xây dựng phương pháp đo tương tác thụ thể và phối tử đặc hiệu không sử dụng phóng xạ phục vụ định hướng phát triển thuốc ở việt nam - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Anh Lƣơng
XÂY DỰNG PHƢƠNG PHÁP ĐO TƢƠNG TÁC THỤ THỂ VÀ
PHỐI TỬ ĐẶC HIỆU KHÔNG SỬ DỤNG PHÓNG XẠ PHỤC VỤ
ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN THUỐC Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

2.2.1. Quy trình chiết xuất dịch chiết methanol 37
2.2.2. Thu thụ thể màng 37
2.2.3. Xác định nồng độ protein sử dụng phƣơng pháp Bradford 38
2.2.4. Phƣơng pháp elisa để xác định lƣợng phối tử gắn fluorescein 39
2.2.5. Quy trình thí nghiệm liên kết (binding assay) 39
2.2.6. Phản ứng tƣơng tác giữa các phối tử đã biết và dịch chiết với thụ thể đích 40
2.2.7. Phƣơng pháp xử lý kết quả 40
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
3.1. Xác định nồng độ protein thu đƣợc từ gan chuột 41
3.2. Tối ƣu phản ứng ELISA 43
3.3. Tối ƣu nồng độ protein thụ thể trong phản ứng liên kết 45
3.4. Thí nghiệm liên kết thụ thể - phối tử đặc hiệu (thí nghiệm bão hòa) 46
3.5. Phả ứng cạnh tranh của F-AT II với các phối tử đã biết 47
3.6. Nghiên cứu sàng lọc một số dịch chiết thực vật 48
Chƣơng 4. KẾT LUẬN 53
KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55



MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và
phong phú trên thế giới với hơn 13.200 loài thực vật và khoảng 10.000 loài động vật
đã được xác định, với nhiều nhóm loài sinh vật có tính tính đặc hữu cao, có giá trị
khoa học và thực tiễn lớn.
Xuất phát từ nền văn hóa đa dạng bản sắc với rất nhiều dân tộc sống trải dài
trên khắp lãnh thổ với các điều kiện tự nhiên và lịch sử riêng đã hình thành nên một
nền Y học cổ truyền với lịch sử lâu đời hàng nghìn năm, với rất nhiều kinh nghiệm
trong sử dụng thuốc trong đời sống. Việc dùng thuốc trong nhân dân đã có từ rất lâu
đời, tích lũy dưới dạng kinh nghiệm, thường chỉ được truyền miệng qua nhiều thế
hệ. Hơn 3800 bài thuốc đã được sưu tầm lại, cùng với hàng nghìn bài thuốc lưu
truyền trong dân gian, đặc biệt là trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên,
rất nhiều các bài thuốc và các nguyên liệu làm thuốc như vậy vẫn chưa được nghiên
cứu cơ chế tác động cũng như cơ sở khoa học vẫn chưa được xác định.
Có nhiều phương pháp nghiên cứu sàng lọc các hợp chất có hoạt tính sinh
học trong phát triển thuốc trên thế giới, trong đó phổ biến là phương pháp sử dụng
đồng vị phóng xạ (như
3
H,
125
I) để nghiên cứu trên các đích phân tử của thuốc. Tuy
nhiên, những phương pháp này chưa được áp dụng trong điều kiện Việt Nam với
nguyên nhân chính là hầu hết các phòng thí nghiệm sinh dược học của ta thiếu trang


