giới cụ thể là cuộc khủng hoảng tiền tệ vào năm 1997.
Tuy nhiên nền kinh tế nước ta so với khu vực và thế giới vẫn là một nền kinh tế kém phát triển và cần có
nhiều biện pháp để phát triển để theo kịp các nước khác.
KTTT đã ra đời và phát triển qua nhiều giai đoạn và cho đến nay nó vẫn là kiể kinh tế xã hội tiến bộ nhất.
Trải qua các giai đoạn phát triển, KTTT ngày càng được hoàn thiện và được áp dụng trên nhiều quốc gia.
Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam mặc dù mới ra đời cách đây hơn một thập kỷ nhưng cũng đã
trải qua nhiều thăng trầm, không ngừng vận động và luôn biến đổi dưới sự tác động của nhiều yếu tố cả
bên ngoài lẫn bên trong bản thân của nền kinh tế. Các yếu tố này vừa không ngừng có ảnh hưởng đến sự
phát triển của nền KTTT vừa chịu sự tác động của chính nền KTTT đó. Như vậy trải qua mỗi giai đoạn
lại hình thành nên những yếu tố mới khiến cho công cuộc xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải có sự phân tích kỹ lượng chi tiết kịp thời từng yếu
tố. Chính vì vậy quan điểm lịch sử cụ thể luôn là quan điểm gắn liền với quá trình xây dựng nền KTTT
định hướng XHCN ở Việt Nam.
ii. Chúng ta vận dụng như thế nào?

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thường xuyên
đổi mới công nghệ để hạ chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn vậy phải đẩy mạnh công tác
nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học vào quá trình lưu thông hàng hoá.
So với thế giới trình độ công nghệ sản xuất của nước ta là còn thấp kém, không đồng bộ do vậy khả năng
cạnh tranh của hàng hoá chúng ta ở trong nước và ở nước ngoài là còn kém. Bởi vậy để phát triển kinh tế
hàng hoá chúng ta cần phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đại, đồng bộ cũng đóng vai trò quan trọng cho sự phát
triển kinh tế xã hội. Hệ thống đó ở nước ta đã quá lạc hậu, không đồng bộ mất cân đối nghiêm trọng nên
đã cản trở nhiều đến quyết tâm của các nhà đầu tư trong cả nước lẫn nước ngoài, cản trở phát triển hàng
hoá ở mọi miền đất nước. Vì thế cần gấp rút xây dựng và củng cố các yếu tố của hệ thống kết cấu đó.
Trước mắt, Nhà nước cần tập trung ưu tiên xây dựng nâng cấp một số yếu tố thiết yếu như đường sá, cầu
cống, bến cảng, sân bay, điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, ngân hàng dịch vụ bảo hiểm…
Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính tiền tệ
giá cả.
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để phát triển, nó là điều kiện để các nhà sản xuất
kinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư. Giữ vững ổn định chính trị ở nước ta hiện nay là
giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà
nước, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân.
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Nó tạo nên hàng lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong
và nước ngoài. Với hệ thống pháp luật đồng bộ và pháp chế nghiêm ngặt, các doanh nghiệp chỉ có thể làm
giàu trên cơ sở tuân thủ pháp luật.
Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ, giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển, huy động và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, giảm lạm pháp nhằm đưa nền
kinh tế ổn định hơn.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ quản lý kinh tế và các nhà
kinh doanh giỏi:
Hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô phải được kiện toàn, phù hợp với nhu cầu kinh tế thị trường, bao gồm

bất động sản, thị trường vốn…Bổ sung, điều chỉnh bộ luật thuế tránh chống chéo khuyến khích đầu tư
trong nước, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cá nhân, xây dựng bộ luật thương mại, luật ngân
sách, luật hành chính Nhà nước…Cải cách gắn liền với đổi mới kinh tế là một nhân tố quyết định đảm
bảo nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, bền vững ở nước ta.
Đổi mới cơ chế quản lý và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đồng thời xác định lại mục tiêu chiến lược
phát triển kinh tế xã hội phù hợp với kinh tế xã hội của nước ta trong thời đại ngày nay.
Những giải pháp nói trên tác động qua lại với nhau sẽ tạo nên sức mạnh thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá
của nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về phần vận dụng: chủ yếu là vận dụng về phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
mọi người có thời gian thì viết thêm, còn không thì chỉ cần ghi các ý chính.
Câu 7: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác –
Lênin; Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
 Phạm trù thực tiễn:
25

Trích đoạn Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mớ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975 Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sảnxuất Chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status