3

Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về dƣợc lý phân tử
Dược lý phân tử (molecular pharmacology) là môn khoa học nghiên cứu về
tương tác của thuốc lên cơ thể sống ở cấp độ phân tử và tế bào, và gồm hai phân
môn chính là dược động học (pharmacokinetics) và dược lực học
(pharmacodynamics).
Dược lý phân tử bao gồm nhiều lĩnh vực nghiên cứu về tác dụng của phân tử
thuốc đến toàn bộ cơ thể. Dựa vào những hiểu biết về hóa sinh, sinh lý, bệnh học,
sinh học phân tử và hóa hữu cơ để thấy rõ tác dụng của thuốc ở mức độ phân tử đưa
đến áp dụng trong điều trị. Qua dược lý phân tử, chúng ta có thể hiểu sâu sắc cơ chế
phân tử tác dụng của thuốc, phát hiện thuốc mới, đề xuất những hướng dẫn sử dụng
thuốc an toàn, hiệu quả trong điều trị hoặc ngăn chặn những phản ứng có hại của
thuốc khi sử dụng. Nội dung chủ yếu của dược lý phân tử là dược lý học về tác
dụng của thuốc ở mức dưới tế bào [2].
Dược lý phân tử thể hiện ở nhiều giai đoạn của phân tử thuốc trong cơ thể,
hiện nay dược lý phân tử được nghiên cứu với các hướng chính đó là:
1) Nghiên cứu tác dụng thuốc lên màng tế bào
2) Nghiên cứu hóa sinh dược lý phân tử đối với thụ thể màng tế bào
3) Nghiên cứu hóa sinh dược lý phân tử đối với enzym tế bào
4) Nghiên cứu hóa sinh dược lý phân tử trên gen

1.2. Các đích tác dụng của thuốc
Theo phân tích của Overington và cộng sự [38] hơn 21.000 sản phẩm thuốc
lưu hành trên thị trường Mỹ, có nguồn gốc từ 1357 thuốc dưới các dạng thành phần,
các dạng muối, vitamin. Trong đó có 1204 các thuốc phân tử nhỏ, và 166 thuốc sinh
học. Khoảng 27% các thuốc này liên quan tới thụ thể kết cặp G protein, 13% tới thụ
thể nhân, 7,9% tới các thụ thể liên kết với kênh ion (hình 1.1) [38].


thụ thể xuyên màng kích thích G protein, từ đó điều khiển một chất truyền tin thứ 2
trong tế bào.

Hình 1.2. Các cơ chế truyền tín hiệu cơ bản. Cơ chế thứ nhất (1) Một phân tử tín hiệu
(phối tử) hóa học hòa tan trong lipid đi qua màng sinh chất và tác động lên các thụ thể nội bào (mà
có thể là một enzym hoặc một yếu tố điều hòa sự phiên mã của gen). (2) Phân tử tín hiệu liên kết
với miền ngoại bào của một protein xuyên màng, qua đó kích hoạt hoạt tính enzym của miền nội
bào của protein này. (3) Phân tử tín hiệu liên kết với miền ngoại bào của một thụ thể liên kết xuyên
màng với một protein kinase, làm kích hoạt protein kinase này. (4) Phân tử tín hiệu liên kết và trực
tiếp điều khiển việc mở một kênh ion. (5) phân tử tín hiệu liên kết với một thụ thể bề mặt tế bào mà
liên kết với một enzym tác động bởi một G protein. (A, C: cơ chất; B, D: sản phẩm; R: thụ thể; G:
G protein; E: tác động (enzym hoặc kênh ion); Y: tyrosine; P: phosphate). (Nguồn: Katzung,
2007)
Các đích phân tử chính của phần lớn các dược phẩm hiện nay bao gồm các
nhóm được nêu ở các mục dưới đây [48]:
1.2.1. Thụ thể kết cặp G protein (GPCR)
Hơn 26% các thuốc được bán trên thị trường có liên quan tới nhóm thụ thể
này; đây là nhóm thụ thể phổ biến được biểu hiện trên bề mặt của nhiều loại tế bào.
Protein liên kết vào màng tế bào thông qua 7 lần xuyên màng, do đó còn được gọi
với tên khác là thụ thể 7 lần xuyên màng (hay 7TM). Các G protein là các phân tử
kết cặp với loại thụ thể này để truyền tín hiệu được sinh ra sau khi phối tử (hay chất
gắn đặc hiệu) liên kết vào thụ thể rồi truyền tín hiệu vào trong tế bào. Hệ gen người
có hơn 1000 gen mã hóa cho các GPCR, trong đó ước tính có khoảng 400 GPCR có
6

tiềm năng là các đích tác dụng của các loại thuốc. Các nghiên cứu về vai trò, chức
năng của các thụ thể GPCR vẫn đang tiếp tục được triển khai và phát triển.
1.2.2. Các thụ thể nhân (NR)
Các thụ thể này liên kết với các phối tử bên trong tế bào và về số lượng có lẽ ít

thư bởi vì các tế bào sinh trưởng phụ thuộc vào các yếu tố tăng trưởng bên ngoài là
một kết quả của các enzym kinase đặc hiệu trở nên hoạt hóa thường xuyên. Việc ức
chế protein kinase hiện nay là một hướng lớn trong tìm kiếm thuốc phân tử nhỏ.
1.2.6. Các protein phosphatase
Đây là những enzym có vai trò xúc tác các phản ứng ngược chiều so với các
enzym kinase, chúng loại bỏ nhóm photphat của protein. Đây cũng là một cơ chế
quan trọng để truyền tín hiệu tế bào, vì nó hoạt động như một “công tắc đóng” để
điều khiển các quá trình quá mức trong tế bào.
1.2.7. Các enzym khác
Các họ protein và enzym được liệt kê trên tạo nên phần lớn các đích tác dụng
của thuốc hiện nay. Ngoài ra còn các enzym khác, có thể kể đến các chất ức chế
HMG-CoA reductase (được biết như là các statin) làm giảm cholesterol và các chất
ức chế phosphodiesterase (PDE), trong đó Viagra là một ví dụ được biết nhiều nhất.
1.2.8. Các kênh ion
Các ion là những nguyên tử hay phân tử tích điện. Các ion kim loại, như Ca
2+
,
Na
+
và K
+
, đóng vai trò thiết yếu trong nhiều quá trình sinh lý của cơ thể. Các ion
đi qua các lỗ trên màng tế bào còn được gọi là các kênh ion. Hai loại kênh ion chính
được biết là các kênh ion được đóng mở bởi phối tử và kênh ion được đóng mở bởi
điện thế (ligand-gated and voltage-gated ion channels.). Mỗi kênh có tính chọn lọc
cho một ion đặc trưng và cho phép các ion qua màng từ ngoài vào trong hoặc ngược
lại. Sự di chuyển của ion trong hoạt động của các tế bào thần kinh và liên quan tới
các điều kiện như động kinh, đau và rối loạn nhịp tim. Đó là những điều đáng quan
tâm nhất của các kênh ion là đích của thuốc, với một số các thuốc quan trọng được
lưu hành trên thị trường.

sinh của chúng có thể là các chất tín hiệu monoamine (epinephrine, acetylcholine,
9

serotonin, histamine, dopamine), lipid (các prostaglandin, các lipid nội sinh) các
peptid thần kinh (neuropeptide Y, cơ chất P, cholecystokinin, các opioid và các
hoócmôn peptide (glucagon, angiotensin, bradykinin) cũng như các protein nhỏ (các
chemokine) và các protein lớn (các hoocmon glycoprotein, thrombin). Tất cả các
GPCR chuyển các tín hiệu của chúng vào bên trong tế bào thông qua sự tương tác
với các G protein dị hình. Thêm vào đó, các protein giác quan quan trọng như thụ
thể rhodopsin và các thụ thể khứu giác cũng thuộc họ này. Kích thước của các loại
GPCR rất khác nhau, từ ít hơn 300 axit amin như thụ thể adrenocorticotropin, tới
hơn 1100 axit amin đối với các thụ thể metabotropic glutamate. Các thụ thể với các
biến đổi sau dịch mã khác nhau như glycosyl hóa, thường dẫn đến khối lượng phân
tử cao hơn so với các trình tự axit amin ban đầu. Các biến đổi khác bao gồm cầu
disulfide và palmitoyl hóa ở các vị trí đặc biệt. Đa số các GPCR được phân loại
bằng các trình tự tương đồng ban đầu và các họ phụ được đặt tên bằng những đặc
điểm đặc trưng nhất của các thành viên. Trong khi mức độ tương đồng thấp chỉ
được tìm thấy ở các đoạn vòng, thì các đoạn xoắn xuyên màng 7 lần có 20 - 25 axit
amin kỵ nước ở mức độ bảo thủ cao [6].
Cơ chế kinh điển hoạt động chức năng của GPCR được xác định bởi sự kết
cặp của chúng với các protein liên kết với nucleotide guanine (G protein) [9].
Thông thường, một GPCR ở trạng thái nghỉ ngơi hay ái lực thấp khi thiếu các
chất chủ vận (agonist). Sự liên kết của một chất chủ vận tới một thụ thể kích thích
một sự biến đổi trong cấu trúc của thụ thể và hình thành một phức hệ với các G
protein nội bào (hình 1.3). G protein dị hình có chứa một tiểu phần liên kết với
màng là G
α
và các tiểu phần di động là G
β
và G

A: chất chủ vận (agonist) hoặc đối vận (antagonist). DAG: diacylglycerol. PI3Kγ: phosphoinositide
3-kinase-γ. PLCβ: phospholipase Cβ. PKA, PKC: protein kinase A và C. (Nguồn: Birnbaumer,
1990).
Sau khi GPCR và G protein tương tác (kết cặp), GDP được giải phóng và
được thay thế bởi GTP, sau đó tiểu phần G
α
được phân ly từ phức G
βγ
. Cả hai tiểu
phần G
α
và phức kép G
βγ
có thể hoạt hóa các phân tử gây ra đáp ứng nội bào. Ví dụ
G
α
có thể hoạt hóa enzym adenyl cyclase, dẫn đến làm tăng lượng cAMP; phân tử
này đến lượt nó làm giảm hoạt tính protein kinase A (PKA). PKA là một enzym
serine-threonine kinase có chức năng photphoryl hóa, qua đó hoạt hóa nhiều yếu tố
phiên mã, các kinase và các thụ thể GPCR khác.
Các chất truyền tin thứ 2
PLCβ, DAG, Ca
2+
, PKA, PKC
Các đáp ứng tế bào
Angiogenesis, ung thư, phát triển,
biệt hóa
Các chất truyền tin thứ 2
PLCβ, DAG, Ca
2+

hoạt hóa GTPase cho G
αs

G
αo1f

Tương tác kênh Ca
2+
; kích hoạt c-Src tyrosine kinase
G
αi

Ức chế adenylyl cyclase; kích hoạt c-Src tyrosine kinase
G
αo

Hoạt hóa kênh K
+
; tăng K
+
dẫn đến phân cực quá mức
G
αz

Giao tiếp tế bào thông qua Rap1GAP1
G
α12

Hoạt hóa yếu tố Rho
G


liên kết G protein (GIRK). G
αq
gây ra hoạt hóa phospholipase C và G
a12
hoạt hóa
các yếu tố trao đổi guanidine nucleotide của Rho (Rho GEFs). Phức kép G
βγ
có thể
12

độc lập hoạt hoá các kênh GIRK, adenylyl cyclase và các phospholipase. Các chức
năng khác của các tiểu phần G protein được nêu trên bảng 1.1 [32].
1.3.2. Thụ thể kết cặp G protein là đích của tìm kiếm thuốc
Khoảng 25% tổng số thuốc tân dược đang được sử dụng rộng rãi trong điều trị
hiện nay có đích tác động là các GPCR; điều này làm cho GPCR trở thành các đích
phổ biến nhất trong việc tìm thuốc trong công nghiệp dược dẫn đến sự phát triển
của các loại thuốc bán chạy trên thị trường hiện nay bao gồm salmeterol,
olanzapine, clopidrogel, losartan và risperidone. Chúng và các thuốc khác nhắm vào
đích là các GPCR được dùng để điều trị nhiều trạng thái bệnh khác nhau tác động
lên hệ tim mạch và hệ thần kinh trung ương, hệ tiêu hóa và các chức năng tiêu hóa
cũng như ung thư, đau, và dị ứng.
Rất lâu trước khi chúng ta hiểu về các hoạt tính hóa học và phân tử của các
GPCR, con người đã sử dụng các sản phẩm tự nhiên của cà độc dược, của lúa mạch
và thuốc phiện từ các nguồn khác nhau của thực vật để tìm ra các tác động dược lý
ở các đích chưa biết để điều trị một số bệnh tật. Cho đến đầu thế kỷ 20, ý tưởng về
thụ thể được đặt ra khi Paul Ehrlich chỉ ra rằng các cơ chất thuốc có thể tương tác
với thụ thể hóa học (chemoreceptor) đơn lẻ và tạo ra các tác động dược lý. Các nhà
dược lý học hàng đầu khác bao gồm Henry Dale, Otto Loewi, R.P. Ahlquist, và
James Black đã có công trong việc miêu tả hoạt động của các hợp chất ở các thụ thể

Angiotensin II tác động trực tiếp trên tiểu cầu (zona glomerulosa) của vỏ thượng
thận để kích thích sinh tổng hợp aldosterone. Ở nồng độ cao hơn, angiotensin II
cũng kích thích sự sinh tổng hợp glucocorticoid. Angiotensin II hoạt động trên thận
gây co mạch thận, tăng tái hấp thu natri ở ống lượn gần, và ức chế tiết renin.
Angiotensin II còn là yếu tố phân chia tế bào cho các tế bào cơ tim mạch và tim và
có thể đóng góp vào sự phát triển của phì đại tim mạch. Nó cũng tạo nên một loạt
các hiệu ứng quan trọng về nội mô mạch máu [28].
Angiotensin II bị suy biến thành angiotensin III bởi các enzym angiotensinase
có trong các tế bào hồng cầu và các mạch máu ở hầu hết các mô. Nó có thời gian
14

bán hủy ngắn trong khoảng 30 giây, trong khi đó, trong mô, nó có thể dài 15-30
phút.

Hình 1.4. Hệ renin – angiotensin – aldosterone.
(Nguồn http://en.wikipedia.org/wiki/Angiotensin_II_receptor)
1.4.1. Thụ thể angiotensin II
Thụ thể angiotensin II làm trung gian tác động của hệ thống renin –
angiotensin, đóng vai trò quan trọng trong sinh lý (bệnh) tim mạch. Có 4 loại thụ
thể angiotensin II đã biết, trong đó thụ thể AT
1
và AT
2
là quan trọng nhất. Sự kích
thích của các thụ thể AT
1
dẫn đến một loạt các con đường tín hiệu trong một số loại
tế bào, mà cuối cùng dẫn đến quá trình như co mạch, viêm và phát bệnh. Các quá
trình này rất quan trọng trong nhiều bệnh liên quan tim mạch khác nhau, bao gồm
cao huyết áp, xơ vữa động mạnh và phì đại tâm thất.

.
Sơ đồ tổng quát truyền tín hiệu sau khi kích thích của thụ thể AT
1
được biểu
diễn trong hình 1.5. Khi chất chủ vận angiotensin II liên kết với thụ thể AT
1
, dẫn
đến sự thay đổi cấu hình của thụ thể AT
1
, điều này dẫn đến không kết cặp G
q
-
protein [35]. Điều này tăng cường sự hoạt động của phospholipase C (PLC) tạo ra
sự sản sinh của 1,4,5-inosioltriphosphate (IP
3
) và diacylglycerol (DAG). Cả IP
3

DAG đều có thể làm tăng nồng độ canxi nội bào. IP
3
giải phóng canxi từ các
khoang nội bào và DAG dẫn đến sự đi vào trong tế bào của canxi ngoại bào, bằng
sự kích thích protein kinase C (PKC). Canxi nội bào tăng lên sẽ làm co của các tế
bào cơ trơn thành mạch.
Thụ thể AT
1
cũng điều khiển các tyrosine kinase mà cần thiết cho các tác động
tăng trưởng của angiotensin II [8]. Các tyrosine kinase có thể là nguyên nhân của
phosphryl hóa của một số phân tử tín hiệu, dẫn đến hoạt hóa của các enzym kinase
của protein hoạt hóa phân chia (MAP-mitogen-activated protein). Các MAP kinase,

1
dẫn đến sự hoạt động một loạt các enzym truyền tín hiệu, dẫn đến sự giảm
nitric oxide và tăng oxidized LDL, NF-κB, các yếu tố phiên mã gen và canxi nội
bào. Tùy thuộc vào các điều kiện vị trí, điều này dẫn đến co mạch, tăng tính
↑ Ca
2+
nội bào

↑ các yếu tố phiên mã
gen (c-fos, c-myc, c-jun)

Co mạch, viêm,
gây đông máu,
tăng sinh

Tăng vữa
động mạch
Viêm và phân chia
Co mạch
Sinh trƣởng các phân
chia

17

atherogenicity (xơ vữa), viêm. Những quá trình này quyết định đến các trạng thái
khác nhau của chứng xơ vữa động mạch và cũng quan trọng trong cao huyết áp, phì
đại tâm thất trái, suy tim mãn tính.
1.4.1.2. Thụ thể AT
2


. Do đó, ức chế tác dụng của thụ thể AT
1

trong sinh trưởng tế bào [34]. Thụ thể AT
2
cũng có khả năng cảm ứng NF-κB,
thông qua việc sản xuất nội bào ceramide và ROS [24]. Các tác động của thụ thể
AT
2
trong sản xuất cGMP vẫn còn gây tranh cãi.
18 Hình 1.6. Sơ đồ tổng hợp con đƣờng truyền tín hiệu của thụ thể AT
2
.
AT2r : Thụ thể Angiotensin II type 2; BK : Bradykinin một trong những kinin huyết tương là
trung gian hóa học, có vai trò trong phản ứng viêm (gây giãn mạch, tăng tính thấm mao mạch, và
gây đau); cGMP : GMP vòng; MAP : Protein hoạt hóa phân bào; NF-kB : Yếu tố nhân κB; NO :
Nitric oxide; PP2A : Serin/threonin phosphatase 2A; PTP : Phosphotyrosine phosphatase; ROS :
Các các gốc oxi phản ứng. (Nguồn : Ruiz-Ortega, 2000).
Một số nghiên cứu trên các động vật mô hình đã chỉ ra rằng AT
2
có khả năng kích
thích con đường bradykinin/NO-cGMP, dẫn đến gây giãn mạch [12]. Tuy nhiên,
cho đến nay con đường này vẫn chưa được chứng minh trong hệ mạch của người.
Đưa ra những đặc điểm này, các angiotensin II type 1 receptor blocker (ARBs-
các thuốc chẹn thụ thể) có thể điều trị hiệu quả các bệnh đã được chỉ ra ở trên.
ARBs không chỉ làm việc bằng các làm giảm những tác động có hại của thụ thể
Viêm

chuyển hóa thành angiotensin II. Trong khi đó các thuốc chẹn thụ thể angiotensin II
(ARB) cạnh tranh vị trí liên kết của angiotensin II tại thụ thể của nó. Các thuốc ức
chế men chuyển có các tác dụng phụ đó là: tăng kali máu, qua đặc tính giảm tiết
aldosterone của ức chế men chuyển. Hạ đường huyết do đặc tính nhạy cảm với
insulin của ức chế men chuyển. Tương tác với erythropoietin, ức chế men chuyển
có thể ngăn cản một phần hoạt tính của erythropoietin, do đó làm thiếu máu. Suy
giảm chức năng thận. Ho và co phế quản, đặc điểm là ho khan, từng cơn thường vào
buổi tối kèm cảm giác ngứa ở cổ họng.
Thuốc chẹn thụ thể angiotensin II đẩy angiotensin II ra khỏi thụ thể AT
1
do đó
làm mất tác dụng của angiotensin II làm hạ huyết áp, đồng thời trong khi nồng độ
angiotensin II tăng cao trong tuần hoàn làm chúng tác động lên đích thụ thể AT
2
,
20

gây ra tác dụng hạ huyết áp theo con đường thụ thể này. Do nguyên nhân là ngoài
còn đường men chuyển, angiotensin I còn có thể chuyển thành angiotensin II qua
đường men chymase và vài đường khác; do đó thuốc chẹn thụ thể angiotensin II sẽ
ngăn chặn angiotensin II hoàn toàn hơn so với ức chế men chuyển. Đồng thời có ít
các tác dụng phụ hơn [4].
1.5. Các phƣơng pháp nghiên cứu tƣơng tác thụ thể và phối tử
1.5.1. Tương tác phân tử thụ thể và phối tử
Nhiều quá trình sinh hóa, thiết yếu cho hoạt động chức năng và tồn tại của tế
bào và cơ thể, được điều khiển bởi hormone, các chất dẫn truyền thần kinh,
cytokine và các phân tử truyền tin khác. Sự điều hòa bắt nguồn bởi sự tương tác của
các phân tử được tìm thấy trong tự nhiên với các thụ thể có trên màng tế bào hoặc
có ở trong tế bào chất hoặc nhân tế bào.
Trong các thí nghiệm in-vitro, thụ thể được sử dụng với các mục đích khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status